DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
GSK: Sách giáo khoa
TB: Tế bào
TLN: Thảo luận nhóm
Trang 1
PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài:
1. 1. Cơ sở lí luận:
Sinh học là một môn học cung cấp cho chúng ta những hiểu biết quan
trọng về sự sống, mối quan hệ giữa cơ thể với môi trường. Từ đó chúng ta rút
ra những biện pháp để cải tạo tự nhiên, nâng cao năng suất vật nuôi, cải tạo
cây trồng, góp phần nâng cao tổng sản phẩm đất nước và cải thiện đời sống
con người, trong đó có chúng ta.
Vì thế, mục tiêu đào tạo của nhà trường bậc trung học cơ sở môn sinh
học giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Trong đó, phương tiện dạy học được
xem như một điểm tựa trong quá trình nhận thức “ từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến hiện thực cuộc sống”. Khái niệm
sinh học bao giờ cũng xuất phát từ thực tiễn. Từ những biểu tượng sống cụ
thể về đối tượng nghiên cứu giúp các em có cơ sở để suy diễn hình thành nên
khái niệm. Điều này rất phù hợp với độ tuổi của các em vì khả năng tư duy
lứa tuổi này chưa cao. Mặt khác, phương tiện dạy học có nhiều điều kiện để
vận dụng vì xung quanh là một thế giới sinh vật đa dạng, phong phú. Ở đây,
học sinh quan sát độc lập dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới
những kết luận cũng là kiến thức cần lĩnh hội.
Như chúng ta đã biết việc phối hợp và sử dụng tốt phương tiện dạy học
sẽ giúp cho giáo viên có thể thu hút sự chú ý, say mê và phát huy tối đa tính
điều không thể nào tránh khỏi.
Sinh học là môn học nghiên cứu sinh vật trong tự nhiên, kiến thức sinh
học vừa có ở kênh chữ, vừa có ở kênh hình và vật mẫu thật. Do đó, dạy học
sinh học không thể không có tranh ảnh, vật mẫu, thí nghiệm và thực hành.
Thực tế, khi học sinh học 6, các em có suy nghĩ đó là môn học bài, dễ dàng
học thuộc lòng nhưng không phải như vậy. Nếu các em không biết vận dụng,
biết quan sát thực tiễn, vật mẫu, tranh, hình thì các em không học tập tốt
được.
Trang 3
Mặt khác, học sinh cũng thường nhận dạng sai các loài thực vật trong
tự nhiên, thậm chí cả ở những thực vật các em dùng hàng ngày, ví dụ các em
nhiều lần thấy củ khoai lang nhưng không biết cây khoai lang như thế nào.
Hoặc các em cho lá me có cách mọc đối trong khi đó chỉ các lá chét của nó
mới mọc đối, nhầm cây một lá mầm, cây hai lá mầm, cây có hoa, cây không
có hoa, ...
Đối với việc thực hiện yêu cầu của giáo viên, về chuẩn bị vật mẫu học
tập, thì nhiều học sinh chuẩn bị vật mẫu cho có hay để được điểm cộng và
không bị thầy cô nhắc nhở. Các em lấy mẫu thật nhiều, nhưng không lưu ý
đến yêu cầu cần thiết khi chuẩn bị mẫu để học. Ví dụ yêu cầu quan sát rễ cây,
nhưng các em chỉ chuẩn bị mẫu lá. Học về các loại quả nhưng các em chỉ
mang đến lớp các quả để ăn, ...
Đối với việc quan sát đồ dùng học tập: Các em có thói quen quan sát đồ
dùng dạy học, tranh ảnh hay vật mẫu một cách qua loa, chiếu lệ. Các em
không tư duy, so sánh hay đối chiếu, không tự tìm tòi mà chỉ dựa vào thông
tin sách giáo khoa, cứ cho rằng ngày nào các em cũng thấy chúng, nhưng
không biết rằng giới tự nhiên, luôn chứa đựng những điều kỳ thú cần các em
khám phá như: Tại sao có màu sắc khác nhau ở các mặt của lá? Gân lá có đặc
nâng cao kiến thức và chất lượng dạy học. Trong quá trình tìm hiểu tôi đã có
hứng thú với đề tài “ sử dụng phương tiện trực quan có hiệu quả trong dạy
học”. Nhưng theo tôi, các đề tài này chỉ chú ý đến phương tiện trực quan mà
thôi, muốn dạy học đạt được hiệu quả cao không chỉ chú ý tới phương tiện
trực quan mà còn phải chú ý tới tất cả các phương tiện dạy học trong một tiết
học và sử dụng nhuần nhuyễn, có hiệu quả.
