MỤC LỤC
Mục
A
I
II
III
IV
B
I
II
III
1
2
3
IV
C
I
II
Tiêu đề
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lý luận
Thực trạng
Giải pháp và biện pháp thực hiện
Giải pháp
Biện pháp thực hiện
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay sự phát triển kinh tế- xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra
những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu
mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Giáo dục cần
đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã
hội và thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động, tính năng động, sáng
tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực
giải quyết các vấn đề phức tạp.
1
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của đổi mới giáo dục. Định hướng của đổi mới phương pháp dạy học là phát huy
tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực hợp tác
làm việc của người học...
Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của
con người trong xã hội hiện nay. Chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác từ
trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên toàn thế giới. “Phương
pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ” chính là sự phản ánh xu thế đó.[1]
Trong nhà trường, phương pháp dạy học hợp tác được sử dụng phổ biến
trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 8 người. Hoạt động
hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay
cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành
nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ
lại; tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình
bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ. Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào
đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã
hội, làm quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Hiện nay, trong các nhà trường nói chung và trường THCS Yên Trung nói
Biện pháp sử dụng có hiệu quả phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm
nhỏ để giảng dạy môn Sinh học 6 tại trường THCS Yên Trung.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Thu thập, phân loại, tổng hợp các tài liệu và các sáng kiến kinh
nghiệm liên quan đến đề tài.
+ Nghiên cứu chương trình môn Sinh học lớp 6,
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, so sánh... để đánh giá thực trạng và
kết quả thực nghiệm.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
“Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ” còn được gọi bằng một
số tên khác như: “Phương pháp thảo luận nhóm”, hoặc “Phương pháp dạy học
hợp tác”... [2 ] là một trong các phương pháp dạy học tích cực đang được sử dụng
và cần được phát triển hơn nữa.
Từ xưa, ông cha ta đã có câu “Không thầy đố mày làm nên”; “Học thầy
không tầy học bạn”. Đúng vậy, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng,
thái độ đều được hình thành bằng con đường hoạt động độc lập cá nhân. Lớp
3
học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác
giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Trong kiểu dạy
học thông báo, giải thích, minh họa, thông tin đi từ thầy đến trò, quan hệ giao
tiếp chủ yếu là thầy – trò. Trong phương pháp dạy học hợp tác thể hiện mối quan
hệ giao tiếp trò – trò. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của
giáo dục của nhà trường.
Đa số các đồng chí giáo viên trong nhà trường đã sử dụng các phương
pháp dạy học tích cực vào trong quá trình giảng dạy. Đối với môn Sinh học đã
4
có giáo viên dạy chính ban, có trình độ đại học, các đồng chí đều đã đạt giáo
viên dạy giỏi cấp huyện; do đó việc thực hiện giảng dạy các phương pháp đặc
trưng của bộ môn như: phương pháp trực quan, thí nghiệm, thực hành...tương
đối tốt và mang lại hiệu quả tương đối cao.
Học sinh chăm ngoan; phong trào học tập ngày càng được phụ huynh
quan tâm; nhiều năm liên tục nhà trường đều có học đạt giải cấp tỉnh.
Hiện nay, cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ theo tiêu chí trường
chuẩn quốc gia. Phòng học thực hành Hóa - Sinh đầy đủ; bàn học sinh 2 chỗ
ngồi, ghế một chỗ ngồi, thuận tiện cho việc tổ chức hoạt động học tập theo
nhóm nhỏ; máy chiếu được trang bị ở các phòng học bộ môn thuận lợi cho việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy.
1.2. Hạn chế:
Đối với giáo viên, trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa thường xuyên
quan tâm đến tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh, chủ yếu chỉ áp dụng vào
các tiết thao giảng. Bởi vì, khi sử dụng phương pháp hợp tác trong nhóm nhỏ,
thường mất thời gian, gây mất trật tự lớp học, dẫn đến “cháy” giáo án.
Đối với học sinh lớp 6, các em mới được làm quen với phương pháp mới
ở trường THCS, nên bước đầu việc tổ chức hoạt động nhóm gặp không ít khó
khăn, các em còn lúng túng, mất nhiều thời gian cho việc ổn định tổ chức nhóm.
