MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................... 2
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................... 2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 3
3. Giới hạn nghiên cứu ................................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 4
5. Thời gian nghiên cứu ................................................................................ 4
6. Cấu trúc đề tài ........................................................................................... 4
PHẦN 2: NỘI DUNG .......................................................................................... 5
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ......................................................... 5
2.1.1. Hệ thống khoa học Địa lí theo các quan niện hiện đại ...................... 5
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn .................... 5
2.1.3. Một số yêu cầu khi sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí 6
2.1.4. Khái quát chương trình Địa lí tự nhiên 10 ......................................... 6
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ………………………………...................16
2.2.1 Thuận lợi…………………………………………………………...16
2.2.2 Khó khăn…………………………………………………………...17
2.3. VẬN DỤNG KIẾN THỨC CÁC MÔN TỰ NHIÊN GIẢNG DẠY
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN 10………………………………………………………..18
2.3.1 Vận dụng một số kiến thức Toán học……………………………19
2.3.2 Vận dụng một số kiến thức Vật lí………………………………..22
2.3.3 Vận dụng một số kiến thức Hoá học…………………………….26
2.3.4 Vận dụng một số kiến thức Sinh học…………………………. ...27
2.4. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI…………………………………………30
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM………………………………………………..32
PHẦN BA: KẾT LUẬN…………………………………………………….42
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………..42
Trang 1
Trang 2
lâu hơn nhóm còn lại.Tuy nhiên, đưa kiến thức gì vào, đưa vào ở đâu, khi nào,
đưa như thế nào để vừa đủ, hiệu quả mà không làm dài thêm khối lượng kiến
thức đã quá cồng kềnh, không làm học sinh cảm thấy chán ngán, không làm giáo
viên cảm thấy nặng nề? Vận dụng kiến thức liên môn như thế nào cho hiệu quả?
Tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu rất nhiều về vấn đề này và nhận thấy đây là một
vấn đề rất thú vị nên đã không ngừng tìm tòi, học hỏi những đồng nghiệp, những
người đi trước, những người có liên quan, song song với việc tìm hiểu, trao đổi
với học sinh và tìm hiểu qua một số tài liệu đã rút ra được một số bài học kinh
nghiệm
Chính vì vậy, với kinh nghiệm của bản thân qua nhiều năm giảng dạy, tôi
nhận thấy có nhiều nội dung trong chương trình Địa lí 10 khi vận dụng kiến thức
các môn tự nhiên để dạy sẽ đem lại hiệu quả, tạo được hứng thú học tập cho các
em cũng như làm rõ hơn các kiến thức địa lí. Đó là lí do tôi chọn đề tài: " Một
số kinh nghiệm vận dụng kiến thức các môn tự nhiên để giảng dạy hiệu quả
chương trình Địa lí tự nhiên lớp 10".
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của học sinh trong việc tiếp thu và
vận dụng giải thích các kiến thức địa lí tự nhiên.
Nghiên cứu, lựa chọn và đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân nhằm
khắc phục những khó khăn cho học sinh trong việc tiếp thu các kiến thức tự
nhiên và giải thích các hiện tượng địa lí tự nhiên.
Đưa ra những kiến thức các môn tự nhiên có thể áp dụng để dạy hiệu quả
một số nội dung địa lí tự nhiên lớp 10.
Cuối cùng đưa ra một số kết quả thực nghiệm để so sánh số liệu trước và
sau khi tiến hành áp dụng những kinh nghiệm của bản thân.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung vào chương trình lớp 10 phần địa lí tự nhiên bao gồm từ
5. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ năm học 2008 - 2009 đến 2013 - 2014.
6. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần:
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần 2: Nội dung
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
II. Thực trạng của vấn đề
III. Một số kiến thức các môn tự nhiên có thể vận dụng để giảng dạy nội dung
địa lí tự nhiên 10.