Trong quá trình dạy học môn sinh học 6 tôi nhận thấy việc sử dụng các
phương tiện dạy học nếu không được phối hợp chặt chẽ và khai thác đúng lúc
thì sẽ dẫn đến những kết quả không như mong muốn. Mặc khác, ở lứa tuổi
đầu cấp trung học cơ sở tư duy trừu tượng còn ở mức độ thấp nên việc sử
dụng phương tiện dạy học phải được nghiên cứu kĩ trước khi sử dụng và phải
phù hợp với tư duy của học sinh. Vì vậy, đầu năm 2014 – 2015 tôi thường
xuyên sử dụng phương tiện dạy học, dạy thử nghiệm, dự giờ rút kinh nghiệm
Trang 5
với đồng nghiệp, kiểm tra, đánh giá kết quả việc nắm bài của học sinh để từ
đó có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý, tôi bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
này.
4. Phạm vi đề tài:
Đề tài này chỉ nghiên cứu quá trình sử dụng các phương tiện dạy học
thông qua các phương pháp có thể áp dụng: Quan sát, trao đổi, thảo luận, thực
nghiệm và phương pháp điều tra: (Giáo viên tiến hành dạy thử nghiệm, dự
giờ đồng nghiệp, trao đổi, thảo luận để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho
tiết dạy. Sau đó giáo viên đặt câu hỏi để kiểm tra việc nắm nội dung bài học
của học sinh.)
Đề tài này chỉ áp dụng cho chương trình sinh học 6
Trang 6
Số HS có thái
Tên lớp TS HS độ hào hứng
6/1
6/2
Số HS có thái
độ bình
Ít quan tâm
Ghi chú
thường
TS
%
TS
%
TS
%
35
12
34,2% 16
45,7% 7
20%
36
12
33,3% 16
44,4% 8
22,2%
26(72,2)
10(27,8)
Trong thực tế giảng dạy không phải lúc nào vật thật đều đáp ứng yêu cầu sư
phạm của một đồ dùng dạy học. Có những vật quá nhỏ, khó quan sát thì phải
kết hợp sử dụng các mô hình hoặc tranh vẽ, đặc biệt là loại tranh cho phép đi
sâu vào các mức độ khác nhau, cấu trúc của các cơ quan hay đi sâu vào các
chi tiết của từng bộ phận quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu
chức năng . Hình vẽ trên bảng của giáo viên cũng là một phương tiện trực
quan có giá trị sư phạm cao (nếu giáo viên vẽ đẹp và nhanh) được kết hợp
trong lúc mô tả, thuyết trình giúp các em theo dõi bài giảng một cách rõ ràng .
Sử dụng các đồ dùng trực quan trong giảng dạy phải đảm bảo tính sư phạm và
khoa học. Trong các bài giảng sinh học 6 cần sử dụng các phương tiện trực
quan:Vật thật (mẫu tươi, mẫu ngâm, mẫu khô, tiêu bản hiển vi) .Vật tượng
hình như : Mô hình , tranh vẽ (đen, trắng hoặc màu) các hình chụp, hình vẽ
Trang 8
trên bảng hoặc sơ đồ cấu tạo, phải đảm bảo tính sư phạm và khoa học như :
Khi giáo viên đưa ra các mẫu vật biểu diễn cần: đúng lúc , đúng cách , dùng
đến đâu đưa ra đến đó tránh bày la liệt; Đối tượng quan sát phải đủ lớn vừa
tầm nhìn , nếu nhỏ quá phải đưa tới từng bàn cho học sinh quan sát; Các thí
nghiệm giáo viên cần liên hệ chặt chẽ với bài giảng có đối chứng mới có sức
thuyết phục; Giáo viên phải nghiên cứu, làm thử trước khi đem ra biểu diễn
trước học sinh .
2. Nội dung cần giải quyết:
Từ những hạn chế nêu trên, tôi cho rằng vấn đề cần phải tìm hiểu
nghiên cứu để đưa ra giải pháp thực hiện sử dụng phương tiện dạy học có
hiệu quả trong môn sinh học 6.
theo 3 nguyên tắc sau:
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc.
+ Trình bày phương tiện dạy học vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn
được quan sát, gợi ý lúc tâm lí thuận lợi nhất.
