SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VẬN DỤNG DẠY HỌC
MĨ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP MỚI
CHO HỌC SINH LỚP 5
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Nga
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thành Kim
Thạch Thành,
Thanh Hoá
SKKN thuộc lĩnh vực:
Mĩ thuật
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài………………………......………………….
1
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………
1
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
15
dục, bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
4.1. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm………………………….
15
4.2. Đối với hoạt động giáo dục……………………………………
16
4.3. Đối với bản thân……………………………………………….
17
4.4. Đối với đồng nghiệp…………………………………………...
18
4.5. Đối với nhà trường…………………………………………….
18
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………..
19
1. Kết luận:.....................................................................................
19
2. Kiến nghị:...................................................................................
19
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn sáng kiến
[Thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW của ban chấp hành trung ương khóa
XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa- hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Năm học 2014 - 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo
chỉ đạo triển khai phương pháp dạy - học Mĩ thuật mới sử dụng những quy trình
mĩ thuật của SAEPS ở tất cả trường tiểu học trên toàn quốc. Nhưng đến năm học
2016 - 2017, trên địa bàn huyện Thạch Thành nói chung và ở trường Tiểu học
đề xuất với Ban giám hiệu, phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thạch Thành
nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
- Giúp các em hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi:
+ Sáng tạo mĩ thuật và qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
muốn,…)
1
+ Hiểu, cảm nhận và phản ánh được hình ảnh của sản phẩm/tác phẩm mĩ thuật
(phân tích, đánh giá được sản phẩm/tác phẩm).
+ Giao tiếp/trao đổi, tiếp nhận ý tưởng và ý nghĩa thông qua sản phẩm/tác phẩm
mĩ thuật.
- Ngoài mục đích nghiên cứu sáng kiến này còn giúp tôi bước đầu làm quen và
nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học cho bản thân. Qua đó tích lũy những
kinh nghiệm trong sự nghiệp dạy học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Quy trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ giáo dục
Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ.
- Giáo viên giảng dạy Mĩ thuật tại Trường Tiểu học Thành Kim.
- Học sinh lớp 5 - Trường Tiểu học Thành Kim.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện sáng kiến này, tôi vận dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nghiên cứu các văn bản,
chương trình giáo trình, tài liệu sách báo về phương pháp Đan Mạch cho môn
Mĩ thuật.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp quan sát sư phạm:
+ Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới tìm giải pháp rút kinh nghiệm.
+ Phương pháp quan sát, luyện tập thực hành
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
đánh giá học sinh. Dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới, học sinh như được
giải phóng khỏi khuôn mẫu, các em được phát huy khả năng sáng tạo, tiết học
thoải mái, sinh động hơn. Các em được “Học mà chơi, chơi mà học’’, thỏa sức
khám phá, tìm tòi, không bị gò bó, không sợ mình không biết vẽ mà được tự do
thể hiện sự sáng tạo với 7 quy trình mới. Học sinh được biểu đạt, giao tiếp,
khám phá rất nhiều điều bổ ích thông qua hình ảnh, từ đó tạo cơ hội cho các em
thực hành, ứng dụng trong học tập và hình thành kỹ năng sống trong lĩnh vực Mĩ
thuật để vận dụng linh hoạt vào cuộc sống, học tập hằng ngày. Vì thế trong quá
trình giảng dạy, tôi luôn phải cố gắng chuẩn bị tốt các khâu để động viên học
sinh thường xuyên, kịp thời và có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học
sinh và điều kiện thực tế ở địa phương. Và tôi cũng gặt hái được một số thành
quả đáng kể, phần lớn học sinh say sưa với môn học và hiểu được cái hay, cái
đẹp trong môn học, góp phần hình thành ở các em khả năng cảm thụ thẩm mĩ.
Khi học Mĩ thuật mới học sinh đã dần được hình thành những năng lực cơ bản
đó là: năng lực trải nghiệm (tức là học sinh có được những trải nghiệm về cách
nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và
biểu đạt).
Đối với dạy - học Mĩ thuật theo phương pháp mới là một phương pháp lạ
lẫm với lứa tuổi học sinh tiểu học. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu và rút ra được
một số kinh nghiệm để giảng dạy phương pháp này được tốt hơn. Giúp học sinh
tiếp thu bài học được nhanh hơn.
