A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu bức thiết của Ngành giáo
dục. Mục tiêu của việc đổi phương pháp dạy học là đào tạo thế hệ trẻ phát triển
toàn diện cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Đổi mới phương pháp dạy
học đi đối với việc sử dụng phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học sao cho hợp lý
với các hình thức dạy học khác nhau. Trong thời đại ngày nay, việc dạy học
không chỉ bó hẹp trong các giờ học tại nhà trường mà giáo viên có thể hướng
dẫn học sinh tự học qua tài liệu hoặc học tập qua hệ thống thông tin truyền
thông, qua mạng Internet...
Thực tế cho thấy, việc sử dụng phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học
trong giảng dạy đã là một truyền thống tốt đẹp từ trước tới nay và đem lại hiệu
quả cao cho giáo dục. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì sử dụng
phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học là một yêu cầu cần thiết, là điều kiện
thuận lợi để rèn luyện phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của
mỗi học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu
Tự nhiên và Xã hội là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức
cơ bản ban đầu về các sự việc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và trong các mối
quan hệ của con người, xảy ra xung quanh các em. Bên cạnh các môn học chính
như Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên xã hội trang bị cho các em những kiến thức cơ
bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho trẻ.
Hoà cùng với công cuộc đổi mới mạnh mẽ về phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học trên toàn ngành, môn Tự nhiên xã hội cũng có những bước chuyển
mình, từng bước vận dụng thay đổi linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm
tích cực hoá các hoạt động của học sinh, phát huy tính chủ động sáng tạo của
học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Với đặc thù riêng của môn TN&XH là môn học cần nhiều hình ảnh, sơ
đồ, câu chuyện, vật mẫu,…Vì vậy, việc giảng dạy bộ môn cần sử dụng nhiều
phương tiện và đồ dùng dạy học. Do đó giảng dạy TN&XH có thể nói là một
công việc khó, nếu người giáo viên không có những hiểu biết sâu sắc, thiếu sự
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
2
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Thế nào là phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học?
Theo nghĩa rộng: Phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học (gọi chung là
phương tiện dạy học) gồm tất cả các thiết bị có khả năng chứa đựng hoặc
chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và sự điều khiển quá trình dạy
học hoặc những vật dụng có tác dụng hỗ trợ quá trình dạy học.
Theo nghĩa hẹp: Phương tiện dạy học là những thiết bị có khả năng chứa đựng
hoặc chuyển tải thông tin về nội dung dạy học và sự điều khiển việc dạy và học.
2. Chức năng của phương tiện dạy học
Mỗi phương tiện dạy học có thể giúp thực hiện một số trong các chức
năng sau đây:
2.1. Chức năng hình thành tri thức
Phương tiện dạy học có chức năng minh họa khái niệm cho học sinh dưới
dạng hình ảnh rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học. Đối
với học sinh lớp đầu cấp, nếu các em chưa biết hoặc chưa hiểu nội dung thông
tin chứa trong bài học thì phương tiện này mang chức năng hình thành biểu
tượng về đối tượng cần nghiên cứu cho học sinh.
Ví dụ: Các hình ảnh có trong bài “Vệ sinh cơ quan tuần hoàn” Lớp 3 cho học
sinh biết những việc nên làm và những việc không nên làm để bảo vệ tim mạch.
