PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC CÓ
HIỆU QUẢ MÔN ANH VĂN 6
A. Đặt vấn đề
1. Lí do chọn đề tài
hư chúng ta nhận thấy, ngôn ngữ là một trong những phương tiện giao tiếp
của con người, nó giúp chúng ta truyền đạt tâm tư, tình cảm, niềm vui, nỗi
buồn … Chính vì thế ngôn ngữ là một phần tất yếu của cuộc sống. Vậy phải chăng
học ngôn ngữ là để giao tiếp ?
N
Vâng, vì mục đích giao tiếp, con người chúng ta không những học tiếng mẹ
đẻ, mà còn phải học cả tiếng nước ngoài, đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay
chúng ta đã gia nhập WTO, nghóa là sự giao lưu về mọi mặt kinh tế, xã hội và
ngôn ngữ của các nước trên thế giới, sự giao lưu mọi mặt của các dân tộc trên thế
giới. Nên việc học ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh là một nhu cầu rất thiết thực.
Việc lónh hội và vận dụng một cách có hiệu quả một ngôn ngữ trong giao
tiếp không phải là một chuyện dễ dàng. Đối với chúng ta, tiếng Việt là tiếng mẹ
đẻ, chúng ta thường xuyên tiếp xúc từ lúc mới sinh ra nhưng việc vận dụng tốt
trong một sớm một chiều là môït điều không thể, mà cần phải có quá trình rèn
luyện. Và đó là vấn đề khó khăn khi chúng ta học và vận dụng giao tiếp bằng
tiếng nước ngoài (Tiếng Anh). Đặc biệt hơn là đối với học sinh trung học cơ sở _
Một lứa tuổi mà ở đó sự ý thứ và nhận thức chưa cao. Hơn nữa đối với học sinh ở
những trường, những đòa phương khó khăn như trường chúng tôi (Trung học cơ sở
Long Hưng) rất khó khăn về cơ sở vật chất, điều kiện học tập, sự tiếp cận các
phương tiện còn hạn chế. Đặc biệt là còn chưa biết thế nào là Internet. Vì thế việc
học và vận dụng ngôn ngữ tiếng nước ngoài càng trở nên khó khăn, học sinh dễ
chán học.
Là một giáo viên ngoại ngữ (Tiếng Anh) chúng tôi rất quan tâm đến các vấn
đề trên. Làm thế nào để học sinh học tập, vận dụng được ngoại ngữ ngay trong lớp
học ? trong giao tiếp đơn giản với bạn bè, thầy cô trên lớp sau bài học ? làm thế
nào để học sinh ý thức được giá trò của ngôn ngữ ? làm thế nào để học sinh học
ngoại ngữ mà không chán nản? Để làm được điều này thật khó khăn, nhưng theo
3. Mục đích.
* Việc sử dụng đồ dùng dạy học một cách chính xác, khoa học là góp một
phần quan trọng tạo sự thành công trong tiết học. Dụng cụ trực quan là những vật
mà học sinh có thể nhìn thấy nên học sinh thích thú hơn, dễ nhớ hơn và thích được
diễn đạt suy nghó của mình thông qua ngôn ngữ mình học.
* Bên cạnh đó, sử dụng đồ dùng dạy học giúp học sinh tập trung hơn vào
tiết học, tạo cơ hội để học sinh vận dụng được ngôn ngữ trong lớp một cách thực tế
và sống động hơn.
Trang
2
* Hơn nữa nó còn làm cho lớp học trở nên sinh động. Ngoài ra đồ dùng dạy
học có thể dùng ở bất kỳ giai đoạn nào của tiết học bằng những cách thức khác
nhau miễn sao giáo viên thấy hợp lý, và có hiệu quả, học sinh hiểu được nội dung
mà giáo viên muốn truyền đạt.
B. Giải quyết vấn đề
Trong năm học 2006 – 2007 tôi đã áp dụng sáng kiến này vào 2 lớp 6A1,
6A2 và thu được kết quả như sau:
LỚP SĨ SỐ GIỎI % KHÁ % TB % YẾU % KÉM %
6A1 38 2 5.3 5 13.2 16 42.1 12 31.6 3 7.8
6A2 35 2 5.7 4 11.4 17 48.6 10 28.6 2 5.7
TỔN
G
73 4
5.5
9
12.3
33
45.4
22
Hs: Môn Toán.
Gv: Đọc “Math” ba lần và yêu cầu học sinh lập lại vài lần ngay sau đó.
