skkn MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN KHI DẠY PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2 DẠNG BÀI “ MỞ RỘNG VỐN TỪ ” - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TH NGUYỄN BÁ NGỌC
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ
DÙNG TRỰC QUAN KHI DẠY PHÂN
MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2
DẠNG BÀI “ MỞ RỘNG VỐN TỪ ”

- Người thực hiện: Văn Thị Sương
- Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: Luyện từ và câu
- Lĩnh vực khác:


(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Phần mềm
 Phim ảnh
 Hiện vật khác
BM02-LLKHSKKN

x



2


MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN KHI
DẠY PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2 - DẠNG BÀI “ MỞ
RỘNG VỐN TỪ ”

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong chương trình dạy ở Tiểu học môn Tiếng Việt là môn học có vị
trí hết sức quan trọng, nó vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ, nó
chiếm thời lượng lớn nhất trong tất cả các môn học. Một trong những phân
môn của môn Tiếng Việt, hỗ trợ rất nhiều cho việc giúp học sinh nắm nghĩa
của từ, biết dùng từ đặt câu, sử dụng các kiểu câu trong giao tiếp đó là phân
môn Luyện từ và câu. Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa
làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết
sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng
các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng
sử dụng các kiểu câu của người khác nói ra trong hoàn cảnh giao tiếp nhất
định. Bởi lẽ đó có thể nói rằng việc dạy luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 là
hết sức cần thiết.
Thế nhưng việc học luyện từ và câu ở trường tiểu học, đặc biệt ở học
sinh lớp 2 ( là lớp đầu tiên làm quen và học phân môn này) thì thật không dễ
chút nào. Đối với giáo viên thì chưa có sự sáng tạo về phương pháp dạy
luyện từ và câu. Về phía học sinh, vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc
tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, các em gặp nhiều khó khăn khi học tập
và giao tiếp. Một số em chưa chăm chỉ học tập, chưa hứng thú tham gia vào
giờ học Luyện từ và câu. Khả năng phân tích cấu trúc và vận dụng bài học
vào thực tiễn còn hạn chế. Mặt khác, ta biết rằng tư duy của các em học sinh

hơn nội dung của bài
Bên cạnh đó, ta biết rằng trực quan trong dạy luyện từ và câu cũng chính
là việc rèn luyện theo mẫu. Bởi lẽ, rèn luyện theo mẫu là thông qua những
mẫu cụ thể về lời nói hoặc mô hình lời nói, giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm hiểu đặc điểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu, biết cách tạo ra những lời nói
theo định hướng của mẫu. Mẫu là một phương tiện để “ thi phạm hóa”, học
sinh tiếp nhận ngôn ngữ không phải chỉ bằng cách quan sát mẫu một cách
tường minh. Mẫu thị giác, mẫu thính giác được dùng đồng thời hoặc đan
xen. Tùy thuộc vào đối tượng nhận thức trong từng trường hợp cụ thể mà
chọn mẫu cho phù hợp. Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu lớp 2 là
từ ngữ, câu…. ( Trích tài liệu: Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu họcNhà xuất bản Giáo dục- Bộ Giáo dục và Đào tạo) . Do đó, bên cạnh vật thật,
tranh vẽ, … như người ta vẫn thường quan niệm về đồ dùng trực quan trong
giờ học, trực quan trong giờ dạy Luyện từ và câu còn được hiểu là sử dụng
những ngữ liệu( lời nói, chữ viết) để học sinh được trực quan những câu,
những từ.
Trong các giai đoạn khác nhau của dạy Luyện từ và câu, cần phải sử
dụng trực quan với mục đích khác nhau: giai đoạn đầu, khi cho học sinh tiếp
xúc với các dấu hiệu của khái niệm, trực quan phải được sử dụng với mục
đích truyền đạt rõ ràng những dấu hiệu của hiện tượng nghiên cứu trong sự
biểu hiện cụ thể của nó trong lời nói. Phải chọn tài liệu trực quan sao cho
chúng thể hiện rõ đặc điểm ngữ pháp của hiện tượng được nghiên cứu. Có
như vậy, trực quan mới giúp học sinh có khả năng trừu tượng hóa dấu hiệu
của khái niệm, nhận biết ra hiện tượng nghiên cứu giữa những hiện tượng
khác tương tự như chúng. Khi ngữ liệu không tiêu biểu, nghĩa là không
truyền đạt rõ ràng dấu hiệu của hiện tượng nghiên cứu thì bị xem là không
đảm bảo nguyên tắc trực quan.
4


( Trích tài liệu: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II- Giáo

ở một số dạng bài tập không có tranh ảnh trực quan nên học sinh lúng túng,
gặp nhiều khó khăn, thậm chí không làm được các bài tập này.
+ Một số em chưa hứng thú, chưa tích cực tham gia vào giờ học Luyện
từ và câu.