2.2.Thực trạng Trường Tiểu học Thành Kim:
2.2.1. Nhà trường:
Trường Tiểu học Thành Kim là trường chuẩn quốc gia, là một trong
những trường điểm của huyện Thạch Thành. Trong năm học 2017-2018, trường
có 584 học sinh (trong đó có 3 học sinh khuyêý tật) với 21 lớp, riêng khối lớp 5
có 107 học sinh.
2.2.2. Ban giám hiệu:
Ban giám hiệu thấy được vai trò của môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học. Để
nâng cao hiểu biết cho học sinh giúp các em có thêm kiến thức, kỹ năng trong
chuyên tu Đại học mĩ thuật và qua nhiều lớp bồi dưỡng chuyên môn của ngành.
- Hiện nay đối với môn mĩ thuật được ngành trang bị sách giáo khoa, sách
hướng dẫn giảng dạy cụ thể.
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho hoạt động
giảng dạy và tổ chức Câu lạc bộ Mĩ thuật.
- Môn Mĩ thuật hiện nay có chương trình của từng chủ đề rõ ràng.
2.2.6. Thực trạng của việc dạy - học môn Mĩ thuật - trường Tiểu học Thành
Kim.
* Thực trạng của môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch:
Giáo viên được đào tạo cơ bản, chính quy trẻ nên có sự nhiệt tình, yêu nghề
mến trẻ. Giáo viên được đào tạo và lĩnh hội các phương pháp dạy học mới phù
hợp và hiệu quả hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm vận dụng linh hoạt các phương
pháp dạy học chưa đạt kết quả cao, chưa áp dụng Công nghệ thông tin vào trong
giảng dạy nên chưa tạo được hứng thú cho học sinh. Do đó, hiệu quả của việc
dạy học chưa cao, học sinh chưa có hứng thú nhiều với môn Mĩ thuật theo
phương pháp Đan Mạch
- Các chủ đề của môn Mĩ thuật được sắp xếp hợp lí giúp học sinh dễ hiểu, dễ
theo dõi.
* Thực trạng nghiên cứu lớp 5:
Năm học 2017-2018, trường Tiểu học Thành Kim, khối lớp 5 có 107 học
sinh. .
- Thuận lợi:
+ Học sinh lớp 5 rất yêu thích môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch.
+ Học sinh lớp 5 luôn chờ đón các giờ học Mĩ thuật vì các em có thể tự do sáng
tạo những gì mà các em thấy tâm đắc và thích thú.
+ Học sinh lớp 5 hoàn thành tốt thao tác trải nghiệm nhanh, thuần thục hơn và
sản phẩm đẹp.
+ Đối với học sinh cá biệt, học sinh khuyết tật hứng thú hơn, ham thích hoạt
động tập thể.
4
TL
54
50.5%
41
38.3%
12
11.2%
5
107
Nhìn vào bảng khảo sát trên ta thấy tỉ lệ học sinh hoàn thanh và chưa hoàn
thành môn Mĩ thuật còn khá cao. Từ tình hình thực tế tôi nhận thấy việc vận
dụng các quy trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp dạy học Đan Mạch trong
mỗi buổi dạy để tạo hứng thú học tập cho học sinh là rất quan trọng và cần thiết.
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành điều tra tìm hiểu mục đích nghiên cứu,
tìm hiểu nguyên nhân, những điểm còn yếu trong quá trình học môn Mĩ thuật
theo phương pháp mới cho học sinh và tìm ra hướng khắc phục để công tác
giảng dạy và học đạt hiệu quả tốt hơn.
Ảnh chụp: Chủ đề 1: Chân dung tự họa
3. Các giải pháp đã được sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để giúp học sinh học tốt hơn môn Mĩ thuật theo phương pháp mới, tôi xin
đề xuất một số giải pháp như sau:
3.1. Giải pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí học sinh:
Tâm sinh lí của học sinh Tiểu học là thích được khen, ngại bị chê. Vì vậy
giáo viên cần phải động viên, khuyến khích học sinh, tạo hứng thú học tập cho
học sinh và tăng cường khen ngợi học sinh.
Khi học theo phương pháp mới, HS không còn ngại học nữa. Không khí
lớp học rất thoải mái, vui vẻ, trong giờ học theo nhóm, tùy theo khả năng của
mình, HS vẫn có thể cùng các bạn vẽ hoặc xé dán, nặn, tạo dáng, vật tìm được…
xóa đi mặc cảm cho những HS chậm tiến, khích lệ được nhiều HS yêu thích học
vẽ, phát huy tốt những HS có năng khiếu mỹ thuật”. Điểm nổi bật của phương
tượng học sinh cụ thể để quan tâm một cách kịp thời và phù hợp.