Hơn nữa, phương tiện dạy học còn có chức năng minh họa nhằm mục
đích giúp các em hiểu rõ hơn đơn vị kiến thức
Ví dụ: Đưa ra một số tranh ảnh trong bài “Vệ sinh cơ quan tuần hoàn”
2.4 Chức năng kích thích hứng thú học tập
Phương tiện dạy học có thể kích thích hứng thú học tập cho học sinh nhờ
hình thức thông tin như âm thanh, màu sắc, hình ảnh động, nhờ nội dung thông
tin như mô phỏng những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người.Ví dụ:
Động tác vồ mồi của mèo ( Bài: Con mèo - TN&XH lớp 1) ; Động tác, vận tốc
chạy nhanh như gió của loài báo( Bài: Thú - TN&XH lớp 3); Tiếng hót hay của
một số loài chim ( Bài: Chim - TN&XH lớp 3)
2.5 Chức năng tổ chức điều khiển quá trình học tập
Phương tiện dạy học còn có chức năng tổ chức, điều khiển quá trình dạy
học, sách giáo viên, phần mềm vi tính, bài hát, băng hình, video,… có sẵn lệnh
hoặc có thể phát ra những lệnh thực hiện công việc này hay chuyển sang hoạt
động khác,…
2.6 Chức năng hợp lý hóa công việc của thầy và trò
Phương tiện dạy học cũng có thể hợp lý hóa việc tiến hành một số hoạt
động của thầy và trò.Ví dụ: Trình chiếu phần kết luận bài “Thực vật” Lớp 3 giúp
học sinh nắm vững kiến thức của bài : Xung quanh ta có rất nhiều cây. Chúng có
hình dạng và độ lớn khác nhau. Mỗi cây thường có rễ, thân, lá, hoa và quả.
II. THỰC TRANG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN
1. Chương trình sách giáo khoa môn TN&XH khối 1, 2, 3:
Từ lớp 1 đến lớp 3: Học sinh được trang bị những kiến thức sơ giản ban
đầu về con người và sức khỏe, về thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh các em
theo hình vòng tròn đồng tâm.
1.1 Chương trình - sách giáo khoa lớp 1:
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội đã được thay đổi theo hướng tích
cực cả nội dung của môn giáo dục sức khỏe từ năm học 2002 - 2003. Chương
trình gồm 35 bài (32 bài học và 3 bài ôn tập) được chia làm 3 chủ đề: Con người
và sức khỏe - Xã hội - Tự nhiên. Khi học sinh học xong lớp 1 học sinh biết:
- Sơ lược về cơ thể con người, cách giữ gìn vệ sinh cá nhân và vui chơi an toàn.
- Các thành viên của gia đình và lớp học.
- Quan sát một số cây cối, con vật và sự thay đổi của thời tiết.
Chủ đề: Xã hội: Thể hiện mối quan hệ gia đình, nhà trường, vốn hiểu
biết và ý thức về tỉnh, thành phố nơi đang sống. Gồm 18 bài mới và 3 bài ôn tập,
kiểm tra.
Chủ đề: Tự nhiên: Nói về thực vật và động vật; Mặt trời và Trái đất.
Gồm 29 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra.
2. Những phương tiện dạy học đặc thù môn TN&XH khối 1, 2, 3:
- Các tranh ảnh, mô hình, sơ đồ.
- Phim Video, đèn chiếu, máy chiếu, giấy trong.
- Phiếu học tập.
- Giấy khổ lớn, bút dạ, keo, băng dính.
- Câu chuyện, tình huống,…
- Đạo cụ đơn giản để đóng vai.
- Các vật thật như: hoa quả, lá cây, các loại cây, con vật nhỏ (tôm, cua, cá…).
3. Các phương tiện dạy học mới được sử dụng trong môn TN&XH khối 1,2,3
- Ti vi, băng hình, đĩa TN&XH skycare để các em xem về các vật nuôi và
loài vật hoang dã ở lớp 2; Các loài hoa ở lớp 1; Các mô hình trang trại chăn nuôi
điển hình ở lớp 3…
- Máy tính, máy chiếu, internet, các phần mềm…
4. Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương tiện dạy học dạy môn
TN&XH khối 1, 2, 3 ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi - TP Thanh Hóa.