+ Sử dụng phương tiện dạy học theo trình tự nội dung bài giảng, không trưng
bày hàng loạt trên bàn, giá tủ trong một tiết học sẽ làm phân tán tư tưởng của
học sinh.
+ Phải đưa ra và cất đúng lúc.
+ Cần cân đối bố trí lịch và thời gian sử dụng phương tiện dạy học hợp lý,
đúng lúc, thuận lợi.
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ.
+ Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện dạy học trên lớp hợp lý nhất giúp học
sinh có thể dùng nhiều giác quan để tiếp xúc với phương tiện dạy học một
cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp.
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng cường độ.
+ Không nên kéo dài việc trình diễn phương tiện dạy học quá nhiều lần trong
một tiết dạy, hiệu quả sẽ giảm.
+ Việc sử dụng mọi hình thức và phương tiện khác nhau trong một tiết giảng
có ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài của học sinh và hiệu quả sử dụng phương
tiện dạy học.
Trang 10
+ Việc áp dụng các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp dẫn đến quá tải thông tin
và lệch mục tiêu.
3.2. Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm và thực nghiệm sư phạm:
3.2.1 Một số phương pháp rèn luyện kỹ năng quan sát kênh hình,
mô hình cho học sinh qua môn sinh học:
a. Phương pháp quan sát kênh hình, mô hình:
Một trong những phương pháp chủ đạo để giúp học sinh có kỹ năng sử dụng
cấu tạo trong của phiến lá và cho biết: lá được chia làm mấy phần?
Tiếp theo giáo viên để thời gian (1 phút) để học sinh quan sát.
Khi học sinh đã trả lới hết câu hỏi của giáo viên tức là các em đã nắm được
cấu tạo trong của phiến lá, lúc này giáo viên đưa tranh vẽ và yêu cầu học sinh
lên xác định các bộ phận cấu tạo trong trên tranh. Nếu học sinh trình bày
được tức là các em đã biết khai thác kiến thức từ tranh vẽ. Tiết học sau giáo
viên dùng tranh vẽ kiểm tra kiến thức của các em.
c. Phương pháp nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề được hiểu là vấn đề có thể do giáo viên hoặc do chính
học sinh đặt ra. Giáo viên tổ chức tạo tình huống có vấn đề để học sinh tự lực
phát hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề đặt ra để cùng nhau giải quyết.
Khi dạy bằng phương pháp nêu vấn đề giáo viên và học sinh cần thực hiện
các công việc sau.
+ Tạo tình huống có vấn đề.
+ Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh.
+ Đề xuất các giả thiết giải quyết vấn đề.
+ Phát biểu kết luận.
* Ví dụ: Trong bài cấu tạo trong của phiến lá, khi hướng dẫn cho học sinh
phần 1. Biểu bì giáo viên có thể tiến hành như sau:
- Đặt vấn đề:
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh cấu tạo trong của phiến lá nhìn cả 3 mặt
+ Biểu bì mặt trên và biểu bì mặt dưới có sự khác nhau không?
- Giải quyết vấn đề:
Trang 12
+ Lớp tế bào (TB) thịt lá phía trên và lớp tế bào thịt lá phía dưới giống nhau ở
điểm nào? Đặc điểm này phù hợp với chức năng nào?
d. Phương pháp so sánh.
* Ví dụ: Khi giảng dạy “ Cấu tạo trong của phiến lá” Khi so sánh lớp tế bào
nào ?
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
Câu 2: Hãy tìm đặc điểm khác nhau giữa chúng?
ĐẶC ĐIỂM SO
LỚP TẾ BÀO THỊT
LỚP TẾ BÀO THỊT
SÁNH
HÌNH DẠNG TẾ
LÁ PHÍA TRÊN
LÁ PHÍA DƯỚI
BÀO
CÁCH SẮP XẾP
CỦA TẾ BÀO
LỤC LẠP ( SỐ
LƯỢNG )
CHỨC NĂNG
CHÍNH
2. Học sinh:
- Nghiên cứu trước ở nhà.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC:
* Cấu tạo phiến lá gồm
-Gv: Giới thiệu nội dung Hs: trả lời
3 phần:
bài dạy.
Biểu bì, thịt lá, gân lá
Hs: Nhận xét, bổ sung
1. Biểu bì
Gv: Cho HS đọc thông
Hs: Đọc thông tin
tin SGK.