Hợp tác làm việc giữa các thành viên không hiệu quả, một số em có thái độ ỷ lại
vào nhóm trưởng và một số thành viên học khá tích cực học tập, còn các em học
yếu, kém và nhút nhát ít hoặc không tham gia. Nhiều em còn rụt rè khi được cử
làm đại diện cho nhóm báo cáo kết quả thảo luận trước lớp.
Những hạn chế nêu trên đã dẫn đến giáo viên chưa sử dụng thường xuyên
15
44.1
10
29.4
Tổng
65
13
20.0
31
47.7
21
32.3
Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn Sinh học lớp 6 đầu năm học
(Tháng 9/2015)
Ghi
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TS
chú
Tên lớp
HS
TS % TS %
TS %
TS %
TS %
6A
31
nhóm nhỏ nên chưa thực sự hiểu rõ những ưu điểm của phương pháp đối với
quá trình dạy học; chưa đầu tư thời gian để soạn bài và tổ chức dạy học theo
phương pháp này; chưa xây dựng cho các em kỹ năng khi tham gia hoạt động
nhóm. Khi sử dụng phương pháp hoạt động nhóm phần lớn giáo viên chỉ chú ý
đến đối tượng học sinh khá, giỏi, các em học yếu kém đôi khi không có cơ hội
tham gia vì thời gian của tiết học không cho phép; chưa đa dạng hóa các hình
thức hoạt động nhóm để thu hút tất cả các đối tượng tham gia, vì vậy chưa kích
thích ham muốn được tham gia học tập hợp tác theo nhóm của học sinh.
Bên cạnh đó cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng với yêu cầu tổ
chức hoạt động nhóm cho học sinh như: chưa có phòng học bộ môn để tổ chức
tốt các tiết thực hành; bàn ghế học sinh năm chỗ ngồi, hư hỏng nhiều..., điều đó
đã ảnh hưởng đến việc tổ chức giảng dạy theo phương pháp hợp tác trong nhóm
nhỏ của giáo viên trong quá trình giảng dạy.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1. Giải pháp
“Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ” là một trong các phương
pháp dạy học tích cực, góp phần rất lớn vào quá trình dạy học, phát huy tính tích
cực chủ động sáng tạo và rèn kỹ năng sống cho học sinh. Để thực hiện tốt
phương pháp này yêu cầu đối với người giáo viên cần phải hiểu rõ những ưu
điểm của phương pháp để phát huy tối đa trong quá trình giảng dạy, đồng thời
cũng phải biết được những hạn chế để có những biện pháp phù hợp nâng cao
hiệu quả bài giảng. Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian vào trong quá trình
soạn bài, chuẩn bị các đồ dùng dạy học; phải đa dạng hóa các hình thức hoạt
động nhóm để thu hút học sinh tích cực tham gia.
Ngay từ đầu cấp (lớp 6), giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh cách tổ
chức hoạt động nhóm như thế nào? nội qui làm việc của nhóm ra sao? nhiệm vụ
cho từng thành viên trong nhóm được giao là gì? ... Phải tạo nên sự thi đua giữa
các nhóm để tạo động lực phấn đấu của từng thành viên trong nhóm và giữa các
nhóm với nhau từ đó kích thích ham muốn được tham gia học tập hợp tác theo
Trong phương pháp hoạt động nhóm, chú trọng vào phương pháp tự học
của học sinh. Đây là một hình thức học – dạy lẫn nhau. Học sinh phát triển năng
lực tự đánh giá khi có dịp so sánh với ý kiến của bạn, với kết luận của giáo viên,
tự điều chỉnh những sai sót của mình để vươn lên. Ngoài ra phương pháp dạy
học hợp tác trong nhóm nhỏ còn cung cấp được nhiều thông tin phản hồi kịp
thời cho giáo viên, giúp giáo viên điều chỉnh cách dạy, cách tổ chức và hướng
dẫn học sinh.
Như vậy, dạy học tích cực bằng phương pháp hoạt động nhóm thì hoạt
động của học sinh là chủ yếu, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, chỉ đạo
việc tìm tòi, khai thác kiến thức của học sinh. Qua đó đã phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo, tinh thần hợp tác trong học tập của học sinh
2.1.2. Hạn chế
Tuy nhiên phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ có những hạn chế
như sau:
Một số học sinh nhút nhát hoặc vì lý do nào đó không tham gia vào hoạt
động chung của nhóm. Nếu không phân công hợp lý, chỉ có vài học sinh khá,
giỏi tham gia, còn đa số học sinh khác không hoạt động.
Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau.
Thời gian có thể kéo dài.