4.1 Ưu điểm
Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi – TP Thanh Hóa là ngôi trường có
5
truyền thống dạy tốt học tốt. Phụ huynh luôn quan tâm chăm lo, phối hợp chặt
chẽ với giáo viên và nhà trường để cùng nhau giáo dục, rèn luyện cho con em
phát triển toàn diện. Không chỉ chú trọng đến môn Toán - Tiếng Việt mà đối với
môn Tự nhiên và Xã hội ( TN&XH) thì việc mua sắm đồ dùng học tập đầy đủ,
sưu tầm những phương tiện dạy học là vật thật, vật mẫu phục vụ cho việc tiếp
5. Khảo sát thực tế việc tiếp thu kiến thức môn TN&XH cụ thể ở 3 lớp như
sau
Qua quá trình thực hiện, tôi đã thống kê kết quả môn TN&XH lớp 1A, 2A
và 3B năm học 2015 - 2016 như sau:
6
Xếp loại học lực môn
Lớp
Sĩ số
Hoàn thành tốt
Số lượng
Tỉ lệ %
Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ %
Chưa hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ %
1A
1
2,63 %
Qua bảng thống kê chất lượng của năm học 2015- 2016 ( Riêng lớp 1A
vừa mới vào đầu cấp nên không khảo sát ) và tôi thấy số lượng học sinh được
xếp loại học lực môn “Hoàn thành tốt” nhiệm vụ còn ít, số học sinh “Chưa hoàn
thành” phải rèn luyện thêm vẫn còn. Do đó, năm học 2016 - 2017 khi nhận
nhiệm vụ dạy môn TN&XH ở một số lớp khối 1, 2, 3 tôi rất lo lắng và suy nghĩ
mình phải làm gì đối với chất lượng dạy học nói chung và dạy học môn
TN&XH nói riêng được nâng cao hơn nữa.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Đổi mới phương pháp trong dạy học là yếu tố không thể thiếu trong việc
nâng cao chất lượng dạy học. Cũng như các môn học khác, phương tiện dạy học
môn TN&XH cần nhiều hình ảnh, tư liệu sống động, cần nhiều minh chứng rõ
ràng, cụ thể. Việc sử dụng phương tiện dạy học có hiệu quả làm cho hiệu quả
giờ dạy đạt cao là tương đối khó. Hơn nữa, sử dụng phương tiện dạy học sao cho
linh hoạt trong các giờ dạy học lại càng khó hơn.
Thật vậy, có phương pháp dạy học không chỉ cần một phương tiện dạy
học mà có thể sử dụng một số phương tiện dạy học khác; ngược lại, một phương
tiện dạy học có thể phục vụ cho nhiều phương pháp dạy học khác nhau (Ví dụ
như máy chiếu hay hình ảnh có thể vừa sử dụng cho phương pháp thảo luận,
quan sát và phương pháp vấn đáp,…). Vì vậy, cần khai thác khả năng thích ứng
linh hoạt này để nâng cao hiệu quả của phương tiện dạy học.
Phương tiện dạy học phải được sử dụng để kích thích học sinh suy nghĩ,
làm việc của giáo viên và học sinh. Đặc biệt cần tăng cường sử dụng những
phương tiện dạy học nhằm tạo môi trường tương tác cho học sinh học tập trong
hoạt động và phát triển năng lực chủ động, tự giác, tích cực và sáng tạo của học
sinh, tạo điều kiện cho các em thực hiện hoạt động học tập độc lập.
Sử dụng phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời hỗ trợ cho
- HS1: Bệnh nhân có thể chữa khỏi nếu điều trị kịp thời và làm theo lời
khuyên của bác sỹ.
- HS2: Bệnh này có thể lây sang người khác không?
- HS1: Có, bệnh lây từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp.
Thông qua cách sắm vai này tạo cho học sinh phấn khởi, trí tò mò khám phá
và theo dõi nội dung câu chuyện để từ đó rút ra nguyên nhân, biểu hiện, đường lây
của bệnh lao phổi thông qua phương pháp dạy học quan sát và vấn đáp.
