VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH DŨNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KINH TẾ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MẠNH DŨNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KINH TẾ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 60 30 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
- Huyện ủy, UBND huyện Ba Vì, phòng kinh tế và một số phòng ban
khác của huyện đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp tài liệu và hỗ trợ tôi trong
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn tới các tổ chức, cá nhân, bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này./.
Tác giả Luận văn
Nguyễn Mạnh Dũng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH KINH TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ....................... 8
1.1.Những vấn đề lý luận về chính sách kinh tế trong xây dựng nông
thôn mới ............................................................................................... 8
1.2. Tổng quan về chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới. .... 15
1.3. Giải pháp và công cụ chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới . 25
1.4. Kinh nghiệm một số địa phương về thực hiện Chính sách Kinh tế
trong xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam ...................................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 33
2.1. Đặc điểm kinh tế, xã hội, tự nhiên của huyện Ba Vì ......................... 33
2.2. Kết quả thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới
huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội........................................................ 34
2.3.Đánh giá việc thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn
CNH:
Công ghiệp hóa
HĐH:
Hiện đại hóa
HTX:
Hợp tác xã
QSDĐ:
Quyền sử dụng đất
DĐĐT:
Dồn điền đổi thửa
GPMB:
Giải phóng mặt bằng
UB MTTQ:
VLXD:
KH:
XDCB:
định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 của Chính phủ thống nhất nhận thức, hành
động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc
gia về xây dựng nông thôn mới, bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng. Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp,
nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ
của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là “Tiếp tục triển khai chương
trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vũng theocác bước
1
đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa
bản sắc của nông thôn Việt Nam”.
Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây
dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phưomg trên cả nước,
thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội.
Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện. Kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu
buôn bán và phát triển sản xuất; kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng
tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có
hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật
chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và
tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội được giữ vững, vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ
phát triển nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì là phù hợp với yêu cầu
thực tế khách quan.
Do vậy tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách kinh tế trong xây
dựng nông thôn mới từ thực tiễn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” làm đề
tài luận văn Thạc sỹ - chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể thấy rằng xây dựng nông thôn mới đang nhận được sự quan tâm
của dư luận không chỉ trong nước mà cả các tổ chức quốc tế vì đó có thể được
coi là chính sách tổng hợp đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Có nhiều cuốn sách, bài viết, đề án về xây dựng nông thôn mới, về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn, hoặc chính sách kinh tế trong xây dựng nông
thôn mới đã được công bố như:. Phạm Tất Thắng - Phó Tổng Biên tập Tập
chí Cộng sản “Việt Nam xây dựng nông thôn mới và một số vấn đề đặt ra”;
Tạp chí NTM mới phát hành 3 kỳ/tháng, “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
3
thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Sinh Cúc, NXB Thống kê (2003); Công trình:
“Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam” của Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang do NXB Chính trị
Quốc gia ấn hành năm 1996 đã luận giải nhiều nội dung liên quan đến chủ đề
nghiên cứu như khái niệm về chính sách các nội dung của chính sách kinh tế
và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới
và những tác động của chính sách… Học viện Hành chính có “Giáo trình
quản lý nhà nước về nông nghiệp và nông thôn” do Phạm Kim Giao chủ biên.
Sách chuyên khảo “Một số vấn đề cơ bản về nông nghiệp, nông thôn và nông
dân” do Hoàng Sỹ Kim & Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên - Sách chuyên khảo
“Xây dựng nông thôn mới. Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Vũ Văn
Phúc chủ biên. - Sách chuyên khảo “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong
- Các chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới hiện nay.
- Thực tiễn triển khai, thực hiện các chính sách đó trên địa bàn huyện Ba Vì.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tại huyện Ba Vì, nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách
kinh tế trong xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 đến nay và đề ra giải pháp
hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực hiện chính sách kinh tế trong xây
dựng nông thôn mới trong thời gian tới. Thời gian nghiên cứu: Tháng 1/2011
đến tháng 5/2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội
và vận dụng các phương pháp trong nghiên cứu Chính sách công về chu trình
chính sách từ khâu hoạch định, xây dựng đến thực hiện và đánh giá chính
sách theo chương trình giảng dạy của học viện Khoa học xã hội.