- Đối với học sinh hoàn thành tốt:
+ Có thể đặt thêm tình huống để học sinh phát huy tính sáng tạo.
+ Đối tượng học sinh này đã nắm vững kiến thức và 7 quy trình khi học Mĩ thuật
theo phương pháp mới.
- Đối với học sinh hoàn thành:
+ Cần hướng dẫn các em từng bước rõ ràng, có thể sử dụng đồ dùng trực quan
giúp các em tư duy cụ thể, nắm được mục tiêu, yêu cầu của chủ đề. Đồng thời
gợi ý cho các em lựa chọn cách tìm hiểu về các kho hình ảnh dễ làm, dễ kiếm để
thực hành một cách dễ dàng nhất.
- Đối với học sinh chưa hoàn thành:
+ Đối với đối tượng này cần quan sát sự tiến bộ để động viên kịp thời, để giúp
các em mạnh dạn, tự tin hơn khi chiếm lĩnh tri thức. Ngoài ra, thông qua hoạt
động nhóm các em biểu lộ được mặt ưu, khuyết điểm cá nhân bằng sự giúp đỡ
của học sinh có năng khiếu hoặc học sinh hoàn thành bài vẽ. Từ đó sẽ giúp đối
tượng học sinh chưa hoàn thành sản phẩm tiến bộ nhanh chóng.
Trên cơ sở điều tra nắm vững đối tượng học sinh lớp 5 của trường Tiểu
học Thành Kim mà tôi dạy, bản thân tôi luôn suy nghĩ, phải trăn trở làm thế nào
để nâng cao chất lượng giảng dạy. Tôi đã đề ra một số biệp pháp dạy học cụ thể
6
để nâng cao chất lượng và khả năng dạy và học môn Mĩ thuật theo phương pháp
mới.
3.4. Giải pháp 4: Nâng cao nhận thức về vai trò, tác dụng của môn Mĩ thuật
đối với giáo viên - học sinh lớp 5.
Để dạy và học môn Mĩ thuật thật sự đạt được hiệu quả cao thì vai trò tổ
chức dạy học của giáo viên bộ môn và các giáo viên chủ nhiệm là vô cùng quan
trọng, nếu ở họ có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất là yếu tố quan trọng đẩy
mạnh việc dạy và học Mĩ thuật, bởi trong nguyên tắc hoạt động đòi hỏi nhà
a. Quy trình 1: Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện:
Quy trình này có 6 hoạt động: Vẽ theo quan sát, trưng bày ngân hàng hình
ảnh, sáng tác tranh theo chủ đề, chia sẻ nội dung câu chuyện, tô màu làm phong
phú câu chuyện, tổ chức trưng bày và thuyết trình về bức tranh.
Đối với quy trình này tôi đã áp dụng với chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng
em (2tiết). Tôi đã áp dụng quy trình vẽ cùng nhau, với hình thức học tập này áp
dụng với cả lớp hoặc nhóm HS thực hiện hoạt động mĩ thuật theo mục tiêu bài
7
học. Học sinh lớp 5 được trải nghiệm vẽ cùng nhau được ký họa người theo trí
nhớ và tạo ra các ngân hàng hình ảnh để xây dụng câu truyện từ đó gây hứng thú
học tập giúp cho các em nâng cao hiểu biết về những tình huống, sự kiện trong
đời sống hàng ngày của các em. Học sinh đã tự tạo lại các dáng hoạt động đã có
sẵn trong tranh tạo ra các ngân hàng hình ảnh, từ những hình ảnh có sẵn các
nhóm tư duy cùng nhau suy nghĩ cùng thảo luận và sắp xếp bố cục sao cho hợp
lí.
Ảnh minh họa: Tranh HS vẽ cùng nhau.