* Cách 2: Sử dụng đĩa skycare TN&XH lớp 3, bài “Bệnh lao phổi” qua
việc trình chiếu câu chuyện để học sinh hiểu rõ được nội dung câu chuyện giữa
bác sỹ và bệnh nhân lao phổi. Với cách làm này thay cho việc giáo viên kể
chuyện vừa không mất thời gian chuẩn bị mà giáo viên không phạm phải lỗi nói
nhiều trong giờ học mà vẫn đạt được mục tiêu của hoạt động.
2. Ứng dụng công nghệ thông tin” vào dạy môn TN&XH .
Tâm lý học sinh Tiểu học là tư duy hình ảnh và đi từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng. Nếu trong một tiết dạy, học sinh được quan sát và nhìn
thấy những hình ảnh sống động, thực tế để từ đó rút ra được những kiến thức
cần đạt trong một tiết học là phù hợp. Vì vậy, với thời đại công nghệ thông tin
phát triển mạnh thì chúng ta hãy thay thế việc chuẩn bị tranh ảnh bằng việc soạn
các bài giảng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì kết quả giờ học rất
cao mà không tốn kém tiền của và thời gian.
Ví dụ ở lớp 3: Bài “Bề mặt lục địa” lớp 3; tiết 67 trang 128, 129.
- Để HS nắm được bề mặt lục địa, tôi cho HS quan sát bức tranh minh họa
để từ đó nhận xét và rút ra kết luận về bề mặt lục địa, có chỗ cao (đồi núi), có
chỗ đồng bằng (đồng bằng, cao nguyên), có những dòng nước chảy (sông, suối)
8
và những nơi chứa nước (ao, hồ),…
Hoạt động 1: Nhận biết về bề mặt lục địa:
Đối với hoạt động này, tôi sử dụng 1 slide với 5 hiệu ứng sau để học sinh
để chất lượng môn TN&XH đạt kết quả cao. Hầu hết các bài học thuộc chủ đề
con người và sức khỏe - Xã hội đều có nội dung cần sử dụng tranh phục vụ bài
học. Cụ thể các bài sau:
* Chủ đề “Con người và sức khỏe” gồm 14 bài sử dụng phương tiện, thiết
bị và đồ dùng dạy học là tranh, ảnh phục vụ bài học. Các bài học này nếu không
có tranh ảnh thì quả thật rất khó dạy. Trong quá trình hình thành kiến thức theo
nguyên tắc từ gần đến xa, từ dễ đến khó, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng.
Ví dụ ở lớp 3: Bài 7 “Hoạt động tuần hoàn” SGK trang 16, 17.
Ở hoạt động 2, giáo viên yêu cầu cho học sinh chỉ động mạch, tĩnh mạch
và mao mạch; chỉ và nói đường đi của máu trên sơ đồ mà không có tranh minh
họa thì học sinh sẽ không thực hiện được nội dung bài học. Đồng thời nếu giáo
viên không cho học sinh nắm vững tên gọi và đường đi của máu thì học sinh rất
dễ nhầm lẫn và khó nắm được nội dung bài học.
* Chủ đề “Xã hội” gồm 12 bài sử dụng phương tiện, thiết bị và đồ dùng
dạy học là tranh ảnh phục vụ bài học. Các tranh ảnh này có thể sử dụng cho cả
bài học hoặc sử dụng cho một hoạt động dạy học nhưng lại làm cơ sở cho hoạt
động khác.
Ví dụ ở lớp 3: Bài 21, 22 “Thực hành phân tích và vẽ sơ đồ mối quan hệ
họ hàng” lớp 3 SGK trang 42, 43.
Ở hoạt động 1, giáo viên đưa ra bức ảnh chụp gia đình ông bà nội của
Ảnh Quang, Thúy hay ông bà ngoại của Hương, Hồng. Dựa vào ảnh hãy nói về
mối quan hệ giữa những người trong hình:
- Ai là con trai, ai là con gái của ông, bà (bố Quang, Thủy là con trai; mẹ của
Hương, Hồng là con gái).