Phần 3: Kết luận
Trang 4
PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
2.1.1. Hệ thống khoa học Địa lí theo các quan niện hiện đại
Địa lí học là một hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội, nghiên cứu
các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên và sản xuất và các thành phần của chúng,
chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Hệ thống khoa học Địa lí bao gồm
hai nhóm khoa học lớn là nhóm khoa học Địa lí tự nhiên và nhóm khoa học Địa
lí kinh tế, xã hội. Giữa Địa lí học và các khoa học khác có những mối quan hệ
rất mật thiết như: Địa lí tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với toán học, vật lý học,
hóa học và sinh học; Địa lí kinh tế xã hội có quan hệ chặt chẽ với Sử học, kinh
tế chính trị học, Văn học và với nhiều môn kỹ thuật khác. Trong thời đại ngày
nay, người ta thấy sự kết hợp nhiều mặt giữa Địa lí học với hàng loạt các khoa
học khác tạo thành nhiều khoa học mới. Như vậy trong Địa lí có các khoa học
khác cũng như trong khoa học khác có Địa lí.
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn trong
2.1.3. Một số yêu cầu khi sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học
Địa lí
Sử dụng kiến thức liên môn phải đáp ứng được mục tiêu môn học. Sử
dụng kiến thức liên môn phải giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức cơ bản của
bài học. Sử dụng kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập cho học sinh phải
góp phần phát triển năng lực tư duy và kĩ năng thực hành bộ môn cho học sinh.
Sử dụng kiến thức liên môn phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh. Sử
dụng kiến thức liên môn phải linh hoạt, sáng tạo, tùy thuộc vào yêu cầu kiến
thức của bài.
2.1.4. Khái quát chương trình Địa lí tự nhiên 10
BẢN ĐỒ
Phân biệt được một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản
đồ
* Phương pháp ký hiệu:
- Đối tượng thể hiện: các đối tượng phân bố theo những điểm cụ thể như các
trung tâm công nghiệp, các mỏ khoáng sản…
Trang 6
- Cách thể hiện: những ký hiệu thể hiện đối tượng được đặt chính xác vào vị trí
mà đối tượng đó phân bố trên bản đồ.
- Có 3 dạng kí hiệu chính: ký hiệu hình học, ký hiệu chữ và ký hiệu tượng hình.
* Phương pháp ký hiệu đường chuyển động:
- Đối tượng thể hiện: sự di chuyển của các hiện tượng tự nhiên (hướng gió, dòng
biển…) và các hiện tượng kinh tế-xã hội (các luồn di dân, vận chuyển hàng
hóa…) trên bản đồ.
- Sự di chuyển của các hiện tượng được thể hiện bằng các mũi tên chỉ hướng di
chuyển.
* Phương pháp chấm điểm:
của rất nhiều thiên thể cùng với khí, bụi và bức xạ điện từ. Thiên hà chứa Mặt
Trời và các hành tinh của nó được gọi là Dải Ngân Hà.
- Hệ Mặt Trời gồm có Mặt Trời ở trung tâm cùng với các thiên thể chuyển động
xung quanh và các đám mây bụi khí, có tám hành tinh chuyển động quanh Mặt
Trời.
- Trái Đất là một hành tinh ở vị trí thứ 3 (theo thứ tự xa dần Mặt Trời) trong hệ
Mặt Trời.
Trình bày được các hệ quả chủ yếu của chuyển động tự quay quanh trục và
chuyển động quanh Mặt Trời của Trái Đất
* Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất: sự luân phiên ngày,
đêm, giờ trên Trái Đất, sự chuyển động lệch hướng của các vật thể.
- Do Trái Đất tự quay quanh trục, nên mọi nơi trên bề mặt Trái Đất có hiện
tượng luân phiên ngày, đêm.
- Giờ trên Trái Đất: giờ địa phương, giờ múi, giờ quốc tế (Giờ GMT), đường
chuyển ngày quốc tế.
- Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể:
+ Ở bán cầu Bắc, vật chuyển động bị lệch về bên phải, ở bán cầu Nam bị lệch về
bên trái theo hướng chuyển động.
+ Nguyên nhân: do Trái Đất tự quay quanh trục từ Tây sang Đông đã sinh ra
một luật làm lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt trái đất (lực
Côriôlit).