Với những lớp sĩ số đông hoặc lớp trật hẹp, bàn ghế khó di chuyển thì khó
tổ chức hoạt động nhóm. Khi tranh luận, dễ dẫn tới lớp ồn ào, ảnh hưởng đến
các lớp khác.
7
Chính vì thế nên trong quá trình giảng dạy giáo viên phải căn cứ vào từng
nội dung kiến thức của từng bài; đặc điểm tình hình của từng lớp, từng nhóm
học sinh mà sử dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm cho phù hợp.
2.2. Công tác chuẩn bị bài soạn của giáo viên; quy trình hướng dẫn tổ
Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo nhiệm vụ. Tuy nhiên, nhóm
thường chia từ 4-8 em là phù hợp. Tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề
học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn
định trong cả tiết học hoặc thay đổi trong từng hoạt động, từng phần của tiết
học; các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc được giao các nhiệm vụ khác
nhau.
Quy trình của một hoạt động theo nhóm (trong một phần của tiết học, hoặc
một tiết) gồm các bước như sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp
8
- Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận hoặc nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận
thức;
- Tổ chức các nhóm, đặt tên cho các nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm, quy
định thời gian cụ thể, nội quy làm việc (quy ra điểm thưởng nếu các thành viên
đều tích cực hoạt động, nếu ngược lại thì nhóm lại bị trừ điểm) và phân công vị
trí làm việc cho các nhóm;
- Hướng dẫn cách làm việc theo các nhóm (nếu cần).
Bước 2 : Làm việc theo nhóm
- Các nhóm có thể tự bầu ra nhóm trưởng hoặc do giáo viên chỉ định. Các thành
viên trong nhóm có thể luân phiên nhau làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng phân
công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm thực hiện một phần công việc;
cử thư ký ghi chép kết quả thảo luận của nhóm.
- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm giải quyết nhiệm vụ được giao:
Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức (bằng lời, bằng
tranh vẽ, bằng văn bản viết trên giấy to...). Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều
được hoạt động tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người năng động và nổi
trội hơn. Các thành viên trong nhóm giúp nhau tìm hiểu vấn đề trong không khí
thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp chung
- Nhóm có học sinh khá, giỏi hỗ trợ học sinh yếu kém: Các học sinh khá,
giỏi đảm nhận trách nhiệm là người hướng dẫn, còn học sinh yếu kém được giúp
đỡ (cả 2 đối tượng đều được rèn luyện kĩ năng).
- Nhóm phân chia theo năng lực học tập khác nhau: Những học sinh yếu
hơn sẽ được giao các bài tập cơ bản, đơn giản; học sinh trung bình thì mức độ
cao hơn một chút; học sinh khá, giỏi sẽ nhận được thêm các bài tập ở mức độ
khó hơn nữa.
- Thành lập nhóm ngẫu nhiên: bằng cách đếm số, phát thẻ, bắt thăm....
cách phân nhóm này, tạo điều kiện để tất cả học sinh trong lớp đều có thể được
học tập chung nhóm, cùng được hợp tác với nhau.
- Nhóm ghép hình: Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lí,
học sinh được phát các mẫu xé nhỏ, những học sinh ghép thành bức tranh hoặc
tờ tài liệu đó sẽ tạo thành một nhóm. Cách chia nhóm này dùng để tổ chức các
trò chơi, không gây ra sự đối định.
- Phân chia nhóm với các bài tập khác nhau...
Tuy nhiên mỗi cách chia nhóm nêu trên đều có ưu điểm và nhược điểm, vì
vậy việc chia nhóm như thế nào để phù hợp với từng nội dung kiến thức của bài
học và phù hợp từng đối tượng học sinh, để phát huy tính tích cực học tập của
học sinh và mang lại hiệu quả giáo dục cao, phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,
năng lực và nghệ thuật tổ chức sáng tạo của người giáo viên.
2.3.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi phục vụ hoạt động nhóm
Nếu giáo viên chỉ yêu cầu học sinh đọc thông tin SGK, yêu cầu học sinh
quan sát tranh, mẫu vật một cách chung chung rồi tổ chức cho học sinh thảo luận
nhóm thì hiệu quả làm việc không cao.
Một kinh nghiệm cho thấy để phát huy tính tích cực của học sinh thông
qua làm việc hợp tác trong nhóm học sinh phải được nghĩ, được làm và được
trình bày, chia sẻ. Vì vậy trước khi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm giáo
viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi mang tính định hướng giúp học sinh có hướng
nghiên cứu đúng và sát với mục tiêu.