- Ai là con dâu, ai là con rể của ông, bà (mẹ Quang, Thủy là con dâu; bố của
Hương, Hồng là con rể).
- Ai là cháu ngoại, ai là cháu nội của ông, bà (Quang, Thủy là cháu nội; Hương,
* Chủ đề “Tự nhiên” gồm 13 bài sử dụng phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy
học là tranh, ảnh phục vụ bài học. Các tranh ảnh này có thể sử dụng hoặc có thể
thay thế bằng vật thật làm tăng thêm tính thực tế của đồ dùng dạy học.
Ví dụ ở lớp 3: Bài 49 “Động vật” SGK lớp 3 trang 94, 95.
Đối với bài học này chúng ta cho học sinh quan sát tranh các con vật và
nêu một vài đặc điểm giống và khác nhau giữa chúng.
Với cách phân loại các bài học sử dụng phương tiện dạy học là tranh, ảnh
cụ thể như vậy, từ đó lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
phù hợp với từng bài, như vậy thì giờ học đạt hiệu quả cao hơn.
4. Sử dụng phiếu học tập môn TN&XH (Hoặc sử dụng Vở Bài tập TN&XH)
Trong thực tế, nhiều giáo viên khi dạy chỉ chú trọng đến việc đưa ra
những thiết bị dạy học là hình ảnh minh họa để học sinh tiếp thu kiến thức mới
nhưng lại chưa để ý tới việc cho học sinh thực hành ghi chép lại những kiến thức
đó thông qua hệ thống bài tập thực hành. Người ta hay nói “ Học đi đôi với
hành” là như vậy. Để học sinh có thể ghi nhớ kiến thức thì phiếu học tập là một
công cụ quan trọng giúp giáo viên tiến hành tổ chức hoạt động nhận thức cho
học sinh, đồng thời là cơ sở để học sinh tiến hành ghi chép các hoạt động một
cách tích cực, chủ động. Việc sử dụng phiếu học tập hay vở bài tập TN&XH nên
được sử dụng trong dạy kiến thức mới, ôn tập, kiểm tra,...thường được diễn ra
theo quy trình sau:
- Giáo viên nêu nhiệm vụ học tập, giao phiếu học tập cho học sinh, tùy theo
hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên giao cho mỗi học sinh một phiếu hay mỗi
nhóm một phiếu.
- Tiến hành quan sát, hướng dẫn và giám sát kết quả hoạt động của học sinh.
- Tổ chức cho một số cá nhân hoặc đại diện nhóm trình bày kết quả làm việc
với phiếu học tập. Hướng dẫn toàn lớp trao đổi, bổ sung hoàn thành phiếu học tập.
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh trao đổi chéo nhau để sửa chữa, đánh
giá kết quả làm việc với phiếu học tập của nhau trên cơ sở các kết luận của giáo
viên.
* Thiết kế phiếu học tập:
Ăn thấy không ngon.
Giáo viên đưa ra phiếu học tập trên cho học sinh làm việc cá nhân, sau đó
đại diện học sinh trình bày kết quả. Học sinh trao đổi phiếu học tập cho nhau để
kiểm tra kết quả. Giáo viên tiểu kết và đưa ra phương án đúng.
Qua phiếu học tập giúp học sinh nắm vững kiến thức về nguyên nhân,
biểu hiện của bệnh lao phổi một cách chủ động và có hiệu quả làm cho giờ học
mang lại hiệu quả cao.
- Phiếu học tập dành cho hình thức thảo luận nhóm:
Ví dụ ở lớp 2: Bài 17: “Phòng tránh ngã khi ở trường ” SGK trang 36,37
Hãy điền vào hai cột dưới đây những hoạt động nên và không nên làm để
giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác khi ở trường :
Hoạt động nên tham gia
Hoạt động không nên tham gia
13
Với cách sử dụng phiếu học tập như trên tạo không khí lớp học sôi nổi khi
thảo luận nhóm, học sinh tích cực và chủ động lĩnh hội các kiến thức của bài học.