Xây dựng câu chuyện Chú bộ đội của chúng em, tạo cho các em tư duy
hình ảnh, liên hệ thực tế tự tin diễn thuyết tăng khả năng ngôn ngữ biểu cảm,
vốn sống thực tế. Mặt khác, còn khuyến khích học sinh lựa chọn các nguyên vật
liệu từ ngân hàng tranh để hình thành câu chuyện bằng trí tưởng tưởng, thúc đẩy
học sinh lắp ghép các bức tranh từ ngân hàng tranh theo một bố cục và khuyến
khích các kỹ năng xã hội của học sinh bằng việc tổ chức các hoạt động theo
nhóm. Đối với bài này, tôi đã cho học sinh sử dụng các chất liệu dễ tìm, tự do
sáng tạo dưới mọi hình thức. Học sinh rất thích thú khi được tạo hình lại và sáng
tạo theo sở thích cá nhân, nhóm.
b. Quy trình 2: Vẽ biểu cảm
Quy trình này có 4 hoạt động: Vẽ quan sát và vẽ không nhìn giấy, thảo
luận về các đường nét biểu cảm, Thể hiện tranh biểu đạt bằng màu sắc, thảo luận
Tôi đã tổ chức cho học sinh sử dụng quy trình Vẽ theo âm nhạc với chủ đề 3:
Âm nhạc và sắc màu (3 tiết). Khi tôi cho học sinh nghe âm nhạc và giai điệu thì
học sinh rất thích thú, hưởng ứng rất nhiệt tình, gây hứng khởi cho học sinh, làm
cho học sinh năng động hơn có thể nhảy múa theo điệu nhạc. Âm nhạc và mĩ
thuật kết hợp với nhau để tạo cho học sinh trí tưởng tượng sự thích thú sáng tạo
trong trang trí, vẽ tranh con vật, đồ vật, học sinh vừa cảm thụ tiết tấu âm nhạc
vừa đưa màu theo giai điệu lúc nhanh lúc chậm, lúc đậm lúc nhạt từ bài vẽ các
em tiếp tục tư duy để có thể trang trí một đồ vật bất kỳ hay vẽ theo chủ điểm các
em thích. Đối với chủ đề này, học sinh hoàn thành sản phẩm một cách nhanh
chóng và yêu thích chủ đề.
Ảnh minh họa: Tranh vẽ quy trình vẽ theo nhạc cuả học sinh
d. Quy trình 4: Phương pháp xây dựng cốt truyện:
Quy trình này có 5 hoạt động: Tạo hình nhân vật (bằng cách xé dán - nặn
- dây thép - phế liệu - hoặc chất liệu khác…), giới thiệu tính cách của các nhân
vật tưởng tượng, từ hình tượng độc lập, liên kết thành một nội dung chủ đề,
tưởng tượng, thu thập kiến thức và tạo ra ngữ cảnh cho điểm đến, trình bày và
đánh giá.
Giáo viên là người giúp học sinh nắm được chủ đề bài tập, biết xây dựng cốt
truyện dựa trên mối quan hệ giữa các yếu tố sự kiện, nhân vật địa điểm kết hợp
các hình ảnh đơn lẻ thành câu truyện có chủ đề thông qua hình ảnh nhân vật.
Thông qua chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện (4 tiết), bản thân
tôi đã giúp học sinh hiểu được vai trò của hình tượng nghệ thuật tạo hình thể
hiện trên chất liệu đã chọn như vẽ, xé dán làm những vật từ các hình tìm được,
thổi hồn cho các nhân vật, biến các nhân vật trong hình có tính cách, nhân cách.
Từ đó, tôi đã giúp học sinh hiểu được yếu tố cơ bản của xây dựng cốt truyện là
nhân vật, sự kiện và xây dựng câu chuyện với lối kể truyện mở, tạo cấu trúc
lôgic để kết nối tiết học và các kỹ năng với cuộc sống xã hội thực. Tất cả học
sinh đều được hoạt động tích cực, kể cả học sinh cá biệt và học sinh khuyết tật.
Ảnh minh họa: Xây dựng cốt chuyện
đ. Quy trình 5: Phương pháp tạo hình 3D - Tiếp cận theo chủ đề (tạo hình từ
thích thú vì khi tham gia các hoạt động này các em được sáng tạo một cách linh
hoạt với các hình khối khác nhau. Qua đây, tôi thấy học sinh được trang bị
những kinh nghiệm và hiểu biết cơ bản về hình khối...
Với nội dung dạy học này học sinh tiếp thu bài nhanh, hoàn thành tốt sản
phẩm theo nhóm nhiều, có ý thức hoạt động nhóm. Từ đó, hình thành các ý
tưởng phác thảo dự trên quan sát sắm vai hoặc cảm giác khối và không gian. Tạo
ra những câu chuyện không gian được ghép nối từ nhiều hình khối.