Đối với những nội dung thông tin SGK dài, không có yêu cầu trả lời các
dụng hình thức học sinh làm việc cá nhân hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp.
Không nên lạm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức,
tránh lối suy nghĩ: đổi mới phương pháp dạy học là phải sử dụng hoạt động
nhóm. Chỉ những hoạt động đòi hỏi sự phối hợp của các cá nhân để nhiệm vụ
hoàn thành nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoạt động cá nhân, mới nên sử dụng
phương pháp này.
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao, người giáo viên cần phải biết phối
kết hợp các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phương pháp dạy học
hợp tác trong nhóm nhỏ và cần đặc biệt quan tâm chú trọng đến các phương
pháp dạy học đặc trưng của bộ môn Sinh học.
3. Bài soạn – giảng vận dụng: Môn Sinh học 6
CHƯƠNG II: RỄ
Tiết 8 – Bài 9: CÁC LOẠI RỄ, CÁC MIỀN CỦA RỄ
I. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- HS biết được cơ quan rễ và vai trò của rễ đối với cây.
- Học sinh nhận biết và phân biệt được hai loại rễ chính: Rễ cọc và rễ chùm
- Phân biệt được cấu tạo và chức năng các miền của rễ.
2. Kĩ năng
- Rèn kĩ năng quan sát, so sánh, kĩ năng hoạt động nhóm
- Nhận biết rẽ cọc, rễ chùm.
3. Thái độ
- Giáo dục ý thức bảo vệ thực vật.
II. Phương pháp
- Hợp tác trong nhóm nhỏ
11
- Trực quan
- Thực hành
(Nếu HS không trả lời được ->GV cung cấp thông
tin cho HS)
- Có mấy loại rễ? -> chuyển mục 1 (SGK)
HĐ2: Tìm hiểu các loại của rễ
1. Các loại rễ
Mục tiêu: Tìm hiểu các loại rễ và phân loại rễ
- Chia lớp thành 4 nhóm
BT1: Quan sát và ghi lại thông tin về những loại
rễ khác nhau.
- Y/c các nhóm đặt mẫu vật các loại cây mang đi
lên bàn, chia thành 2 nhóm, hoàn thành phiếu BT.
Nhóm
Tên cây
Đặc điểm chung của rễ
Đặt tên rễ
A
B
(GV có thể phát thêm mẫu vật cho các nhóm
chuẩn bị mẫu vật ít, chưa đủ 2 loại)
12
- GV hướng dẫn HS khi phân chia rễ chú ý đến
hình dạng, kích thước của các rễ trên cùng một
cây, cách mọc của rễ.
Hình ảnh: Học sinh hoạt động theo nhóm
lẫn nhau việc phân chia mẫu vật rễ cây thành 2
Có 2 loại rễ chính:
nhóm đã đúng chưa, nếu có cây chưa đúng thì
Rễ chùm
chuyển các cây lại cho đúng nhóm.
- Từ kết quả phiếu bài tập GV yêu cầu HS làm BT - Rễ cọc: Gồm rễ cái to khoẻ, từ
đó mọc ra nhiều rễ con
tiếp theo.-BT2:
* BT2-1 GV: Y/c HS hoàn thành nhanh BT điền - Rễ chùm: gồm những rễ con dài
gần bằng nhau mọc tỏa ra từ gốc
từ vào chỗ trống ∇ SGK/tr-29
thân thành một chùm
- Đại diện 1 nhóm đọc kết quả điền từ -> Kết
luận
-GV hỏi: Có mấy loại rễ chính? là những loại rễ
nào? nêu đặc điểm của từng loại rễ đó?
- Đại diện một nhóm nhìn vào BT2-1 đã hoàn
chỉnh đọc to cho cả lớp nghe.
- GV: Chốt lại kiến thức và ghi bảng
14
* BT2-2: Nhận biết các loại rễ cọc và rễ chùm
qua quan sát H9.2(Tr-30), ghi các tên cây có rễ
cọc, cây có rễ chùm vào chồ trống:
- Yêu cầu 1 học sinh lên bảng điền kết quả-> HS
khác nhận xét -> kết luận.