Trang 8
* Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất: chuyển động biểu
kiến hằng năm của Mặt Trời, hiện tượng mùa và các hiện tượng ngày đêm dài
ngắn theo mùa.
- Chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt Trời
+ Hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh.
* Khái niệm, nguyên nhân:
- Nội lực là lực phát sinh từ bên trong Trái Đất. Nội lực được sinh ra chủ yếu là do
nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất.
- Ngoại lực là lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất. Ngoại lực
được sinh ra chủ yếu là do nguồn năng lượng của bức xạ mặt trời.
* Tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
- Tác động của nội lực, ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất thông qua các
vận động kiến tạo:
+ Vận động theo phương thẳng đứng (vận động nâng lên và hạ xuống) xảy ra
rất chậm và trên một diện tích lớn, làm cho bộ phận này được nâng lên, trong
khi bộ phận kháclại bị hạ xuống.
+ Vận động theo phương nằm ngang làm cho vỏ Trái Đất bị nén ép ở khu vực
này và tách dãn ở khu vực khác, gây ra hiện tượng uốn nếp, đứt gãy.
+ Tác động của nội lực còn gây ra các hiện tượng động đất, núi lửa.
- Tác động của ngoại lực đến bề mặt Trái Đất thông qua các quá trình ngoại lực.
Đó là các quá trình phá hủy đá ở chỗ này, bồi tụ ở chỗ kia do tác động của sự
thay đổi nhiệt độ, nước chảy, sóng biển, gió, băng hà…tạo nên các dạng địa hình
xâm thực, mài mòn, thổi mòn, bồi tụ…
- Các quá trình ngoại lực:
+ Quá trình phong hóa.
+ Quá trình bóc mòn.
+ Quá trình vận chuyển.
+ Quá trình bồi tụ.
Hiểu được nguyên nhân hình thành và tính chất của các khối khí: cực, ôn đới,
chí tuyến, xích đạo
* Nguyên nhân hình thành các khối khí:
Không khí ở tầng đối lưu, tùy theo vĩ độ và bề mặt trái đất là lục địa hay đại
dương mà hình thành các khối khí khác nhau.
Trang 10
Trang 11
- Địa hình: Nhiệt độ không khí thay đổi theo độ cao, cành lên cao nhiệt độ càng
giảm; nhiệt độ không khí thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi.
Phân tích được mối quan hệ giữa khí áp và gió; nguyên nhân làm thay đổi khí áp
* Mối quan hệ giữa khí áp và gió
Khí áp trên Trái Đất phân bố thành các đai áp cao và áp thấp xen kẽ nhau và đối
xứng qua đai áp thấp xích đạo. Không khí di chuyển từ nơicó khí áp cao tới nơi
có khí áp thấp tạo nên gió.
* Nguyên nhân làm thay đổi khí áp.
- Độ cao: khí áp giảm khi lên cao vì càng lên cao, không khí càng loãng, sức nén
càng nhỏ.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ tăng không khí nở ra, tỉ trọng giảm đi, khí áp giảm; nhiệt độ
giảm, không khí co lại, tỉ trọng tăng nên khí áp tăng.
- Độ ẩm: Khí áp giảm khí không khí chứa nhiều hơi nước (độ ẩm không khí
tăng).
Biết được nguyên nhân hình thành một số loại gió thổi thường xuyên trên trái
đất, gió mùa và một số loại gió địa phương
- Sự chênh lệch khí áp giữa các đai áp cao và áp thấp là nguyên nhân hình thành
các loại gió thổi thường xuyên trên Trái Đất như gió Tây ôn đới, gió Mậu dịch
(Tín phong).
- Nguyên nhân hình thành gió mùa chủ yếu do sự nóng lên hoặc lạnh đi không
đều giữa lục địa và đại dương, hình thành các vùng khí áp cao và thấp theo mùa
ở lục địa và đại dương. Từ các khu áp cao (theo mùa) có gió thổi đi và các khu
áp thấp (theo mùa) hút gió từ các khu áp cao thổi đến đã hình thành nên gió
mùa.