Gv yêu cầu hs quan sát
Hs: quan sát
hình 20.2 và trả lời câu
hỏi:
Hs: trả lời
Gv: Những đặc điểm
Hs: Nhận xét, bổ sung
đổi khí và thoát hơi
* Hoạt động 2:
nước.
- Gv: Cho HS nghiên
Hs: đọc thông tin, quan
cứu thông tin, quan sát
sát
hình 20.4 + mô hình
phiến lá cắt ngang (*
chú y: hướng dẫn cho
Hs cách quan sát mô
hình )
- Gv: Yêu cầu HS TLN
thời gian 5 phút ( phiếu
thảo luận trang 13,14 )
Câu 1: Yêu cầu HS trả
lời
Hs: TLN ( thời gian 5
Câu 2: Yêu cầu HS lên
phút
- Trắc nghiệm thực tế:
- Lớp tế bào biểu bì
cho Hs quan sát một lá
phía dưới là những tế
thật, yêu cầu xác định
bào không sát nhau
mặt lá phía trên và phía
chứa ít lục lạp có chức
dưới.
năng chứa và trao đổi
- Gv: Nếu trồng cây ở
khí.
nơi thiếu ánh sáng lá cây
sẽ có hiện tượng gì? Vì
sao lại có hiện tượng
đó?
- Gv: Giáo dục học sinh
Nằm xen giữa phần thịt
lá
- Chức năng:
+ Vận chuyển các chất
IV. CỦNG CỐ, HƯỚNG DẪN HS TỰ HỌC Ở NHÀ:
1/ Củng cố:
a) Yêu cầu Hs xác định các bộ phận ở mô hình hình 20.4
b) Yêu cầu Hs chọn các chức năng phù hợp với cấu tạo trong của lá.
2/ Hướng dẫn HS tự học ở nhà:
- Học thuộc bài, trả lời câu hỏi SGK, ( Không trả lời câu 4 )
- Đọc mục “ Em có biết”
-
Xem bài “quang hợp”
+ Đọc trước các thông tin trong SGK
+ Chất khí nào duy trì sự cháy?
* Khi dạy bài 20: Cấu tạo trong của phiến lá, chúng ta cần chú ý một số
điểm khi sử dụng phương tiện dạy học như sau:
- Phương tiện dạy học để đúng vị trí, ngăn nắp.
- Nếu sử dụng giáo án điện tử tránh dùng tranh quá nhiều sẽ bị lệch mục tiêu.
- Trước khi quan sát mô hình phải hướng dẫn cách quan sát.
- Chú ý tới góc nhìn của học sinh.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nội dung và phương pháp dạy.
- Thao tác sử dụng phải chuẩn, khoa học.
3.2.2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng mẫu vật:
a) Đối với việc chuẩn bị vật mẫu:
Ví dụ1: Bài 9 “Các loại rễ, các miền của rễ”. Học sinh cần chuẩn bị
được vật mẫu thật hai loại rễ chính: rễ cọc và rễ chùm. Để giúp học sinh
chúng dựa trên các đặc điểm nào?
Trang 19
Trước hết cho học sinh dựa trên vật mẫu nhắc lại các kiến thức đã học
về kiểu rễ, dạng thân, kiểu gân lá của một số thực vật các em mang đến lớp.
Kết hợp giữa vật mẫu thật, kênh hình, kênh chữ sách giáo khoa, cho
học sinh tìm các đặc điểm, phân biệt cây thuộc hai lớp trên theo nhóm và cho
các đại diện nhóm, trình bày trên vật mẫu theo gợi ý của sách giáo khoa. Sau
khi chuẩn bị đủ điều kiện, học sinh có thể nắm được các đặc điểm phân biệt
cây Hai lá mầm và cây Một lá mầm theo kiểu rễ, gân lá, số cánh hoa, ...
Để giúp học sinh củng cố kiến thức đã học, giáo viên cho các em hoạt
động độc lập hay nhóm để chia các vật mẫu vào hai nhóm cây. Cũng có thể
thực hiện hoạt động này dưới dạng trò chơi tiếp sức, sau đó cho học sinh nêu
lại kiến thức vừa ghi nhận trên vật mẫu đã chọn, các học sinh khác nhận xét,
giáo viên ghi điểm nhóm làm tốt. Từ đó, học sinh hoạt động tích cực và ghi
nhớ kiến thức cơ bản tốt hơn.