5. Sử dụng vật thật khi dạy môn TN&XH :
Sử dụng vật thật môn TN&XH cũng như các môn học khác làm đồ dùng
dạy học sẽ tạo cho học sinh tính ham học hỏi, tò mò, khám phá và tích cực học
tập. Ngoài việc sử dụng tranh ảnh, ta có thể sử dụng vật thật để học sinh được
tận mắt quan sát, được cầm nắm và được ngửi,... Từ đó, giúp học sinh rút ra kiến
thức bài học một cách chính xác và dễ dàng. Trong chương trình môn TN&XH
lớp 3 hầu hết các bài thuộc chủ đề tự nhiên đều có thể nắm kiến thức từ vật có
thật. Đối với mẫu vật này có ở xung quanh chúng ta mà lại dễ kiếm nên việc sử
dụng hoàn toàn dễ dàng, hiệu quả sử dụng lại cao.
Ví dụ ở lớp1: Bài 23 “Cây hoa” SGK - trang 50
14
trời thấp xuống, có nhiều mây đen, gió làm cành cây nghiêng ngả, có những hạt
mưa rơi... Từ đó các em có những khái niệm ban đầu về các hiện tượng tự nhiên
và có ý thức mặc các loại trang phục phù hợp để giữ gìn sức khỏe.
Ví dụ ở lớp 2 : Bài 25, 26 “ Cây sống trên cạn và cây sống dưới nước ”
SGK trang 52, 53, 54, 55.
Ở tất cả các hoạt động của hai bài học này, học sinh đều có thể quan sát
thiên nhiên thực tế để rút ra nội dung bài học: Biết nhiều tên cây, biết về đặc
điểm, lợi ích và môi trường sống của từng loài cây. Từ đó giáo dục cho học sinh
ý thức bảo vệ cây và chăm sóc cây cho tốt từ những việc làm cụ thể của các em.
7. Sử dụng phương pháp trò chơi khi dạy học môn TN&XH
Đối với học sinh lớp 1, 2, 3, ở lứa tuổi này các em còn mang tính hồn
nhiên, chưa chú ý cao. Bên cạnh hoạt động học tập chủ đạo thì nhu cầu vui chơi,
giao tiếp với bạn bè rất cao, cần được thỏa mãn. Nếu người giáo viên biết phối
hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thỏa mãn nhu cầu vui
chơi, giao tiếp của các em “Học mà chơi, chơi mà học” thì chúng sẽ hăng hái,
say mê học tập và tất yếu kết quả của việc dạy học cũng đạt tới đỉnh. Đây cũng
là đặc thù của phương pháp dạy học, phương pháp trò chơi.
Sau đây là một số trò chơi có thể áp dụng cho học sinh khai thác nội dung
kiến thức bài học và củng cố nội dung bài:
a. Trò chơi: "Ai nhanh , ai khéo "
Ví dụ ở lớp 1 :Bài 6 “ Chăm sóc và bảo vệ răng ” trang 14 , 15 SGK
* Thời gian 5 phút
* Mục đích : Học sinh nhận biết được vai trò của răng để chăm sóc và bảo
vệ răng tốt hơn .
* Cách chơi: Mỗi em chỉ được dùng miệng ngậm que chuyển chiếc vòng
đến cho bạn khác mà không bị rơi thì thắng .
* Luật chơi: Thi đua giữa các tổ hoặc nhóm
- Trò chơi này được vận dụng cho các bài sau:
Bài 24: Cây sống ở đâu ? SGK trang 50,51 ( lớp 2 )
Bài 25: Cây sống trên cạn.
SGK trang 52,53 ( lớp 2 )
Bài 26: Cây sống dưới nước . SGK trang 53,54 ( lớp 2 )
Ví dụ ở lớp 3 : Dạy bài 48 “Quả” SGK trang 92, 93.