- GV đưa mẫu vật chuẩn bị cho 1 vài HS gọi tên
các cây có rễ cọc và các tên có rễ chùm. (HS yếu)
- 1-2 HS khác lấy các ví dụ khác về rễ cọc và rễ
làm các nhiệm vụ khác (các em sẽ được học ở
cuối chương II)-> giáo dục HS ý thức bảo vệ sự
đa dạng của Thực vật.
HĐ3: Tìm hiểu các miền của rễ
* Xác định các miền của rễ
- GV: + y/c HS hoạt động độc lập: tự n/c thông tin
SGK(tr-30) và ghi nhớ.
+ Treo tranh câm H9.3 lên bảng và đặt các
miếng bìa ghi sẵn các miền của rễ lên bàn.
- 1 HS lên bảng gắn các miếng bìa đó vào các vị
trí thích hợp của tranh câm.
Hình ảnh: HS gắn các miếng bìa vào tranh câm
H9.3.Các miền của rễ
- HS khác nhận xét đúng, sai, (sắp xếp lại nếu sai)
- Lớp thảo luận và thống nhất vị trí đúng của các
miếng bìa.
- GV chốt vị trí đúng, Đưa đáp án lên máy chiếu.
- ? Rễ cây có mấy miền? Hãy kể tên các miền?
- 1 HS trả lời CH, cả lớp ghi nhớ các miền của rễ
- GV chốt kiến thức và ghi bảng.
- GV: có thể cho điểm HS trả lời tốt
- 1HS lên bảng xác định các miền của rễ trên
tranh và 1 HS xác định trên mô hình.
* Tìm hiểu chức năng các miền của rễ.
-Bảng kiến thức (tr-30) được gắn thông tin cột
các miền của rễ, cột chức năng để trống
- HS nghiên cứu bảng kiến thức (tr- 30), ghi nhớ
kiến thức.
vệ, hóa bần để luồn dễ dàng trong đất.
?Có phải tất cả rễ của các cây đều có lông hút
không? -> các em đọc mục: Em có biết?
-GV giáo dục HS ý thức chăm sóc cây trồng:
- ?Muốn cho rễ phát triển tốt chúng ta cần phải
làm gì?
(Xới đất, làm cho đất tơi xốp)
- Là học sinh trong trường, các em phải làm gì để
góp phần làm xanh, sạch, đẹp môi trường sư
phạm? (trồng và chăm sóc cây xanh, bồn hoa...)
2. Củng cố
- HS đọc KL chung SGK
- GV tóm tắt lại các kiến thức trọng tâm của bài.
* Nếu còn thời gian cho HS chơi trò chơi: Tìm địa chỉ đúng (Tên và chức năng)
- Nhóm 3 và nhóm 4: Mỗi nhóm cử 4 HS tham gia chơi.
- Với 4 miếng bìa ghi tên 4 miền và 4 miếng bìa ghi chức năng 4 miền của rễ (đã
dùng để học ở mục 2) GV trộn lẫn 8 miếng bìa và phát ngẫu nhiên cho 8 HS của
cả 2 đội
* GV phổ biến luật chơi:
17
- HS của 2 nhóm sẽ tập trung thành 2 hàng dọc ở giữa hai hàng bàn ghế của lớp
(quay mặt xuống lớp), xếp theo thứ tự 1,2,3,4 lần lượt các miền của rễ như bảng
chuẩn kiến thức (Tr-30).
- Hàng bên trái là những HS cầm miếng bìa ghi tên các miền của rễ.
- Hàng bên phải là những HS cầm miếng bìa ghi chức năng các miền của rễ.
- Khi có hiệu lệnh các em HS phải chạy đến đúng vị trí theo nội dung ghi trong
miếng bìa mình được phát.
Ít quan tâm Ghi chú
bình thường
Tên lớp TS HS
gia
TS
%
TS
%
TS
%
6A
31
27
87.1
4
12.9
0
0.0
6B
34
32
94.1
2
5,9
0
0.0
Tổng
65
59
90.8
20.6 18
15.4 24
TB
%
TS
19.3 22
52.9 9
36.9 31
Yếu
%
TS
71.0 0
26.5 0
47.7 0
Ghi
chú
Kém
%
0
0
0
TS
0
0
0
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh. Qua đó rèn cho
các em kĩ năng giao tiếp, tính kỷ luật, tinh thần phối hợp, hợp tác làm việc trong
nhóm; ý thức tự giác vươn lên trong học tập, từ đó giúp các em làm quen dần
với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội hiện nay. Thực hiện có hiệu quả
“phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ” sẽ góp phần rất lớn vào việc
nâng cao chất lượng giảng dạy môn học và chất lượng giáo dục chung của nhà
trường.