-Kiểm tra từ mới vừa dạy: Giáo viên cầm lần lượt các cuốn sách của các
môn học và yêu cầu học sinh đọc lên tên các môn học mà các em vừa học xong
bằng tiếng Anh. Giáo viên có thể sửa lỗi phát âm cho các em nếu có sai sót.
-Giới thiệu cấu trúc: Hỏi và trả lời ai đó có môn học vào lúc mấy giờ.
When do / does + S + Have + Môn học ?
S + Have / Has + Môn học + From + Giờ + To + Giờ.
Ví du ï 1: Giáo viên cầm cuốn sách giáo khoa môn Lòch Sử và hỏi học sinh.
Gv: When do you have History?
Hs1: I have it (History) from 7.00 to 7.45.
Ví du ï 2: Giáo viên gọi một học sinh khác và hỏi:
Gv: When does he / she (Học sinh 1) have history?
Hs2: He / she has it (History) from 7.00 to 7.45.
Lưu Ý: Nếu học sinh không trả lời được thì giáo viên phải gợi mở và dẫn dắt
học sinh đến câu trả lời đúng và phải rút ra được mẫu câu trên.
-Luyện tập cấu trúc câu trên: Giáo viên cho học sinh luyện tập theo cặp:
cặp đóng (close pair) _ cặp mở (opened pair). Hỏi, trả lời có các môn học vào lúc
mấy giờ. (Học sinh dùng ngay những cuốn sách giáo khoa mà các em mang theo
dưới sự dẫn dắt của giáo viên).
Ví dụ:
Hs1: When do you have English?
Hs2: I have it (English) from 1.00 to 1.45.
Quy đònh thời gian cho học sinh luyện tập, sau đó giáo viên gọi một vài cặp
học sinh thực hành hỏi và trả lời.
Trong sách Tiếng Anh 6, bài 2, phần C2-3-4.
Trang
4
Trong phần này học sinh phải nắm được những từ mới có liên quan đến
5
Quy đònh thời gian cho các em thực hành, sau đó gọi học sinh hỏi _ trả lời
trước lớp.
Trong sách Tiếng Anh 6, bài 9, phần A1,2:
Mục đích của phần này yêu cầu học sinh nắm được tên của một số bộ phận
trên cơ thể con người.
Giáo viên có thể mang lên lớp mô hình con người của môn sinh học để giới
thiệu các bộ phận của cơ thể như: Head, Shoulder, Arm, Chest, Hand, Finger, Leg,
Foot_Feet, Toe …
Ví dụ: Giáo viên chỉ vào đầu mô hình và hỏi:
GV: What is this?
HS: It is a head.
Học sinh có thể trả lời bằng tiếng việt. Sau đó giáo viên cho học sinh đọc lại
bằng Tiếng Anh.
- Kiểm tra từ mới:
Giáo viên chỉ vào một bộ phận của mô hình và hỏi:
GV: What is this / that?
Học sinh trả lời, giáo viên sửa sai nếu có.
- Luyện tập cấu trúc:
What is this / that ? - This / that is … … …
What are these / those ? - They are … … … … …
Cho học sinh luyện tập theo từng cặp (có thể thực hành bằng cách sử dụng
búp bê tự mang theo nếu có), giáo viên quy đònh thời gian, sau đó gọi từng cặp lên
hỏi _ trả lời trước lớp. Giáo viên có thể sửa sai nếu có và cần thiết.
Ví dụ: HS1: (Chỉ vào một bàn tay con búp bê)
What is this?
HS2: This is her hand.
HS1: (Chỉ vào ngực con búp bê)
HS2: This is her chest.
HS: Đứng lên.
GV: “ Sit down”
HS: Ngồi xuống.
- Luyện tập: Giáo viên sử dụng các từ mới vừa học, cho học sinh chơi trò chơi
“Simon says”. Giáo viên giới thiệu luật chơi:
* khi giáo viên nói có tư “Simon says” thì học sinh thực hiện hành động, còn
nếu không có từ “Simon says” thì học sinh không thực hiện.
Giáo viên hô các khẩu lệnh để học sinh chơi.
Ví dụ: GV: “Simon says” “Stand up”
Trang
7
HS: Đứng lên.
GV: “Sit down”
HS: Không thực hiện hành động vì giáo viên nói không có cụm từ
“Simon says”
* Giáo viên có thể sử dụng trò chơi này để kiểm tra bài cũ phần “Warm up”
cho tiết học sau.
Ưu điểm: Những cử chỉ, động tác của giáo viên hay của học sinh chính là
nguồn cảm hứng gây sự chú ý của các em học sinh. Nó rất gần gũi với các em vì
nó hiện hữu từng ngày, giờ. Chính vì lẽ đó học sinh dễ nhớ và khắc sâu hơn.