Ảnh chụp: Điêu khắc - nghệ thuật tạo hình không gian
g. Quy trình 7: Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn. Quy trình này có 3 hoạt
động: Tạo sơ đồ tư duy với chủ điểm “Trình diễn múa rối”, tạo hình con rối,
diễn tập, biểu diễn và đánh giá buổi trình diễn múa rối.
Quy trình Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn trong chương trình học Mĩ
thuật lớp 5 chỉ có ở chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện (4 tiết) và
chủ đề 10: Cuộc sống quanh em (3 tiết). Từ đó giúp học sinh hiểu được hai loại
hình nghệ thuật này, những câu truyện dân gian, truyện cổ tích, truyền thuyết
v.v. đã được chuyển tải một cách sống động và gần gũi hơn với con người. Đối
với quy trình áp dụng cho chủ đề này, tôi đã cho học sinh xem nhiều đồ dùng do
bản thân chuẩn bị, hướng dẫn kĩ từng bước tạo hình để học sinh nhớ lại những
kỷ niệm về buổi biểu diễn múa rối, tạo tính cách cho nhân vật theo ý tưởng của
mình. Học sinh làm bài say sưa, tích cực, không có học sinh không hoàn thành
bài, sản phẩm của học sinh rất đẹp.
Ảnh chụp: Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn
3.6. Giải pháp 6: Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy Mĩ thuật theo phương
pháp Đan Mạch.
a, Đồ dùng dạy học của giáo viên:
Phương pháp dạy học trực quan là một trong những phương pháp dạy học
được ứng dụng nhiều trong giảng dạy ở Tiểu học. Xuất phát từ nhiệm vụ, nội
dung của môn học cũng như đặc điểm của phương pháp dạy học trực quan; tôi
nhận thấy phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học rất phù hợp
10
* Tranh, ảnh, mô hình (Tranh phiên bản của các họa sĩ trong nước và thế
giới, bài vẽ của học sinh, tranh vẽ và cách hướng dẫn của giáo viên, đồ vật
thật…)
Đồ dùng dạy học có nhiều loại như tranh phiên bản của họa sĩ trong nước
và thế giới, tranh vẽ của họa sĩ và học sinh, mẫu vật thực, máy chiếu đa
năng, ..Vì thế khi sử dụng tôi phải lựa chọn đồ dùng trực quan phù hợp với mục
đích, yêu cầu bài học, đi theo một trình tự nhất định thì mới đạt được hiệu quả
bài dạy. Bản thân tôi đã khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh,
tránh những câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí, điều đó chỉ làm mất thời
gian tiết dạy. Tôi đã kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả, tường
thuật, phân tích, hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của học
sinh: tai nghe, mắt thấy, biết phân tích suy luận vấn đề.
Chuẩn bị tốt đồ dùng rất cần thiết nhưng chưa đủ. Sử dụng đồ dùng đúng
lúc, đúng chỗ mới là điều kiện để đồ dùng phát huy hiệu quả. Thông thường đồ
dùng tôi thường cho các em quan sát ở hai phần đó là hướng dẫn tìm hiểu,
hướng dẫn thực hiện. Khi học sinh đã thực hành tôi cất đi để các em không sao
chép. Thời gian treo đồ dùng cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nếu như là
11
các tiết đầu tôi thường đưa ra các câu hỏi vấn đáp trước sau đó mới treo tranh.
Thông qua các câu trả lời và quan sát thấy các em đã hình thành được nội dung
bài và cách thể hiện riêng của mình. Tuy nhiên các tiết học cuối buổi học sinh uể
oải mệt mỏi thiếu tập trung thì ngay từ đầu tôi đã treo đồ dùng để gây sự chú ý
của học sinh hướng học sinh vào sự tò mò, dẫn dắt học sinh vào khám phá nội
dung bài học. Khi treo tranh phải để học sinh nhận xét, nhìn nhận ra vấn đề
thông qua các câu hỏi của giáo viên, tránh tình trạng treo tranh ra mà không
phân tích giảng giải hay vừa treo lại cất đi ngay. Để tạo sự lôi cuốn học sinh
tham gia vào giờ học đôi khi người giáo viên phải biết kết hợp minh họa nhanh
trên bảng kết hợp với đồ dùng làm sẵn tạo chiều sâu của tiết học có chất lựợng.
quá lạm dụng phương tiện dạy học này mà giáo viên vẫn chú ý kết hợp nhiều
hình thức dạy học vào một tiết dạy thì kết quả sẽ đạt cao hơn nhiều.