- Gió địa phương
+ Gió biển và gió đất: được hình thành ở vùng ven biển, thay đổi hướng theo
những nơi có dòng biển lạnh chảy qua thì mưa ít vì không khí trên dòng biển
lạnh, hơi nước không bốc lên được.
* Địa hình:
- Cùng một dãy núi thì sườn đón gió mưa nhiều, sườn khuất gió mưa ít.
- Cùng một sườn núi đón gió, càng lên cao càng mưa nhiều. Tuy nhiên, đến một
độ cao nào đó sẽ không còn mưa.
Trang 13
Biết được sự hình thành và phân bố của các đới, các kiểu khí hậu chính trên Trái
Đất
* Sự hình thành và phân bố các đới khí hậu trên Trái Đất
- Sự hình thành:
+ Sự phân bố lượng ánh sáng và nhiệt độ của Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất
không đồng đều, nó phụ thuộc vào góc chiếu của ánh sáng mặt trời và vào thời
gian chiếu sáng. Vì vậy, bề mặt Trái Đất được chia thành các đới nhiệt.
+ Các đới nhiệt là cơ sở hình thành các đới khí hậu. Sự kết hợp giữa lượng bức
xạ mặt trời trong mỗi đới nhiệt với hoàn lưu khí quyển và mặt đệm tạo ra các
đới khí hậu.
- Sự phân bố: Các đới khí hậu phân bố theo chiều vĩ độ. Từ cực đến Xích đạo có
7 đới khí hậu.
* Sự hình thành và phân bố các kiểu khí hậu chính trên Trái Đất
- Sự hình thành: Do sự phân bố đất liền và đại dương, ngoài ra còn do ảnh
hưởng của các dãy núi chạy theo hướng kinh tuyến, làm cho khí hậu ở lục địa bị
phân hóa từ đông sang tây, tạo thành các kiểu khí hậu.
- Sự phân bố: Các kiểu khí hậu phân bố theo chiều kinh độ.
Hiểu và trình bày được vòng tuần hoàn của nước trên Trái Đất
- Vòng tuần hoàn nhỏ: nước từ biển (hoặc ao, hồ, sông, ngòi…) bốc hơi tạo
thành mây và mưa, mưa rơi xuống, rồi nước lại bốc hơi…
- Vòng tuần hoàn lớn: nước biển bốc hơi tạo thành mây, mây được gió đưa vào
ngang với tốc độ khoảng 400 - 800km/h. Nguyên nhân gây ra sóng thần chủ yếu
là do động đất, núi lửa phun ngầm dưới đáy biển, ngoài ra còn do bão.
* Thuỷ triều
- Thuỷ triều là hiện tượng dao động thường xuyên, có chu kì của các khối nước
trong các biển và đại dương.
- Nguyên nhân sinh ra thủy triều: sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời.
* Sự phân bố và chuyển động của các dòng biển nóng, lạnh trong đại dương thế
giới
- Các dòng biển nóng thường phát sinh ở hai bên Xích đạo, chảy về hướng tây, gặp
lục địa chuyển hướng chảy về phía cực; các dòng biển lạnh thường xuất phát từ
khoảng vĩ tuyến 30 - 400, gần bờ đông các đại dương và chảy về phía Xích đạo.
- Các dòng biển nóng và lạnh đối xứng nhau qua bờ các đại dương.
Trang 15
Trình bày được vai trò của các nhân tố hình thành đất: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật,
địa hình, thời gian, con người.
Hiểu khái niệm sinh quyển và các nhân tố ản hưởng đến sự phát triển, phân bố
của sinh vật
* Khái niệm: Sinh quyển là một quyển của Trái Đất, trong đó có tất cả các sinh
vật sinh sống.
- Chiều dày của sinh quyển tùy thuộc giới hạn phân bố của sinh vật:
+ Giới hạn phía trên là nơi tiếp giáp tầng ô dôn của khí quyển (22km).
+ Giới hạn phía dưới xuống tận đáy đại dương (sâu nhất >11km), ở lục địa
xuống tới đáy của lớp vỏ phong hóa.