Tồn tại: Khi sử dụng những cử chỉ, động tác phải chính xác, nếu không học
sinh sẽ hiểu nhầm và phát âm sai.
1.3 Dùng tranh ảnh minh hoạ:
- Trong sách Tiếng Anh 6, bài 6 phần C1,2:
Trong phần này yêu cầu học sinh nắm được các giới từ chỉ phương hướng
như: ở phía trước, ở phía sau, ở bên phải, ở bên trái … Một số danh từ chỉ đồ vật
như: cái giếng, cái sân, cây, hoa, núi …
Trong phần này giáo viên chỉ cần chuẩn bò một bức tranh sau:
-Dạy từ mới: Giáo viên
bức tranh xung quanh ngôi nhà.
Ví dụ:
HS1: Where are the tall trees?
HS2: They are behind the house.
HS1: Where are the flowers?
HS2: They are to the right of the house.
HS: Look at the picture, there is a house. To the left of the house, there is a
well. To the right of the house, there are flowers. Behind the house, there are tall
trees. Behind the tall trees, there are mountains. …
Ưu điểm: Sử dụng tranh ảnh làm cho học sinh tập trung vào bài học hơn vì
ngôn ngữ đã được thể hiện bằng hình ảnh cụ thể, không phải chỉ là những lời
Trang
9
nói đơn thuần từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh nên học sinh rất dễ nhớ và khắc sâu
kiến thức. Ngoài ra nó còn kích thích học sinh nói, thảo luận bằng Tiếng Anh.
Tồn tại: Tranh ảnh, kênh hình không chính xác học sinh dễ phát âm sai.
Yêu cầu khi chuẩn bò tranh ảnh phải khoa học, chú ý đến màu sắc phải hài hoà
dễ quan sát thu hút học sinh.
2. Kết quả
Trong những năm học qua, qua những lần được đi tập huấn thay sách giáo
khoa mà phòng giáo dục tổ chức. Được trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các
đồng nghiệp, được sự giúp đỡ tận tình của các báo cáo viên. Được học hỏi và rút
kinh nghiệm qua những lần được thanh tra của nhà trường, của phòng giáo dục.
Tôi đã học hỏi, áp dụng, rút ra kinh nghiệm giảng dạy, và thực hiện các phương
pháp nêu trên.
- Về phía học sinh:
- Học sinh rất có hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập trên
lớp. Góp phần tạo thành công cho tiết dạy. Tăng thêm phần sinh động của tiết học.
- Học sinh vận dụng được ngôn ngữ, cấu trúc câu đã học để trình bày ý
27.8
0
0
C. KẾT LUẬN:
1. Đánh giá chung
Do đặc điểm đòa phương là một xã khó khăn, trình độ dân trí còn thấp. Hơn
nữa 100% phụ huynh học sinh không biết và không thể kèm cặp con em mình về
môn Anh văn, nên tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng dạy học trên lớp là một
việc không thể thiếu. Không những giúp cho các em yêu thích môn học, không
nhàm chán. Mà còn giúp cho các em học bài và hiểu bài ngay trên lớp, giúp các
em vận dụng được ngôn ngữ mà các em đang học. Tạo mối quan hệ thân thiết
giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên.
Việc sử dụng đồ dùng dạy học còn giúp cho giáo viên nâng cao hơn về mặt
nghiệp vụ chuyên môn vì giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo về dụng cụ học tập làm
sao cho thật gần gũi với bài học và cuộc sống. Từ đó giáo viên tiết kiệm được thời
gian giảng giải không cần thiết, mà dành nhiều thời gian hơn cho học sinh ôn
luyện trên lớp.
Vì có được sự hứng thú học tập và yêu thích môn học, nên góp một phần
làm giảm tỷ lệ bỏ học của học sinh. Giúp các em có thêm niềm tin yêu hơn với
thầy, cô, bạn bè, trường lớp. Tạo ra được môi trường thân thiện, mối quan hệ tốt
giữa Gia Đình – Nhà Trường – Xã Hội.
Vì vậy tôi thiết nghó việc làm, sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy là
một việc làm không thể thiếu trong môi trường giáo dục, vì nó không những giúp
cho người thầy mà cả học trò gặt hái được kết quả tốt.
2. Bài học kinh nghiệm
- Việc chuẩn bò và sử dụng đồ dùng trực quan này làm cho lớp học sôi nổi
hơn thu hút được sự chú ý của cả ba đối tượng học sinh vào nội dung bài học. Gây
Trang
11
14
Trang
15