Sau khi giáo viên giới thiệu vào bài 48: Quả. Giáo viên yêu cầu học sinh
quan sát tranh, ảnh hoặc quả thật mà em vừa đem tới. Sau đó các em hãy đóng
vai, mượn lời quả đó để mô tả, giới thiệu về màu sắc, hình dạng, mùi vị của quả
mà em quan sát được.
Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm và điều khiển cuộc chơi: 1 HS ở nhóm A
đứng dậy và nói: Tôi sinh ra vào mùa hè, thân hình nhỏ bé tròn như viên bi.
Nhưng sau lớp vỏ màu nâu mỏng, tôi có lớp cùi trắng vừa ngọt lại vừa bùi và
lớp trong cũng là hạt đen huyền, óng ánh. Bạn có thấy tôi vừa ngọt và vừa thơm
không? Tôi là quả nhãn.
Khi HS của nhóm A nói xong được phép chỉ định 1 HS ở nhóm B “nói về
mình” như: Tớ vừa tròn như cậu nhưng tớ to hơn cậu rất nhiều. Ngoài vị ngọt và
thơm ra, tớ còn có màu sắc rất đẹp. Trong đỏ, ngoài xanh. Tớ là quả dưa hấu mà
mùa hè các cậu hay dùng đấy. Học sinh cứ tiếp tục chơi cho đến hết lượt.
Lưu ý: Trong trò chơi này giáo viên tôn trọng tuyệt đối sự tự giới thiệu về
sự vật của học sinh. Cho dù học sinh đó nói không hoàn toàn đúng về mùi vị hay
kích thước thì khi chốt kiến thức giáo viên mới sửa sai cho học sinh.
c. Trò chơi: Từ nào đây?
* Mục tiêu: Cung cấp một số kiến thức vể Mặt trăng, ngày và đêm trên Trái
đất; hoặc năm, tháng và mùa.
* Chuẩn bị: Giáo viên chép sẵn 1 đoạn văn hoặc câu văn đã điền sẵn sự
việc cần giới thiệu lên bảng, các sự vật được che lại bởi các thẻ có đánh số 1, 2,
3, 4. Các sự vật cần điền chép sẵn vào bảng phụ.
* Cách chơi: Giáo viên treo bảng phụ ghi sẵn các sự vật lên bảng. Giáo
16
d. Trò chơi: Hoa nào đẹp.
* Mục tiêu: Củng cố tên các bộ phận của các cơ quan trong cơ thể người
hoặc các Châu lục và Đại dương của Trái đất. Sự khác biệt giữa làng quê, đô thị,
… Rèn kĩ năng xếp hình và khả năng nhanh nhạy, óc phản xạ tốt.
* Chuẩn bị: Nhiều miếng bìa cắt hình cánh hoa, trên mỗi cánh có ghi tên
hoặc vẽ hình các cơ quan khác nhau trong cơ thể người như: Mũi, phế quản,
phổi,…(hay các Châu lục hay Đại dương, các hoạt động, công trình kiến thiết
của làng quê, đô thị,…)
- Chuẩn bị 4 bìa hình tròn làm nhị hoa, trong có ghi cơ quan hô hấp, cơ
quan tuần hoàn, cơ quan bài tiết nước tiểu, cơ quan thần kinh (hoặc 2 miếng bìa
ghi các Châu lục, các Đại dương, 2 miếng bìa ghi làng quê, đô thị,…).
- Nam châm băng dính dán sẵn vào các tấm bìa.
* Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm (hoặc 2 nhóm tùy theo số
17
lượng bộ nhị và cánh hoa chuẩn bị được).
- Giáo viên nêu yêu cầu: Hoa nào đẹp hơn là trò chơi yêu cầu các đội phải
tìm các cánh hoa sao cho phù hợp với nhị hoa rồi ghép lại thành bông hoa đẹp.