- Giới hạn của sinh quyển bao gồm toàn bộ thủy quyển, phần thấp của khí
quyển, lớp phủ thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóa.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố của sinh vật: Khí hậu, đất,
địa hình, sinh vật, con người.
Hiểu và trình bày được một số biểu hiện của quy luật thống nhất và hoàn chỉnh,
trừu tượng đối với học sinh. Đặc biệt là đối với các em học sinh lớp 10, nhiều
nội dung kiến thức liên quan các em chưa được học tới. Điều này làm cho việc
truyền tải một số kiến thức phần Địa lí tự nhiên gặp nhiều khó khăn. Ví dụ :
Trong bài 16 học về sóng, thuỷ triều là những hiện tượng dao động của nước
biển. Nhưng học sinh lại chưa được học về hiện tượng dao động trong vật lí là
như thế nào, nếu giáo viên không vận dụng kiến thức vật lí để giải thích cho
các em hiểu rõ thì chắc chắn việc nắm bắt những kiến thức này chỉ là chấp
nhận chứ không hiểu rõ vấn đề.
Đặc biệt một số nội dung kiến thức Địa lí tự nhiên lớp 10 cũng đòi hỏi
giáo viên phải nắm chắc một số kiến thức các môn tự nhiên thì mới hiểu được
bản chất của hiện tượng, từ đó mới tìm ra phương pháp truyền đạt dễ hiểu và
đạt hiệu quả nhất. Tuy nhiên do không chuyên sâu hoặc đã quên nên nhiều nội
dung giáo viên còn lúng túng chưa làm sáng tỏ được vấn đề.
Trên cơ sở nắm vững những khó khăn trên, tôi xin đề xuất những kinh
nghiệm của mình đã tích luỹ được qua nhiều năm giảng dạy phần địa lí tự
nhiên lớp 10 tại trường THPT Long Khánh nhằm giảng dạy có hiệu quả hơn
nội dung này, giúp khắc phục được những khó khăn trên.
Trang 17
Các giải pháp trong đè tài này giải pháp thay thế một phần giải pháp đã
có, thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao.
2.3. MỘT SỐ KIẾN THỨC CÁC MÔN TỰ NHIÊN CÓ THỂ VẬN
DỤNG ĐỂ GIẢNG DẠY NỘI DUNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN 10.
2.3.1 Vận dụng một số kiến thứcToán học trong giảng dạy địa lí tự
nhiên lớp 10
Toán học là một môn khoa học nghiên cứu về số, cấu trúc, không gian và
các phép biến đổi. Toán học hiện diện trong tự nhiên, nghệ thuật, âm nhạc,
kiến trúc, lịch sử, địa lí, văn học…
Trong bài 5 và bài 6 học về hệ quả các chuyển động của Trái Đất có đề
cập đến góc chiếu của tia sáng Mặt trời tới bề mặt đất hay còn gọi là góc nhập
xạ chúng ta có thể vận dụng kiến thức của hình học không gian để học sinh hiểu
được góc nhập xạ là gì và cách tính góc nhập xạ.
Giáo viên có thể vẽ phác hoạ nhanh lên bảng và hướng dẫn học sinh cách
xác định góc nhập xạ. Từ đó thấy được sự thay đổi góc nhập xạ từ xích đạo về
hai cực sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiệt độ và các thành phần tự nhiên khác.
Góc nhập xạ - cách tính - ý nghĩa
- Góc nhập xạ (góc tới, góc chiếu sáng…) của 1 điểm: là góc hợp bởi tia tới
của Mặt Trời và tiếp tuyến với bề mặt đất tại điểm đó (lấy góc ≤ 90 0). Góc tới là
góc biểu hiện độ cao của mặt trời so với trái đất.
- Cách tính
Công thức tổng quát: h0 900
Trong đó: h0 : góc tới (góc nhập xạ); : Vĩ độ địa điểm cần tính; : vĩ độ
mặt trời lên thiên đỉnh (góc nghiêng của tia sáng mặt trời so với mặt phẳng xích
đạo; [23027’N23027’B] ).