5


Bảng thống kê điểm kiểm tra trước tác động ( Trước khi thực hiện đề
tài- Học kì I)
Số
Lớp

Lớp 2A1

Điểm/ Số học sinh đạt điểm
1

2

3

4

5

6

7



0

136

5.44

25

2

1

1

3

6

4

4

2

2

135

5.4

hình ảnh tư liệu phục vụ cho bài giảng có hiệu quả rõ rệt, giáo viên có nhiều
thời gian quan tâm đến các đối tượng học sinh.
6


Ví dụ: Chọn cho mỗi con vật dưới đây một từ chỉ đúng hoạt động của nó:
nhanh, chậm, khỏe, trung thành ( Bài tập 1, TV2 ,Tập 1, trang 142)
Dạng bài tập trên vừa có tác dụng giúp học sinh nhận biết “ nghĩa biểu
vật” của từ vừa có tác dụng giúp các em mở rộng, phát triển vốn từ. Đây là
những dạng bài tập dạy nghĩa từ đơn giản nhất. Khi hướng dẫn Hs giải các
bài tập này, chúng ta cần hướng dẫn học sinh đối chiếu từng từ cho sẵn với
hình ảnh tương ứng. HS đối chiếu đúng nghĩa là các em là các em đã nắm
được “nghĩa biểu vật” của từ.
Đối với dạng bài tập có một số hoạt động của người, học sinh có thể
đoán ra được nhưng cũng có những hoạt động nhìn qua học sinh trung bình,
yếu không có khả năng tìm được từ chỉ hoạt động tương ứng, giáo viên phải
có những câu hỏi gợi ý.
Ví dụ: (Bài tập 2 , TV2, tập 1,trang 59) tìm từ chỉ hoạt động tương ứng
trong tranh số 3. GV có thể hướng dẫn HS trung bình, yếu bằng các câu hỏi
gợi ý sau: Bức tranh vẽ cảnh gì? Bạn nhỏ đang làm gì? Từ chỉ hoạt động của
bạn nhỏ là từ nào? Bố bạn nhỏ đang làm gì? Từ chỉ hoạt động của bố bạn
nhỏ là từ nào?
Ở bài tập gọi tên các vật được vẽ ẩn trong tranh (tranh đố) các sự vật
được vẽ trong tranh không biểu hiện rõ ràng mà ẩn giấu trong tranh, phải
quan sát kĩ (kết hợp với tưởng tượng) mới nhận biết được. Giáo viên cần
phải gợi mở óc tưởng tượng của học sinh bằng những hình ảnh minh họa
hay câu hỏi dẫn dắt học sinh nhận ra hình ảnh cụ thể để từ đó mới hiểu được
nghĩa và từ cần tìm.
Ví dụ: (Bài tập 1, TV2, tập, trang 90) có một số đồ vật được vẽ ẩn, học
sinh khó nhận biết được, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm từ chỉ đồ vật

M: xoan
- Cây bóng mát
M: bàng
- Cây hoa
M: cúc
( TV2, tập 2, trang 87)
Làm bài tập trên, mặc dù đã có những từ mẫu( còn gọi là từ điểm tựa)
giúp HS HS hiểu rõ yêu cầu bài tập. Nhưng đối tượng HS yếu thường lúng
túng khi kể tên cũng như phân loại cây theo nhóm. Vì thế, giáo viên chuẩn
bị tranh ảnh một số loại cây để giúp HS nhớ tên gọi từ đó có cơ sở xếp vào
các nhóm theo yêu cầu bài.
Ví dụ: Hãy giải nghĩa từng từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó: trẻ con,
xuất hiện, cuối cùng, bình tĩnh.(TV2, Tập 2, trang 137)
Nếu từ cho sẵn có nghĩa trừu tượng, khó nhận biết, để trợ giúp hoạt
động tìm từ của học sinh, giáo viên giải thích nghĩa của từ cho sẵn và nêu
một số ngữ cảnh điển hình, trong đó có sử dụng từ cho sẵn ấy. Bên cạnh đó
nếu thấy nhóm học sinh nào còn lúng túng, giáo viên có thể dụng đồ dùng
trực quan để hỗ trợ thêm cho các em.
Đối với dạng bài tập trên, học sinh thường lúng túng khi tìm từ trái
nghĩa với từ bình tĩnh để giải nghĩa-> Vì thế tôi sưu tầm tranh có thể hiện
hoạt động của người( đang cuống quýt, hốt hoảng...), cho học sinh quan sát
tranh, đặt câu hỏi gợi mở để các em nêu được nội dung tranh, tìm được từ
cuống quýt, hốt hoảng.... Như vậy, thông qua tranh ảnh trực quan, tôi đã
giúp các em giải nghĩa từ bằng từ trái nghĩa với nó.
3. Loại bài sử dụng từ ( tích cực hóa vốn từ):
Mục đích cuối cùng của việc dạy từ là để HS sử dụng được từ trong
hoạt động nói năng. Ta biết rằng, có một số lượng từ rất lớn HS hiểu được
nghĩa nhưng chúng không đi vào vốn từ tích cực, không được học sinh sử
dụng trong giao tiếp của mình. Chính vì vậy, dạy sử dụng từ rất quan trọng.
Nhiệm vụ cơ bản của dạy từ ngữ là chuyển vốn từ tiêu cực của học sinh

câu với từ thương yêu tôi dùng tranh 1, TV2, tập 2 trang 100, đặt câu hỏi
gợi mở: Bác Hồ cùng các em thiếu nhi đang làm gì? Qua tranh, các em thấy
tình cảm của Bác Hồ với các cháu thiếu nhi như thế nào?; Tương tự, để đặt
câu với từ biết ơn tôi dùng tranh 2, TV2, trang 104: Các em thấy, các bạn
trong tranh đang làm gì? Các bạn thiếu nhi dâng hoa ở lăng Bác thể hiện
điều gì?) -> Như vậy với câu hỏi gợi mở cùng tranh hỗ trợ các em đã có thể
đặt được câu với từ yêu quý, biết ơn.