* Luật chơi: Sau khi giáo viên hô bắt đầu thì tất cả học sinh thứ nhất của
mỗi nhóm chạy lên lựa chọn nhị hoa cho nhóm mình. Tiếp đó học sinh chạy về
cuối hàng của nhóm để học sinh thứ hai chọn cánh,… Trò chơi cứ thế tiếp tục
cho đến khi cánh hoa cuối cùng được gắn. Đội nào gắn đẹp, nhanh, đúng là đội
thắng cuộc.
* Trò chơi được áp dụng cho các bài:
- Bài 17, 18: Ôn tập và kiểm tra: Con người và sức khỏe.
- Bài 20: Họ nội, họ ngoại.
- Bài 66: Bề mặt Trái Đất.
- Bài 69, 70: Ôn tập và kiểm tra kỳ II – Tự nhiên.
Ví dụ ở lớp 3: Bài 66 “Bề mặt Trái Đất” SGK trang 126, 127.
- Sử dụng phần mềm, giáo viên cần lựa chọn các tài liệu trực quan cần
cho từng phần của bài học và sử dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Qua gần một năm thực hiện thử nghiệm trên 3A lớp 1A, 2A, 3B trong
năm học 2016 - 2017, kết quả đánh giá xếp loại môn học cuối học kỳ 1 năm học
2016 - 2017 đạt được như sau:
Xếp loại học lực môn kì 1 năm học 2016-2017
Lớp SS
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
1A
3B
38
15
39,45 %
23
60,55 %
0
0%
Qua kết quả đánh giá xếp loại cuối kì 1 của 3 lớp trên, ta có thể so sánh rõ
ràng kết quả của cả 3 lớp năm nay hoàn toàn có sự thay đổi lớn nhờ những biện
pháp mà bản thân tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học môn TN&XH. Số
lượng học sinh được xếp loại “Hoàn thành tốt” đạt cao, không còn học sinh
“Chưa hoàn thành” ngay tại thời điểm cuối kì 1.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Việc sử dụng phương tiện dạy học phù hợp vào dạy học môn TN&XH ở
tiểu học đã mang lại thành công bước đầu trong công tác đổi mới phương pháp
giảng dạy. Với phương pháp mới này, người thầy không còn giữ vai trò trung
tâm mà chuyển sang vai trò là người hướng dẫn học sinh khám phá và tiếp nhận
kiến thức.
Dùng phần mềm, giáo viên có sẵn những bài giảng điện tử nên tiết kiệm
tượng là học sinh của mình nên kết quả đạt được hoàn toàn thực tiễn.
Quá trình thực nghiệm được diễn ra vào thời điểm bắt đầu năm học 2016
– 2017 đến cuối học kì 1. Tôi đã tiến hành giảng dạy môn TN&XH trên nền giáo
án điện tử mà phần mềm hỗ trợ là violet và powerpoint, sử dụng thiết bị, phương
tiện và đồ dùng dạy học phù hợp với từng bài, từng hoạt động và từng mảng
kiến thức. Do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và trình độ Tin học có hạn
nên tôi không thiết kế được hết các bài giảng môn TN&XH để đưa vào giảng
dạy. Tuy nhiên, tôi đã cố gắng sử dụng thật hiệu quả những bài soạn do mình đã
thiết kế đưa vào vận dụng trong tôt khối chuyên môn để đồng nghiệp cùng chia
sẻ. Trên đây là những điều mà tôi đã nghĩ và đã làm về một vấn đề làm tôi tâm
đắc: “Sử dụng thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học dạy môn Tự nhiên và
xã hội khối 1,2,3 ”. Vì thời gian cũng như kinh nghiệm có hạn, nên không thể
tránh khỏi những sai sót trong khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm. Rất mong
được sự góp ý, bổ sung của các đồng chí và các bạn đồng nghiệp để đề tài của
tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2017
………………………………………………………
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
………………………………………………………
Người viết
………………………………………………………
3
Đối tượng nghiên cứu
1
4
. Phương pháp nghiên cứu
2
II. PHẦN NỘI DUNG
2
1
Cơ sở lí luận
3
2
Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
3