Chia làm các trường hợp cụ thể trong ngày 21/3, 22/6, 23/9 và 22/12.
- Ý nghĩa góc nhập xạ:
+ Cho biết lượng ánh sáng, nhiệt, bức xạ đem đến mặt đất. Góc nhập xạ càng
lớn lượng ánh sáng và bức xạ nhiệt càng cao.
+ Cho biết độ cao của Mặt Trời so với mặt đất.
Mặt trời lên Thiên đỉnh
Trong bài 16 khi dạy về đặc điểm của thuỷ triều để trả lời cho câu hỏi: Vì
sao khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất thẳng hàng thì dao động thuỷ triều lớn
nhất? Khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất vuông góc thì dao động thuỷ triều nhỏ
nhất? Chúng ta có thể vận dụng kiến thức sau để làm rõ vấn đề:
Ta gọi lực hút của Mặt trời là F1 còn Mặt trăng là F2.
Khi Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất nằm thẳng hàng => F1 cùng chiều với F2 =>
F1 + F2 sẽ tạo ra lực mạnh nên dao động thủy triều cao lên.
Khi Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất nằm ở vị trí vuông góc => F1 _|_ F2 => ( 2
Đường chéo của hình chữ nhật luôn bằng nhau ta chỉ lấy đường chéo của điểm
đầu F1 với điểm đầu F2 ) vì nếu hai cái hợp lực sẽ tạo ra quy ước của tam giác
sau F tổng hợp < F1 + F2 ( tính chất của tam giác) => Lực sẽ thấp hơn so với cái
trên.
Tính độ cao của dãy núi và nhiệt độ trên đỉnh núi.
Trang 20
Tính nhiệt độ của sườn đón gió và khuất gió của 1 dãy núi ở cùng độ cao 543m,
biết rằng ở đỉnh núi cao 3143m có nhiệt độ là 4,50C.
- Ở sườn đón gió theo tiêu chuẩn không khí ẩm, trung bình cứ lên cao 100m ,
nhiệt độ giảm 0,60C, nên khi ở đỉnh núi cao 3143m có nhiệt độ là 4,50C thì ở
543m có nhiệt độ:
4,50C+(((3143-543)x0,6):100)=20,10C
- Ở sườn khuất gió theo tiêu chuẩn không khí khô, trung bình cứ xuống núi
Hay khi tìm hiểu khái niệm chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt
Trời chúng ta cũng cần cho học sinh biết chuyển động biểu kiến là chuyển động
như thế nào? Đó chính là chuyển động nhìn thấy bằng mắt nhưng không có
thực. Chúng ta cũng có thể lấy ví dụ cụ thể để học sinh hiểu về chuyển động
biểu kiến. Ví dụ như một người ngồi trên xe lửa đang chuyển động, nhìn ra
cảnh vật hai bên, có cảm giác mình đang đứng yên, còn các cảnh vật thì chuyển
động ngược lại đó gọi là chuyển động biểu kiến.
Khi dạy về nguyên nhân sinh ra lực Côriôlit có đề cập đến vận tốc dài,
giáo viên nên giải thích cho học sinh biết vận tốc dài là đại lượng vật lý mô tả
cả mức độ nhanh chậm lẫn chiều của chuyển động. Hãy xét một vật thể chuyển
động trên bề mặt Trái Đất từ phía xích
đạo lên cực Bắc. Khi chuyển động lên
các vĩ tuyến cao ( ở đó mỗi điểm trên bề
mặt Trái Đất đều có tốc độ góc quay
nhỏ hơn xích đạo) theo định luật quán
tính vật thể vẫn giữ nguyên tốc độ góc
quay từ tây sang đông ở xích đạo. Kết
quả là hướng chuyển động của nó, tuy
vẫn thẳng so với vũ trụ nhưng có dạng
lệch sang bên phải so với hướng kinh tuyến. Càng di chuyển lên cao, vật thể
càng lệch nhiều. Ở nửa cầu Nam, hiện tượng xảy ra cũng tương tự, nhưng
hướng lệch chuyển về bên trái. Như vậy, sự giữ nguyên chuyển động thẳng
học sinh giải thích được tác nhân của phong hoá lí học và vì sao phong hóa lý
học lại xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang
mạc) và miền khí hậu lạnh?