Tuy nhiên, mỗi phương pháp dạy học đều có ưu điểm và nhược điểm. Một
phương pháp dạy học dù có nhiều tính ưu việt bao nhiêu đi nữa, nếu trong một
bài giảng chúng ta chỉ sử dụng mình phương pháp đó thì hiệu quả giáo dục sẽ
không cao. Vì vậy yêu cầu người giáo viên không vận dụng máy móc, rập khuôn
một phương pháp nào cả, mà cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các
phương pháp trong quá trình giảng dạy. Giáo viên phải thường xuyên cải tiến,
phát triển và làm phong phú thêm cho các hình thức tổ chức dạy học của mình
trên cơ sở kinh nghiệm và nghệ thuật của bản thân và kinh nghiệm học tập từ
giáo viên trong nhà trường và bạn bè, đồng nghiệp.
Để sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ, theo
tôi người giáo viên cần thực hiện các vấn đề sau:
- Đối với giáo viên: Cần phải nắm được những ưu điểm và hạn chế của
phương pháp để khi thực hiện biết phát huy những ưu điểm và cần phải tránh
những hạn chế ảnh hưởng không tốt đến quá trình học tập của học sinh.
Giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian cho việc chuẩn bị bài soạn: Phải
linh hoạt, sáng tạo và đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động nhóm phù
hợp với nội dung kiến thức của bài học, phù hợp với đặc điểm tâm lý và năng
lực của các đối tượng học sinh; phải luôn làm mới các hình thức tổ chức hoạt
20
động học tập, để kích thích tư duy sáng tạo cho học sinh, tạo tâm lý phấn khởi,
rất nhiều khi dạy các kiến thức về hoạt động sinh lý, các thí nghiệm ảo, cách tổ
chức các trò chơi, các bảng biểu, bài tập...
- Đối với tổ chuyên môn trong nhà trường: Cần duy trì thường xuyên công
tác dự giờ thăm lớp, nâng cao chất lượng các đợt thao giảng, để giáo viên được
học tập, trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ nâng cao tay nghề. Tăng
cường tổ chức các chuyên đề sinh hoạt chuyên môn: sử dụng và nâng cao hiệu
quả các phương pháp dạy học tích cực; ứng dụng công nghệ thông tin vào trong
quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy các bộ môn, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường.
- Đối với Ban giám hiệu nhà trường cần phải quan tâm đến công tác mua
sắm thêm các trang thiết bị dạy học cho các môn học nói chung và môn Sinh
học nói riêng như: các dụng cụ thí nghiệm thực hành, hóa chất, tranh ảnh...; lắp
21
máy chiếu cho các phòng học để thuận tiện cho công tác giảng dạy bằng giáo án
điện tử của giáo viên. Ban giám hiệu cần làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa
giáo dục, tranh thủ sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm, phối hợp với Hội cha mẹ học
sinh, tạo nguồn kinh phí cho công tác thi đua khen thưởng động viên khích lệ
giáo viên và học sinh đạt thành tích cao trong giảng dạy và học tập, để tạo động
lực thúc đẩy phong trào dạy và học của nhà trường ngày càng phát triển góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Trên đây là “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học
hợp tác trong nhóm nhỏ” đối với môn Sinh học 6 ở trường THCS Yên Trung,
nơi tôi đang công tác. Bản thân tôi đã rất cố gắng thực hiện, nhưng chắc hẳn sẽ
không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được các bạn đồng nghiệp và Hội đồng
khoa học các cấp góp ý để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Tho
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng trường THCS Yên Trung
TT
1
2
3
4
5
Tên đề tài SKKN
Phát huy tính tích cực học tập
của học sinh thông qua giảng
dạy môn Sinh học bậc Trung
học cơ sở
Công tác bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ giáo viên ứng dụng
công nghệ thông tin vào
trong quá trình giảng dạy
Một số biện pháp chỉ đạo của
Phó hiệu trưởng nhằm nâng
cao chất lượng sinh hoạt tổ
Phòng
GD&ĐT
Yên Định
Phòng
GD&ĐT
Yên Định
Phòng
GD&ĐT
Yên Định
C
2011-2012
B
2013-2014
B
2014-2015
B
2015-2016
B
2016-2017
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
25