Cho bài tập trắc nghiệm, bài tập dựa trên các vật mẫu được học sinh thu
thập và bổ sung thêm các thực vật mà các em thường gặp nơi ở hay sân
trường, lưu ý các cách phân biệt nhanh hai lớp dựa vào đặc điểm bên ngoài
như dạng thân, gân lá, cánh hoa và cần kết hợp nhiều đặc điểm phân biệt, chứ
không chỉ lấy riêng một đặc điểm nào do sự đa dạng của thực vật Hạt kín.
c) Đối với những bài có sử dụng thí nghiệm thì việc chuẩn bị phải tuân
thủ theo qui trình và nguyên tắc thí nghiệm.
c.1) Qui trình thiết kế thí nghiệm:
- Bước 1: Xác định mục tiêu thí nghiệm.
Mục tiêu thí nghiệm là những dự kiến về sản phẩm cần đạt được trong
thí nghiệm.
- Bước 2: Phân tích nội dung thí nghiệm trong SGK
Lớp đối
Sĩ
Giỏi
Khá
nghiệm
chứng
số
( 8- 10 )
( 7,5-6,5) bình ( 6-
( năm 2015-
( năm 2014-
2016)
2015)
6/1
35
(45,7%)
15
(25%)
10
(5,7%)
2
25
(25%)
10
(41,7%)
8
(27,8%)
6
(5,6%)
1
26
(40%)
11
(32%)
9
9
36%
3
12%
6/2
26
15
57,7% 9
34,6% 2
7,7%
Kết quả thăm dò quá trình tiếp thu bài của học sinh thông qua bài giảng.
( năm học 2015 – 2016 )
- Sau khi học xong bài 20: Cấu tạo trong của phiến lá, tôi đã cho học sinh
làm kiểm tra nhanh trên giấy.
Câu hỏi: 1/ Xác định các bộ phận của phiến lá ở mô hình hình 20.4?
2/ Em hãy chọn các chức năng phù hợp với phiến lá?
Kết quả như sau:
Tên lớp
Tổng số học sinh Học sinh trên 5
Học sinh dưới 5
điểm ( % )
điểm ( % )
6/1
25
vật mẫu tốt, hiếm (dây tơ hồng, rễ cây bần, địa y hình cành, tầm gửi, …)
Trang 23
Đa số bài trong chương trình sinh học 6 đều có chuẩn bị vật mẫu: các
loại rễ - các miền của rễ, rễ biến dạng, cấu tạo ngoài của thân, thân dài ra do
đâu, cấu tạo ngoài của lá, …các em có thể giữ lại mẫu để làm tập bách thảo,
chuẩn bị cho việc tìm hiểu thiên nhiên và thực hành cuối năm học.
Giáo viên cần luôn khuyến khích, động viên các em khi trình bày trước
lớp, rèn kỹ năng vận dụng ngôn ngữ, biết sắp xếp hợp lí, khoa học các vật
mẫu sưu tầm được, nắm bài và vận dụng tốt kiến thức vào bài mới cũng như
trong đời sống một cách linh hoạt.
Giáo viên cần luôn cập nhật kiến thức, tự tìm tòi các tư liệu mới,
nghiên cứu, ứng dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp, có tinh thần cầu
tiến, học hỏi các kinh nghiệm từ đồng nghiệp và cần luôn kiên nhẫn trong
việc hướng dẫn, giúp đỡ học sinh học tập.
Đối với tranh ảnh, mô hình giáo viên cần chuẩn bị đúng cách, khoa
học, cẩn thận, phù hợp với tư duy của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy sử dụng phương tiện dạy học
đúng cách, khoa học nó quyết định thắng lợi 1/2 của bài giảng, giúp cho học
sinh phát huy tính tích cực của học sinh làm cho các em chú ý nghe giảng,
quan sát và hăng hái xây dựng bài. Như vậy phương tiện dạy học là cơ sở, là
xương sống cho một bài giảng. Qua quan sát các đồ dùng trực quan học sinh
phát triển óc sáng tạo từ đó hình thành các biểu tượng và khái niệm đúng đắn.
Phương tiện dạy học còn chứng minh cho quan điểm biện chứng, nhưng khi
sử dụng các đồ dùng trực quan cần phối kết hợp với nhiều phương pháp khác
mới đem lại hiệu quả cao.
2. Phạm vi áp dụng:
Với sự vào cuộc của các cấp quản lí giáo dục, sự hợp tác của tập thể sư
phạm các nhà trường, sự hứng thú học tập của học sinh, tôi tin tưởng đề tài sẽ