5
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề
tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội và huyện Ba Vì; các công trình nghiên
cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ
chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách kinh tế
trong xây dựng nông thôn mới của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Các phương pháp cụ thể khác: Phương pháp phân tích, tổng hợp;
phương pháp logic và lịch sử kết hợp với phương pháp xã hội học, thống kê,
so sánh, tổng kết thực tiễn trên cơ sở những tài liệu, tư liệu, báo cáo kết luận...
của địa phương và cả nước; kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Những vấn đề lý luận về chính sách kinh tế trong xây dựng
nông thôn mới
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về chính sách công
Lịch sử chính sách công được xuất hiện cùng với sự ra đời của nền dân
chủ Hy Lạp, tuy nhiên khoa học chính sách công mới bắt đầu phát triển vào
những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX (Howlett, 2008). Khi đó các nhà
khoa học chính trị bắt đầu chuyển trọng tâm nghiên cứu từ triết học chính trị
sang nghiên cứu thể chế, tổ chức Nhà nước, các hoạt động của Chính phủ, dân
chủ tư sản. Trong một nghiên cứu mang tên Public policy Theories Models
and Concepts: An Anthology (1995), Daniei McCooi cho rằng chính Charles
Merriam là cha đẻ ngành nghiên cứu chính sách công khi ông cố gắng kết hợp
giữa lý thuyết và thực tiễn của ngành chính trị học nhằm tìm hiểu về các hoạt
động thực sự của Chính phủ và ông gọi đó là Public policy (Chính sách công).
Thomas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công, ‘chính
sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm’. Ở Việt Nam
PGS.TS Lê Chi Mai (Học Viện Hành chính Quốc gia) đã tổng kết: Chủ thể
ban hành chính sách công là Nhà nước nên có thể coi đây là chính sách của
Nhà nước. Tại Việt Nam chính sách công là do Nhà nước CHXHCN Việt
Nam (chủ yếu là Chính phủ) đề ra. Các chính sách này là sự cụ thể hoá đường
lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam
nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân thể hiện ở những quyết định hành động, là
kết quả của các quyết định của Chính phủ, các quyết định này nhằm duy trì
9
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống
vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao..theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Những đặc trưng xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao
gồm: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao; Nông thôn phát triển theo quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản
sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; An ninh tốt, quản lý dân chủ;
Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
1.1.1.5. Khái niệm Chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới
Chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới là loại chính sách
kinh tế nhằm vào phát triển các nội dung kinh tế trong quá trình xây dựng
nông thôn mới. Các nội dung kinh tế này được xác định trong các chương
trinh, kế hoạch, đề án phát triển nông thôn mới với các tiêu chí, chỉ tiêu cho
mỗi giai đoạn. Hội nghị lần thứ bảy Đan Chấp hành Trung ương khóa X đã
ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05-8-2008 về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, trong đó xác định "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân
trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở
nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường". Chính phủ đã ban
hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí, trong đó phát
triển kinh tế là một hợp phần quan trọng với 9/19 tiêu chí liên quan trực tiếp
tới phát triển kinh tế.
hệ phân phối) trực tiếp quy định hệ thống lợi ích kinh tế: tạo động lực cho sự
phát triển kinh tế.
11
1.1.2.3. Về cơ chế kinh tế
Là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế. Thực tiễn lịch sử
cho thấy kinh tế tự nhiên hay cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đều cản trở
sự phát triển kinh tế. Cơ chế thị trường với tác động của quy luật giá trị, cạnh
tranh, cung - cầu kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, mang
lại hiệu quả sản xuất và tặng trưởng kinh tế nhanh. Nhưng cơ chế thị trường
cũng có khuyết tật, gây bất bình đăng xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên môi
trường... nên đòi hỏi phải có sự quản lý cùa Nhà nước. Vì vậy, cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ
chế kinh tế thích hợp nhất đối với sự phát triển nền kinh tế quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
1.1.2.4. Yếu tố về kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng xã hội bao gồm những quan điểm chính trị, pháp
quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật... cùng với những thiết chế xã
hội tương ứng của chúng như: Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị và nhân
dân... có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế. Những bộ phận đó tác
động đến các quan hệ kinh tế và sự phát triển xã hội bằng nhiều hình thức
khác nhau và theo những cơ chế khác nhau. Tác dụng của kiến trúc thượng
tầng sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của quy luật
kinh tế khách quan. Trái lại, nếu tác động ngược chiều với những quy luật đó
thì nó sẽ là trở lực, gây tác hại cho sự phát triển sản xuất, cản trở sự phát triển
kinh tế - xã hội. Trong sự tác động đó, chính trị cỏ ảnh hưởng sâu sắc nhất và
ngày càng tăng đối với sự phát triển kinh tế. Bởi vì, chính trị là sự biểu hiện
tập trung của kinh tế.
vào lĩnh vực kinh tế nông thôn thể hiện ở: nghiên cứu nông nghiệp, khuyến
nông, xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là chính sách đất đai.
Như vậy, vai trò kinh tế của Nhà nước trong phát triển nông thôn là hết
sức quan trọng tuỳ thuộc vào điều kiện, nguồn lực của mỗi quốc gia để có thể
13
chuyển đổi nên sản xuất xã hội, kiểm soát và thúc đẩy nông thôn phát triển.