Chúng ta nên vận dụng kiến thức để giải thích rằng ở hoang mạc có sự
thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn. Bề mặt đất vào ban ngày rất nóng,
ban đêm tỏa nhiệt và nguội lạnh nhanh làm cho đá dễ bị phá vỡ về mặt cơ học
(các khoáng vật cấu tạo đá có hệ số dãn nở khác nhau, nhiệt dung khác nhau …
khi thay đổi nhiệt độ chúng dãn nở, co rút khác nhau làm cho đá bị phá hủy, nứt
vỡ dù là sự thay đổi trong thời gian ngắn cũng làm yếu mối liên kết giữa các hạt
khoáng vật).
Băng giá có tác dụng mạnh hơn trong quá trình phong hóa cơ học. Ở các
vùng khí hậu hàn đới, khi nước chảy vào các khe nứt của đá, các hốc đá và bị
đóng băng lại thì thể tích của nước sẽ tăng lên 10-11% tạo nên áp lực tách đá
thành các khối, các mảnh nhỏ.
Vận dụng kiến thức này học sinh sẽ hiểu rõ hơn về các tác nhân gây ra quá trình
phong hoá lí học.
Trang 23
Trong bài 12 học về khí áp và một số loại gió chính trên Trái Đất chúng
ta cũng có thể vận dụng những kiến thức Vật lí để giúp các em giải thích một số
câu hỏi như:
Tại sao cùng xuất phát từ áp cao chí tuyến nhưng gió Mậu Dịch nhìn chung
khô và ít mưa, còn gió Tây ôn đơi ẩm và mưa nhiều?
Vì: chủ yếu là do sự tăng hay giảm nhiệt độ của các khu vực gió thổi đến:
- Gió Mậu Dịch là do thổi từ chí tuyến về xích đạo, gió thổi đến vùng có nhiệt
đỉnh ngọn núi Chômôlungma cao 8.848 m, ở khoảng 73,50C nước đã sôi rồi. Với
nhiệt độ này rõ ràng là không thể nấu được cơm chín.
Ở bài 16 khi học về các khái niệm sóng biển, thuỷ triều đều định nghĩa đó
là những hiện tượng dao động của nước biển. Tuy nhiên để học sinh hiểu rõ hơn
các khái niệm này chúng ta nên vận dụng đến hiện tượng dao động. Trong Vật
lí học định nghĩa hiện tượng dao động là chuyển động có giới hạn trong không
gian, lặp đi lặp lại nhiều lần quanh vị trí cân bằng
2.3.3 Vận dụng một số kiến thức Hoá học trong giảng dạy địa lí tự
nhiên lớp 10
Hoá học là khoa học nghiên cứu về chất, phương pháp biến đổi chất và
ứng dụng của chất đó trong cuộc sống. Hoá học nói về các nguyên tố, hợp chất,
nguyên tử, phân tử và các phản ứng hoá học xảy ra giữa những thành phần đó.
Hoá học đôi khi được gọi là " khoa học trung tâm" vì nó là cầu nối các ngành
khoa học tự nhiên khác như vật lý học, địa chất học và sinh học. Chính vì vậy
môn học Địa lí và Hoá học cũng có những mối tương quan nhất định. Vì vậy có
những kiến thức Địa lí chúng ta có thể vận dụng kiến thức Hoá học để phân tích,
làm rõ.
Trong bài 9 học về tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
có đề cập đến những khái niệm như đá, khoáng vật. Để học sinh hiểu được các
khái niệm này, chúng tá có thể vận dụng kiến thức Hoá học để giải thích.
Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa chất
có lịch sử hình thành riêng biệt. Đá có thể được cấu tạo do một loại khoáng
thuần nhất hoặc do nhiều loại khoáng. Cũng có loại đá được cấu tạo do sự gắn
kết nhiều khối nhỏ của các loại đá khác nhau như đá cuội kết, đá dăm kết…