12
Tóm lại, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Mĩ thuật,
có những ưu điểm so với phương pháp truyền thống như sau:
- Nội dung, hình thức tiết dạy phong phú, đưa được nhiều hình ảnh động, từ
đó, tạo được sự kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo được không khí
vui tươi và thi đua trong học tập qua hoạt động thi đua giữa các nhóm, Học sinh
vẽ bài tốt, bài vẽ sáng tạo đạt hiệu quả cao.
- Do tính trực quan cao, nên giúp học sinh dễ tham gia và tạo cảm hứng
ham mê môn học.
- Giáo viên tiết kiệm được thời gian dán, treo đồ dùng trực quan và một số
thao tác khác để giành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng, theo dõi và quản lí
lớp, chú ý nhiều đối tượng yếu, học sinh khuyết tật hòa nhập.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường:
4.1. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Tuy chỉ 1 năm triển khai áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy môn Mỹ
thuật, nhưng đã cho thấy rất nhiều ưu điểm. Thông qua những tiết thực hành đầy
lý thú và những sản phẩm mỹ thuật đẹp mắt, phương pháp này đã được hội đồng
sự phạm trường tiểu học Thành Kim đánh giá cao.
Các tiết dạy Mỹ thuật áp dụng phương pháp mới đối với lớp 5 tại trường
Tiểu học Thành Kim, tôi cảm nhận rõ sự vui thích, hứng khởi của học sinh khi
hòa mình vào tiết thực hành theo phương pháp mới. Kết quả là những bức tranh
hoàn thành bao giờ cũng ngộ nghĩnh, đáng yêu vì đó là những cảm xúc rất thật
của các em”.
Thông qua buổi học Mĩ thuật theo phương pháp mới sẽ khơi gợi, phát huy
năng khiếu thẩm mĩ trong học sinh; gây hứng thú cho các em trước cái đẹp, từ
SL
TL
SL
79
73.9%
28
26.1%
0
5
107
hoàn Ghi chú
TL
0
Nhìn vào bảng khảo sát trên ta thấy số lượng học sinh đầu năm ở mức độ
hoàn thành (38.3%)và chưa hoàn thành (11.2%), sau khi áp dụng kinh nghiệm
"Dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới”. Đến hết tháng 4/2018 tỉ lệ học
sinh chưa hoàn thành môn học không còn.
Ảnh chụp: Chủ đề 13: Vẽ biểu cảm các đồ vật
4.2. Đối với hoạt động giáo dục:
- Khi học theo chương trình Mỹ thuật mới học sinh đã dần được hình thành
những năng lực cơ bản đó là: năng lực trải nghiệm (tức là học sinh có được
những trải nghiệm về cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, tưởng tưởng
và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt).
- Giúp học sinh phát triển năng lực kỹ năng và kỹ thuật. Trong giờ học được làm
quen với nhiều chất liệu, công cụ, kỹ thuật, dụng cụ phù hợp với hoạt động thực
hành.
- Học sinh biết cách lựa chọn nội dung tạo hình cụ thể.
- Trong giờ học Mỹ thuật học sinh cũng đã biết khám phá năng lực của mình
- Giáo viên nắm vững nội dung chương trình bộ môn.
- Giáo viên phải nắm vững các nguyên tắc dạy học Mĩ thuật theo phương pháp
mới.
- Vận dụng Phương pháp mới vào các phân môn cụ thể trong chương trình Mĩ
thuật hiện hành.
- Hiểu về tổ chức dạy học môn Mỹ thuật theo phương pháp mới (Mục tiêu, ý
đồ, thiết kế/kế hoạch, nội dung, yêu cầu, đồ dùng học tập…).
- Thiết kế được bài học khoa học, phù hợp thực tiễn về kiến thức, phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học (dự đoán dược những khó khăn học sinh dễ mắc và
dự kiến hướng giải quyết; quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ; kiểm tra, kiểm soát; động
viên, khuyến khích HS; không gian, địa điểm…).
- Trong tiết dạy học cần lựa chọn những phương pháp phù hợp (tránh giảng giải
lý thuyết gây nhàm chán, nặng nề)
- Khi thực hiện dạy học GV phải là người tâm huyết với nghề, có kinh nghiệm
thực tế và chắc về lý luận để có thể kiểm soát được tổ chức lớp đồng thời tăng
được nhận thức của HS, giúp cho HS thu nhận được kiến thức về đối tượng thực
tiễn khách quan. Mặt khác, để phát huy hết hiệu quả và nâng cao vai trò của tổ
chức dạy học, người GV phải nắm vững ưu nhược điểm và các khả năng cũng
như yêu cầu của phương pháp, phương tiện dạy học để việc tổ chức dạy học
phải đạt đựơc mục tiêu dạy học và phải góp phần nâng cao hiệu quả của giáo
dục Mỹ thuật ở nhà trường phổ thông.
- Giáo viên phải kiên trì, chịu khó nghiên cứu bài dạy một cách chu đáo. Nắm
vững nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của bài dạy, nắm được đặc điểm tâm sinh lí
của học sinh cũng như khả năng tư duy, sáng tạo của từng học sinh. Yêu nghề,
mến trẻ. Làm đồ dùng dạy học. Dạy học theo hướng tích cực chủ động. Áp dụng
các phương pháp đổi. Thường xuyên tổ chức triển lãm sản phẩm của học sinh để
khuấy động phong trào học tập. Áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
Đưa ra các trò chơi. Phân bố thời gian hợp lí. Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
- Giáo viên biết cách lập kế hoạch và tổ chức những quy trình dạy học linh hoạt
phù hợp với điều kiện của địa phương. Tổ chức đánh giá liên tục quá trình học
Nhà trường đã tạo điều kện thành lập Câu lạc bộ Mĩ thuật: Câu lạc bộ
khéo tay hay làm (chào mừng Ngày 20/10, 20/11, 8/3,…)
Tăng cường hơn việc triển khai hội nghị sáng kiến kinh nghiệm để tất cả
các đồng chí giáo viên được tham gia, trao đổi, học hỏi lẫn nhau góp phần vào
công tác giảng dạy được tốt hơn.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua thực tế giảng dạy trong năm qua tôi luôn xác định được mục tiêu trong
nhà trường Tiểu học, đồng thời cũng hiểu sâu sắc được vị trí, vai trò của môn
Mĩ thuật trong việc giáo dục học sinh
Để học tốt môn Mĩ thuật đòi hỏi chúng ta cần quan tâm hơn nữa tới các em,
cần trang bị cho các em những kiến thức cơ bản trong cuộc sống. Quan tâm hơn
nữa đối với các thiết bị giảng dạy, đặc biệt là phần mềm ứng dụng công nghệ
thông tin hỗ trợ trong giảng dạy và học tập. Bên cạnh đó, người giáo viên không
ngừng học hỏi tìm tòi phương pháp mới, đầu tư thời gian nghiên cứu bài giảng,
thường xuyên tổ chức cho các em học tập theo phương thức thảo luận nhóm, tổ
chức hoạt động ngoại khoá vui chơi lành mạnh bổ ích, như vẽ tranh cổ động về
An toàn giao thông, về môi trường …. Tôi thấy việc nắm vững phương pháp và
cách tổ chức cơ bản cũng như việc xây dựng cho mình một cách tổ chức dạy học
vững chắc và tìm ra những giải pháp dạy học phù hợp của môn Mĩ thuật sẽ có
tác dụng và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động dạy và học, giúp cho giáo
viên có một định hướng đúng đắn, phù hợp một cách thức tổ chức giờ dạy hợp
lý giúp cho học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá thế giới thẩm mĩ một cách say
mê, hấp dẫn, góp phần giáo dục nên những con người toàn diện hơn.
Từ kết quả trên ta dễ dàng nhận thấy việc học Mĩ thuật bằng phương pháp
của dự án Đan Mạch đã nâng cao kết quả học tập của học sinh, khơi gợi được trí
16
sáng tạo, liên kết gắn bó các học sinh với nhau cùng nhau tham gia tìm tòi kiến
Người thực hiện
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác
Nguyễn Thị Thanh Nga
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1.
Tên tài liệu
Tên tác giả (nhóm
tác giả)
Tên NXB
Năm
xuất
bản
Tài liệu dạy học Mĩ thuật Chủ biên: Nguyễn Nhà xuất bản
dành cho giáo viên Tiểu Thị Nhung (Chủ Giáo dục Việt 2015
học
biên)
Nam
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
Cấp tỉnh
B
2011-2012
Cấp phòng
B
2014-2015
Cấp phòng
A
2017-2018