III. KẾT QUẢ:
Với một số kinh nghiệm nhỏ về việc sử dụng đồ dùng trực quan khi
dạy dạng bài “ Mở rộng vốn từ” ở lớp 2, tôi nhận thấy học sinh đã có sự tiến
bộ rõ rệt trong việc nắm nghĩa của từ, hệ thống hóa vốn từ cũng như biết sử
dụng từ một cách hợp lý. Điều này cũng góp một phần không nhỏ giúp các
em học tốt phân môn Tập Làm văn và các môn học khác trong nhà trường.
Bên cạnh đó, các em cũng biết sử dụng các kiểu câu vào giao tiếp đạt hiệu
quả cao hơn. Đặc biệt, các em yêu thích và hứng thú hơn với giờ học Luyện
từ và câu. Điều này sẽ tạo cho các em niềm tin, ý chí vươn lên trong học
tập.

9


Bảng thống kê điểm kiểm tra sau 3 tháng tác động ( sau khi thực hiện
đề tài - Cuối học kì 2)
Số
Lớp

Điểm/ Số học sinh đạt điểm

Tổng

10

điểm

1

1

4

4

2

6

4

3

189

7.16

2

7

5


Lớp thực nghiệm(2A1)

25

7.16

Lớp đối chứng(2A2)

25

5.96

Chênh lệch

1.2

IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Trong thực tế giảng dạy và trong quá trình nghiên cứu làm đề tài tôi rút
ra những bài học kinh nghiệm, đó là:
Trước hết, người thầy giáo phải luôn có lòng yêu nghề, có ý thức
trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn áp
dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy.
Nhiệm vụ quan trong bậc nhất của người giáo viên tiểu học là phải
nắm vững đối tượng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực, hoàn cảnh và sở
thích của từng em cũng như tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Phân loại được học
sinh, người giáo viên mới có thể áp dụng những pháp dạy học phù hợp với
từng nhóm đối tượng học sinh, với từng cá thể học sinh.
Phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của phân môn, xác định rõ mục tiêu
của tiết dạy để chuẩn bị đồ dùng trực quan một cách chu đáo và phù hợp với
nội dung bài cũng như với đối tượng HS.

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo
3. Sách giáo viên Tiếng Việt 2, tập 1, 2- Nguyễn Minh Thuyết ( chủ biên)
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và Đào tạo
4. Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II- Lê Phương Nga- Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm
5 Phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học- Nguyễn Hữu Châu- Nhà xuất
bản Giáo dục- Bộ Giáo dục và Đào tạo.
6. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học – Nhà
xuất bản Giáo dục( tập 33, 35)
NGƯỜI THỰC HIỆN

Văn Thị Sương

11


SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TH NGUYỄN BÁ NGỌC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Xuân Đông., ngày

tháng

năm

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011-2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan




2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 

-

- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai
áp dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
sách:

- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
Tốt 
Khá 
Đạt 

- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt 
Khá 
Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt 
Khá 

Bài 1/ Viết vào chỗ trống tên 3 loài chim: (3 đ)
a. Chim được người nuôi: gà, ….
b. Chim sống tự do trong thiên nhiên: sẻ, ……
Bài 2/ Tìm từ ngữ tả Bác Hồ để điền vào từng chỗ trống cho phù hợp.( 4đ)
a. Vẻ mặt Bác:…………………….
b. Mắt Bác :………………………
c. Vầng trán Bác:……………………
d. Nụ cười của Bác:………………
Bài 3/ Đặt một câu với từ “ đạm bạc” (3đ)

14


II.BẢNG ĐIỂM:
1. Lớp thực nghiệm:
STT Họ và tên
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Nguyễn Minh Nguyệt
Vũ Hoàng Oanh
Nguyễn Minh Quá
Nguyễn Văn Thâu
Trần Minh Tiến
Trần Đan Trường
Lý Giang Tuyên
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Quách Thành An
Lý Trần Sang
Mai Văn Toản

6
3
5
6
6
9
1
6
5
5
6
2
2
8
9
5
7
3

7
8
5
10
6


2. Lớp đối chứng:
STT Họ và tên
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

Nguyễn Cao Thăng
Nguyễn Văn Thâu
Tằng Thanh Tiến
Trần Đan Trường

8
6
8
5
6
2
6
1
8
7
2
5
7
6
1
8
5
2
1
7
2
6
7
2
6



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status