Một số kinh nghiệm sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học môn toán lớp 3 trường tiểu học đông nam, đông sơn, thanh hóa - Pdf 44

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Toán học rất đa dạng và phong phú; đối tượng của toán học là những quan hệ về
số lượng và hình tượng, không gian của thế giới hiện thực, những đối tượng đó có đặc
tính trừu tượng và khái quát. Trong khi đó đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học
lại mang nặng cảm tính cụ thể và trực quan. Nhiệm vụ của việc dạy toán ở Tiểu học là
giúp học sinh nhận thức được một số kiến thức cơ bản ban đầu về số học, hình học và
đo đại lượng....Thực tế là giúp học sinh nhận thức được một số quan hệ sơ giản về số
lượng và làm quen với một số kiểu hình học gần gũi với đời sống sinh hoạt hàng ngày
cuả các em. Vì vậy người giáo viên Tiểu học, khi dạy toán phải từng bước giải quyết
được mâu thuẫn nội tại giữa hai mặt: Đặc điểm nhận thức của học sinh với yêu cầu
chính xác của kiến thức toán học. Tức là một mặt phải làm cho những quan hệ toán
học bớt trừu tượng đối với nhận thức của trẻ, mặt khác phải tạo điều kiện để phát triển
tư duy trừu tượng và khái quát ở trẻ. Một trong những giải pháp khá hiệu quả là sử
dụng phương tiện dạy học nói chung và đồ dùng dạy học toán nói riêng.
Như vậy, phương tiện dạy học toán nói chung và đồ dùng dạy học toán nói
riêng có ý nghĩa như những điểm tựa ban đầu cho hoạt động tư duy của trẻ để nhận
thức các kiến thức toán học trừu tượng.
Hiện nay, theo yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học thì khi dạy toán ở
Tiểu học, giáo viên cho học sinh cách học trên cơ sở hoạt động thực hành, thực
nghiệm, quan sát thực tiễn....để tự tìm lấy một số kiến thức. Nếu lúc học sinh cũng chỉ
được thực hành với một cây bút và quyển sách giáo khoa thì khó lòng đạt được những
yêu cầu đặt ra. Vì thế nhiều phương tiện và đồ dùng dạy học toán đã được chế tạo
nhằm hỗ trợ việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên và học sinh Tiểu học
(đặc biệt giáo viên có trình độ đại học).
Ở lớp 3 đồ dùng dạy toán thường là các mô hình, vật tượng trưng (các hình học
bằng bìa, nhựa hay gỗ mỏng để học các số và hình, các chấm tròn, que tính, mô hình
mặt đồng hồ, các khuôn hình con vật như con voi,...), đó là những vật dụng dễ làm,
khá đơn giản và dễ sử dụng.
1

huyện Đông sơn, tỉnh Thanh Hóa” với mong muốn góp phần công sức nhỏ bé của
2


mình vào việc nâng cao chất lượng dạy và học tại trường Tiểu học Đông Nam, huyện
Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
2. Mục đích nghiên cứu :
Giúp cho giáo viên sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học ở lớp 3, tạo cho học
sinh hứng thú trong học tập đạt kết quả cao.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học môn Toán lớp 3.
PHẦN II
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận:
Trong dạy học Toán để tích cực hóa hoạt đồng học tập của học sinh, giúp các
em nắm kiến thức môn học một cách dễ dàng, vững chắc, ghi nhớ lâu và vận dụng
thực hành tốt ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau và phối hợp
nhịp nhàng các phương tiện, đồ dùng dạy học thì sẽ phát huy được sự tự giác, tích cực
của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. Trong quá trình dạy môn Toán,
việc sử dụng đồ dùng dạy học đang được giáo viên quan tâm vận dụng trong dạy
Toán. Bởi lẽ sử dụng đồ dùng dạy học Toán giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách
trực quan, học sinh được nhìn, được thao tác trực tiếp trên đồ dùng. Đồ dùng dạy học
Toán trở nên hấp dẫn đối với học sinh, duy trì được sự chú ý của học sinh đối với bài
học, giúp cho các em sẽ thay đổi được các hoạt động trên lớp, học sinh phối hợp hoạt
động trí tuệ với các hoạt đông vận động.
Sử dụng đồ dùng dạy học Toán 3 xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí, quá trình
nhận thức của học sinh tiểu học: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng". Đồ
dùng dạy học Toán đẹp, khoa học được sử dụng hợp lý thì càng gây được hứng thú
cho người học, càng giúp cho người học nhớ lâu kiến thức và biết cách vận dụng kiến
thức, kĩ năng một cách tích cực.

1.2. Một số đồ dùng dạy học Toán thường sử dụng khi dạy số học, hình học
và đo đại lượng ở lớp 3
a. Bộ đồ dùng dạy học số và phép tính:
Cấu tạo:

Gồm có:

+ Bộ các số 1, 10, 100, 1000, 10000:
+ 10 tấm nhựa trắng ghi số 1000
+ 10 tấm nhựa trắng ghi số 10000
4


+ 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 1
+ 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 10
+ 10 tấm nhựa trắng hình e líp ghi số 100
- Bộ chấm tròn hoặc bảng nhân, bảng chia:
+ 10 tấm nhựa in 6 chấm tròn
+ 10 tấm nhựa in 7 chấm tròn
+ 10 tấm nhựa in 8 chấm tròn
+ 10 tấm nhựa in 9 chấm tròn
-15 bảng ô vuông (mỗi bảng có 100 ô vuông)
- 10 thẻ ô vuông (mỗi thẻ có 10 ô vuông)
- 10 ô vuông nhỏ.
b. Bộ đồ dùng dạy học đại lượng và đo đại lượng ở lớp 3
* Cấu tạo: Gồm có:
- Thước đo độ dài dạy mm, cm, dm, m.
- Cân đĩa và hộp quả cân.
- Mô hình đồng hồ quay được kim giờ và kim phút, có các vạch chia rõ ràng.
c. Bộ đồ dùng dạy học các yếu tố hình học ở lớp 3

trường, đội ngũ giáo viên đã xác định được vai trò quyết định của mình trong việc
nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Chính vì lẽ đó, giáo viên thật sự tích
cực tham gia vào hoạt động giáo dục một cách tự giác với mong muốn được cống hiến
hết mình.
b. Khó khăn:
Bên cạnh những mặt tích cực mà tôi đã nêu ở trên, hiện nay việc sử dụng và
khai thác các đồ dùng dạy học toán ở lớp 3 của một số giáo viên còn hạn chế, thậm
chí còn có trường hợp dạy chay ở một số tiết học. Cụ thể của những hạn chế đó là:
- Giáo viên không thành thạo, thậm chí không chú ý những thao tác kĩ thuật
trong khi sử dụng đồ dùng. Vì vậy đôi khi họ dùng một cách hình thức trên lớp mà
không có hiệu quả. Không ít giáo viên còn sử dụng đồ dùng dạy học một cách chưa
đúng lúc, đúng mức độ của nội dung bài dạy. Một số giáo viên Tiểu học còn lúng túng
trong việc hướng dẫn học sinh cách sử dụng đồ dùng dạy học.

6


- Bảo quản đồ dùng dạy học của một số giáo viên và học sinh còn chưa tốt, dẫn
đến tình trạng thất lạc, hoặc mất một số bộ phận của đồ dùng, hỏng, han gỉ, không còn
giá trị sử dụng. Do đó khi sử dụng những đồ dùng đó vào bài giảng, không mang lại
hiệu qủa.
- Một số giáo viên còn ngại sử dụng vì sợ mất thời gian hoặc có dùng thì chỉ làm
mẫu cho học sinh quan sát chứ không tổ chức cho học sinh thực hành.
- Hiện nay hầu hết các trường Tiểu học trong huyện không có những phương
tiện dạy học hiện đại: Máy vi tính, băng đĩa hình.... nên giáo viên không biết sử dụng
khai thác chúng phục vụ cho việc dạy và học.
Để biết được thực trạng sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học của giáo viên Tiểu
học, ngay từ đầu năm học, khi dạy toán lớp 3, tôi đã sử dụng một hệ thống phiếu điều
tra bao gồm: Các câu hỏi dưới dạng test khách quan với nội dung điều tra như sau:
- Điều tra nhận thức của giáo viên về vai trò, tác dụng của đồ dùng dạy học.

SL tiết

%

SL tiết

%

2

33.2

4

68.8

Học sinh làm Học sinh làm
việc chủ động việc thụ động
với ĐD học với ĐD học
tập
SL
tiết
2

%
33.2

tập
SL
tiết

- GV lấy một tấm nhựa in hình 6 chấm tròn gài lên bảng
- GV yêu cầu học sinh nhận xét số chấm tròn có trên tấm nhựa
8


- GV nêu: 6 được lấy 1 lần ta viết: 6 x 1 = 6
- GV hướng dẫn học sinh đọc: Sáu nhân một bằng sáu
- Yêu cầu học sinh đọc:
- GV gắn tiếp 2 tấm nhựa và nói: có 2 tấm nhựa, mỗi tấm có 6 chấm tròn. Hỏi
có bao nhiêu chấm tròn? (12 chấm tròn).
- GV yêu cầu học sinh nhận xét 6 chấm tròn được lấy mấy lần.
- GV vừa nói vừa ghi bảng: 6 được lấy 2 lần ta có: 6 x 2 = 6 + = 12
Vậy: 6 x 2 = 12
Cho học sinh đọc: sáu nhân hai bằng mười hai
- Tương tự như vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh thao tác trên đồ dùng để tự
lập tiếp đến: 6 x 10 = 60. Khi có đầy đủ 6 x1 đến 6 x 10, giáo viên giới thiệu đây
chính là bảng nhân 6.
Nhận xét: Cách sử dụng và khai thác các thẻ in 6 chấm tròn như trên của giáo
viên còn chưa hợp lý, bởi giáo viên chưa tận dụng được kĩ năng đã có của học sinh
khi học các bảng nhân từ 2 đến 5 (ở toán 2). Giáo viên phải làm mẫu nhiều trong khi
học sinh có thể tự thao tác trên đồ dùng, từ đó hình thành bảng nhân 6. Do đó học sinh
học một cách thụ động.
+ Cách làm mới:
Trước khi học bài mới giáo viên yêu câu học sinh ôn lại các bảng nhân từ 2 đến 5.
- Yêu cầu học sinh lấy một thẻ có 6 chấm tròn và giơ lên.
- GV kiểm tra học sinh lấy có đúng không.
- Yêu cầu học sinh nhận xét 6 chấm tròn được lấy mấy lần.
- Yêu cầu học sinh nêu cách viết kết quả tương tự bảng nhân 5 đã học.
- GV xác nhận kết quả và tiến hành từng thao tác
+ Thao tác 1: Lấy một thẻ có 6 chấm tròn gài vào bảng cài sau đó giới thiệu:

vuông, góc không vuông cho học sinh.
Góc không vuông

Góc vuông
A

Góc không vuông
B

§ây là cái Êke

P

10


A
O

C

OC mmmmm
C

B
+ Cách giáo viên thường làm:
* Giới thiệu cái ê ke:
- Cho học sinh xem các ê ke và giới thiệu:
+ Đây là êke
+ Cấu tạo: Là hình tam giác có 3 cạnh.

+ GV vẽ cạnh AB và AC
B

B

A

A
C

C

- Tương tự như vậy, khi học sinh trả lời có 2 cạnh chung đỉnh B là BC & AB,
thì giáo viên vẽ cạnh BC để được hình tam giác vuông ABC.
- GV giới thiệu: Hình tạo bởi 2 cạnh chung 1 đỉnh là góc. Sau đó giáo viên chỉ
vào góc vuông, góc không vuông và giới thiệu.
Giới thiệu cách đọc trên góc:
GV chỉ vào hình vẽ và giới thiệu cách đọc trên góc:
- Góc vuông đỉnh O, cạnh OA, OB.
- Góc không vuông đỉnh A, cạnh AB, BC.
- Góc không vuông đỉnh O, cạnh OP, OC.
Yêu cầu học sinh thảo luận: Làm thế nào kiểm tra được góc vuông, góc không
vuông.
Yêu cầu các nhóm lên trình bày
GV chính xác hoá thao tác.
+ Thao tác 1: Đặt cho đỉnh góc vuông của ê ke trùng với đỉnh của góc
+ Thao tác 2: Đặt 1 cạnh góc vuông của ê ke trùng với 1 cạnh của góc.
+ Thao tác 3; Quan sát cạnh còn lại của góc (nếu trùng với cạnh góc vuông còn
lại của ê ke thì kết kuận đó là góc vuông. Nếu không trùng với cạnh còn lại của ê ke
thì kết luận đó là góc không vuông).

- Cho học sinh nhắc lại
- GV xúc một ít muối i ốt từ trong túi ra và yêu cầu học sinh nhận xét về vị trí
kim thăng bằng, vị trí 2 cân đĩa ( kim thăng bằng lệch về phía quả cân, đĩa cân có túi
muối i ốt cao hơn so với đĩa có quả cân )
- GV kết luận: muối i ốt nhẹ hơn 500g
- Yêu cầu học sinh nhắc lại
- GV đổ thêm một muối i ốt vào túi ( sao cho muối i ốt năng hơn 500g )
- Yêu cầu học sinh nhận xét về vị trí kim thăng bằng, vị trí 2 đĩa cân
- GV kết luận: Túi muối i ốt nặng hơn 500g
Yêu cầu học sinh nhắc lại
Nhận xét:
Với cách làm như trên, ta thấy giáo viên thực hiện các thao tác chưa được logic.
Bởi vì bài học có tên là gam, cho nên trước hết giáo viên cần giới thiệu đơn vị đo khối
lượng, hướng dẫn cách đọc, cách viết đơn vị đo khối lượng gam, sau đó giới thiệu
công cụ đo là cái cân. Mặt khác, trong khi thực hiện các thao tác, giáo viên chưa phân
biệt rõ kĩ năng sử dụng cân ở các trường hợp.
2. Cách làm mới
Giới thiệu đơn vị đo khối lượng gam
- GV hướng dẫn cách đọc, cách viết đơn vị đo gam
- GV cho học sinh quan sát quả cân 500g, 200g, 100g và cho học sinh nâng các
quả cân để cảm nhận khối lượng 500g, 200g, 100g.
Giới thiệu cái cân đĩa:
- Cho học sinh quan sát cái cân đĩa và mô tả cân theo cảm nhận
- GV chỉ vào cái cân đĩa và giới thiệu các bộ phận chính và công dụng của cái
cân
Giới thiệu cách so sánh khối lượng;
- GV đưa ra một miếng xốp và một viên gạch (miếng xốp có kích thước to hơn
viên gạch). Yêu cầu học sinh đoán xem vật nào nặng hơn, hay nói cách khác khối
lượng của miếng xốp lớn hơn hay nhỏ hơn khối lượng của viên gạch.
14


15


- Cho học sinh thực hành sử dụng cân đĩa để so sánh và xác định khối lượng
của một vật khác.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục
Để kiểm chứng hiệu quả các biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học. Tôi đã tiến
hành thực dạy ở hai lớp 3A và 3B ở trường Tiểu học Đông Nam.
a. Tổ chức dạy thực nghiệm
* Mục đích dạy thực nghiệm:
- Vận dụng các biện pháp cải tiến vào dạy học ở một số dạng bài cụ thể.
* Phương pháp thực nghiệm:
- Lập kế hoạch, tổ chức dạy thực nghiệm, có đánh giá của tổ chuyên môn, BGH.
- Sau một tiết tiến hành kiểm tra kết quả của học sinh lớp 3 làm căn cứ đánh giá.
Nội dung thực nghiệm: Dạy một tiết
Bài: Góc vuông, góc không vuông (Toán 3)
b. Kết quả dạy thực nghiệm
Sau khi dạy xong bài: Góc vuông, góc không vuông (Toán 3), tôi đã xin ý kiến
Ban giám hiệu tiến hành khảo sát học sinh ở 2 lớp:
Lớp 3A: Trường Tiểu học Đông Nam: Lớp thực nghiệm
Lớp 3B: Trường Tiểu học Đông Nam: Lớp đối chứng
Thời gian: 10 phút
Nội dung khảo sát: Dành cho cả hai lớp)
- Nội dung 1: Gọi học sinh (ngẫu nhiên) lên bảng dùng eke để nhận biết góc
vuông, góc không vuông.
+ Giáo viên vẽ sẵn

Góc 1



biÕt

Líp thm ®óng
gia

gãc

S
L
3A

5

5

3B

5

3

NhËn
biÕt

Thao

cha

t¸c

cha

®óng

®óng

S

% L
10
5
0
0
6
3
2
0

%
0
4
0

S
L
5
4

%
10

0

Thao
t¸c cha
®óng

S
L
0

80 1

%
0
20

1. Kết quả nghiên cứu:
Qua quá trình giảng dạy tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm về sử dụng và
khai thác hiệu quả đồ dùng dạy học khi dạy học toán ở lớp 3 và áp dụng trong các bài
dạy cụ thể ở năm học 2015 - 2016 thu được kết quả như sau:
17


Tổng
số tiết
dạy
Lớp

sau
khi áp


học tập
%

SL
tiết

%

SKKN
3

3

3

100

0

0

3

100

0

0


dùng dạy học là quá trình thể hiện nhuần nhuyễn giữa các yếu tố: Trình độ chuyên
môn và năng lực sư phạm của giáo viên với những thao tác thực hành kheó léo, với
ngôn ngữ giảng dạy ngắn gọn, rõ ràng. Tát cả những điều này không thể hình thành
“ngày một, ngày hai” mà phải có quá trình tích luỹ lâu dài, liên tục. Đây cũng là vấn
đề đặt ra mà mỗi người giáo viên chúng ta cần phải quan tâm và ngày càng hoàn thiện
trong quá trình giảng dạy.
Qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu, tôi đã đạt được một số kết quả bước đầu như
sau:
- Biết được cấu tạo cũng như cách sử dụng ĐDDH toán lớp 3. Biết được công
dụng của từng loại đồ dùng Toán 3. Biết cách sử dụng hợp lí bộ đồ dùng.
- Tôi đã nhận thức rõ nét tầm quan trọng của việc sử dụng bộ đồ dùng Toán 3
trong dạy học. Ngoài ra, tôi đã đưa ra được một số biện pháp sử dụng bộ đồ dùng
Toán 3 một cách có hiệu quả đó là :
+ Biện pháp 1: Sử dụng bộ đồ dùng dạy học số và phép tính
+ Biện pháp 2: Sử dụng bộ đồ dùng dạy học đại lượng và đo đại lượng
+ Biện pháp 3: Sử dụng eke trong việc kiểm tra góc vuông, góc không vuông.
- Tìm hiểu và đưa ra cách khai thác chức năng và nâng cao hiệu quả một số đồ
dùng trong bộ đồ dùng dạy học toán ở các lớp 3.
- Minh hoạ việc sử dụng và khai thác một số ĐDDH khi dạy toán ở lớp 3.
Ngoài ra, còn tìm hiểu thực tế sử dụng đồ dùng dạy học toán ở Tiểu học hiện
nay và thấy rõ nhu cầu bức xúc cần phải sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học toán
để góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học.
19


2. Kiến nghị:
Đối với giáo viên:
Bản thân người giáo viên cần tự học hỏi, tự bòi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn của mình, trong đó có kĩ năng sử dụng và khai thác có hiệu quả đồ dùng
dạy học. Ngoài ra, mỗi giáo viên phải không ngừng tìm tòi sáng tạo tự làm ra những


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ
ĐỒ DÙNG DẠY- HỌC MÔN TOÁN LỚP 3 Ở TRƯỜNG TIỂU
HỌC ĐÔNG NAM, HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA

Họ và tên: ĐỖ THỊ NGA
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Đông Nam,
Huyện Đông sơn- tỉnh Thanh Hóa
SKKN thuộc lĩnh vực: Môn Toán

NĂM HỌC: 2015-2016
21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status