Đối với Việt Nam trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đắt nước cần phải nghiên cứu sâu mang tính thực nghiệm và cẩn
thận theo từng khía cạnh cụ thể.
Một số chính sách kinh tế điển hình tác động đến nông thôn nước ta:Năm
1981, Ban Bí thư có Chỉ thị 100 và đặc biệt Đại hội VI của Đảng (12.1986) đã
thông qua đường lối đổi mới toàn diện và triệt để nên rất chú trọng nghiên
cứu chính sách quản lý nông nghiệp. Vì vậy, tư duy mới về quản lý nông
nghiệp đã có không gian để phát triển. Năm 1988, Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết 10 cùng các chính sách pháp lý về việc giao đất, đầu tư đã đưa
nông nghiệp nước ta có những bước đột phá trong tư duy quản lý kinh tế khi
lần đầu tiên thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ khi người nông dân
được trao quyền sử dụng đất và mức khoán lâu dài. Sự ‘cởi trói’ chính thức có
ý nghĩa giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, đem lại sinh khí mới cho nền
nông nghiệp nước nhà. Trong 30 năm đổi mới (1986 - 2016), nông nghiệp
Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian
dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng
bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XI đề ra (2,6 - 3%). Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải
thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 57%
(2010) lên 64,7% (2013); 67,8% (2014) và khoảng 68% (2015); năng suất lao
động xã hội ngành nông, lâm, thủy sản tăng gần gấp đôi từ 16,3 triệu đồng
sách xây dựng nông thôn mới vẫn còn tồn tại một số hạn chế bất cập như:
- Nhận thức của cấp uỷ đảng, chính quyền ở một số địa phương và một
bộ phận nhân dân cũng như cán bộ, công chức, đơn vị về xây dựng nông thôn
mới chưa đầy đủ, công tác chỉ đạo ở một số ngành, cấp lúc đầu còn lúng túng
chất lượng quy hoạch, xây dựng đề án còn hạn chế. Trong công tác tuyên
truyền vận một số cơ quan, địa phương thực hiện chưa thường xuyên chưa kịp
15
thời hình thức tuyên truyền chưa phong phú, chưa gắn công tác tuyên truyền với
việc tổ chức thực hiện. Nguồn lực thực hiện chương trình còn ít trong khi nhu cầu
để thực hiện một số tiêu chí (giao thông, thủy lợi, trường học) rất lớn, một số nơi
chưa thực sự coi trọng việc phát triển sản xuất, chưa có nhiều mô hình sản xuất
để học tập, khi có mô hình rồi công tấc nhận rộng còn chậm. Chưa thu hút được
nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
- Xây dựng nông thôn mới dựa trên nền tảng phát triển sản xuât nông
nghiệp và kinh tế nông thôn, trong khi sản xuất nông nghiệp nước ta có xuất
phát thấp, phát triển chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, nhất là lĩnh
vực nuôi trồng thủy sản; các loại cây công nghiệp như cao su, cây keo cây cà
phê… việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành nông, lâm nghiệp và
thủy sản còn chậm; chưa phát huy tốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển sản
xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân; dịch vụ, ngành nghê nông
thôn phát triển chưa đa dạng, quy mô nhỏ, ngành hàng phân tán, sử dụng
nhiều công lao động, hiệu quả đầu tư thấp; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động nông thôn và quá trình đô thị hóa nông thôn còn chậm.
- Việc thực hiện lồng ghép từ các Chương trình mục tiêu khác hiệu quả
chưa cao, do đầu tư dàn trải, mang tính chắp vá đối với kết cấu hạ tầng ở khu
vực nông thôn, nhất là các công trình giao thông nông thôn, doanh nghiệp lớn
không nhiều, vốn ngân sách hạn hẹp nên việc huy động các nguồn lực gặp
đồng. Thực tế cho thấy, từ sau khi có chính sách xây dựng nông thôn mới đời
sống nhân dần thay đổi và bộ mặt nông thôn nâng lên rõ rệt; thu nhập tăng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nâng lên rõ rệt, đời sống văn hoá tinh thần được
quan tâm tạo điều kiện cho cư dân nông thôn phát triển toàn diện mọi mặt.
1.2.2. Mục tiêu chính sách
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM có mục tiêu chung là
“Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, từng bước hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo
quy hoạch; xã hội dân chủ, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh
thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh
thần của người dân ngày được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Mục tiêu cụ thể của chương trình là: đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn
17
NTM và đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn NTM. Xây dựng nền nông
nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá
lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm
vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông
thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa
dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính
trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
Thực hiện Nghị quyết trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương khóa X
đã ban hành các Kết luận về một số nội dung trong Nghị quyết, bao gồm Đề
án An ninh lương thực quốc gia, Đề án Chương trình Xây dựng thí điểm mô
hình nông thôn mới cấp xã, Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội