SKKN một vài kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO CAI
TRUNG TÂM GDTX VĂN BÀN

 

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP KIẾN THỨC
GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG GIẢNG DẠY
MÔN SINH HỌC LỚP 11

Người thực hiện: Lê Thị Thu Hằng
Đơn vị công tác: Trung tâm GDTX Văn Bàn.

Năm học: 2013 - 2014


MỤC LỤC
I. Lí do chọn đề tài ................................................................Trang 2
II. Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp ....................Trang 4
III. Nội dung:
1. Cơ sở lí luận ..................................................................Trang 7
2. Nội dung biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài..Trang 9
IV. Kết quả ………………………………………………… Trang 18
V. Kết luận.............................................................................Trang 18
VI. Tài liệu tham khảo...........................................................Trang 19

2


Tên sáng kiến kinh nghiệm:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP KIẾN THỨC

khoa học đó không phải là giáo dục giới tính đích thực.
Trong các môn học có thể nói sinh học là môn dễ lồng ghép những kiến
thức cơ bản về việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản giúp các em có ý thức
bảo vệ cơ thể, sống lành mạnh.
Trong các năm học qua để giáo dục học sinh có thức bảo vệ sức khỏe tốt, trong các
tiết dạy có kiến thức liên quan tôi đã chú ý lồng ghép vấn đề này vào trong bài
dạy, tôi nhận thấy đã đạt được một số hiệu quả nhất định với hy vọng góp phần
nâng cao được ý thức cho học sinh tự bảo vệ cơ thể mình từ đó có ý thức bảo vệ
3


bản thân và gia đình thông qua môn học. Với mong muốn giúp học sinh tích cực và
chủ động trong việc tiếp thu chủ đề này, để các em có thể tự giải đáp những tò mò,
thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết cho việc chăm sóc
sức khỏe bản thân, tôi đã tìm hiểu thu thập thông tin, sử dụng một số phương pháp,
phương tiện dạy học lồng ghép nhằm khai thác có hiệu quả nội dung giáo dục giới
tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh khi giảng dạy môn sinh lớp 11 Cơ bản.
II . THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA
ĐỀ TÀI:
1. Thực trạng về giáo dục giới tính, sinh sản sức khoẻ vị thành niên, tình
dục an toàn trong nhà trường THPT:
- Việc đưa giáo dục giới tính vào trường học là điều đã được thừa nhận.
Nhưng hầu hết các trường THPT đều lúng túng khi đưa giáo dục giới tính vào
giảng dạy. Các trường đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc ngoại khoá. Các giáo
viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kĩ năng giảng dạy về vấn đề nhạy cảm này.
Cũng chưa có trường nào xây dựng được chuẩn kiến thức chung về vấn đề này khi
dạy lồng ghép. Nếu dạy thì cũng chỉ thiên về lí thuyết còn thực hành thì bỏ ngỏ. Về
giáo cụ trực quan là không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng để giảng dạy
về vấn đề giới tính.
- Trách nhiệm này hiện nay có lẽ giáo viên sinh học được mong đợi nhiều

tôi nhận thấy các em hầu như không được trang bị kiến thức về kĩ năng sống cũng
như tình dục an toàn. Các tiểu phẩm tham gia thi đều kết thúc bằng việc thiếu hiểu
biết về an toàn tình dục nên có thai ngoài ý muốn; khi có thai người mà các em cần
đến để chia sẻ đầu tiên là bạn bè, chỉ có 1/ 10 tiểu phẩm là xuất hiện vai trò của
giáo viên chủ nhiệm; 2/ 10 xuất hiện vai trò của mẹ nhưng chỉ là “la mắng”, từ
thực tế này cho thấy vai trò giáo viên, gia đình trong việc giáo dục giới tính cho
các em rất hạn chế, các em chưa tin tưởng để chia sẻ những vương mắc đầu đời về
giới tính, an toàn tình dục.
3. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài:
a. Thuận lợi:
- So với các bộ môn khác môn sinh là bộ môn có nhiều kiến thức liên quan
tới giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản.
- Ứng dụng CNTT trong giảng dạy cho phép cặp nhật nhiều thông tin cũng
như hình ảnh minh họa cho bài dạy.
- Bản thân tôi là một giáo viên nữ, lớn tuổi, có gia đình nên việc giảng dạy
kiến thức sinh sản dễ dàng tự nhiên, học sinh tin tưởng lắng nghe và tiếp thu khá
hiệu quả.
b. Khó khăn:
- Hiện nay, trong chương trình đào tạo của Việt Nam, vấn đề giáo dục giới
tính cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Chưa có môn giáo dục giới tính
được đưa vào nội dung giảng dạy. Vấn đề này được lồng ghép vào một số nội dung
của môt số bài trong môn sinh học, môn giáo dục công dân, môn địa lí. Tuy nhiên,
những nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và
sự cần thiết phải nắm
vững các kiến thức về giới tính của học sinh.
- Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính còn
khá dè dặt, các em chưa hề mạnh dạn trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những
kiến thức đó.
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên chuyên trách về những vấn đề này chưa
trường nào có. Các hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ dùng lại ở một số buổi

a. Không gây hậu quả vì cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ.
b. Có thai vì ở nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã hình thành tinh trùng.
c. Cả 2 ý trên đều đúng.
Câu 4: Tình yêu là gì?
a. Là tình bạn thân thiết giữa một người nam và một người nữ.
b. Là tình thương mến sâu sắc, sự hòa hợp giữa hai người khác giới.
c. Là tình cảm giữa hai người không phân biệt giới tính.
Câu 5: Điểm khác biệt giữa tình bạn cùng giới và khác giới là:
a.Tình bạn giữa bạn nam và bạn nữ.
b. Có sự chân thành tin cậy, đồng cảm sâu sắc.
c.Có một khoảng cách tế nhị, không dễ biểu lộ thân mật gần gũi,
Câu 6: Thế nào là tình dục an toàn?
a.Thỏa mãn nhu cầu sinh lý.
b. Đảm bảo không nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục, không gây tổn
thương cơ quan sinh dục.
c. Cả hai đều đúng.
Câu 7: Chu kỳ kinh nguyệt của một người phụ nữ:
a.Thay đổi từ 21 đến 35 ngày.
b. Chính xác 28 ngày.
c.Có một chu kỳ.
Câu 8: Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?
a.Đường tình dục.
b. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…).
c. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con.
Câu 9: Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất nằm
trong độ tuổi nào?
a.Dưới 20 tuổi.
b. Từ 20- 29 tuổi.
6


39
61

7
47,7
52,2

8
88,7
11,3

9
72,8
27,2

10
59,4
40,6

III . NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
1 . Cơ sở lí luận:
1.1 Những kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính cần cung cấp cho học
sinh ở trường THPT và Trung tâm GDTX:
- Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, những
biến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hooc môn từ các tuyến
sinh dục gây ra.
- Giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai, bạn gái ở
tuổi vị thành niên với cha mẹ, anh em trong gia đình.
- Hiểu biết sâu sắc các giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại
tâm lý và các nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu vượt qua trái cấm.


4

Bài 32. Bệnh truyền nhiễm và
miễn dịch

Quá trình hình thành trứng, tinh trùng
Đa dạng di truyền người

Tình dục an toàn

7


Lớp 11
STT

Chương, bài

Kiến thức về giới tính

1

Bài 38, 39. Các nhân tố ảnh hưởng Dậy thì và các yếu tố ảnh hưởng đến
đến sinh trưởng và phát triển ở
sức khoẻ sinh sản
động vật
Hooc môn giới tính
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến
sức khỏe sinh sản

Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tinh và
sinh trứng

Chương, bài

Kiến thức về giới tính

1

Chương I. Cơ chế di truyền và biếnCác bệnh di truyền
dị

2

Chương II. Tính qui luật di truyền Sự di truyền một số tính trạng ở người

3

Chương III. Di truyền học quần thểGiao phối cận huyết và luật hôn nhân
gia đình

4

Chương V. Di truyền học người

Di truyền học người

5

Phần VI. Tiến hoá

Hoạt động của giáo viên, học sinh
Nội dung kiến thức
GV:
- Tranh vẽ H 38.1
- Sử dụng phiếu học tập.
HS: Các nhóm thảo luận và phát biểu vai trò của
các hoocmon
- Nhóm 1: Hooc môn sinh trưởng
- Nhóm 2: Tirôxin
- Nhóm 3: Ơstrogen
- Nhóm 4: Testosteron
GV: Thế nào là dậy thì?
Tuổi dậy thì là mốc đánh dấu sự trưởng thành về
mặt sinh học của cơ thể. Chia làm 3 giai đoạn:
giai đoạn đầu từ 10 – 13 tuổi; giai đoạn giữa từ 14
– 16 tuổi; giai đoạn cuối từ 17 – 19 tuổi.
GV: Tuổi dậy thì trung bình của người Việt Nam?
Đối với người Việt Nam, trẻ em nữ dậy thì hoàn
toàn vào khoảng 12 -14 tuổi, đánh dấu bằng lần có
kinh nguyệt đầu tiên; trẻ em nam dậy thì hoàn toàn
vào khoảng 14 -16 tuổi đánh dấu bằng lần xuất
tinh không chủ định đầu tiên.
- Không nên quá lo lắng
GV: Những thay đổi về cấu tạo giải phẫu?
với những thay đổi của
Ở tuổi dậy thì, dưới tác dụng của tuyến yên và cơ thể ở tuổi dậy thì.
tuyến sinh dục, cơ thể diễn ra hàng loạt những
biến đổi về hình thể, về sinh lí và tâm lí. Các cơ
quan sinh dục ngoài phát triển, kích thích cơ thể
tăng nhanh, trung bình mỗi trung bình mỗi năm

tượng kinh nguyệt. Trong thời gian đầu, chu kì
kinh nguyệt không đều và độ dài của chu kỳ, về số
ngày hành kinh và lượng máu chảy. Hiện tượng
không đều trong chu kỳ kinh nguyệt thường kéo
dài khoảng một năm nên các em khó tính chính xác
ngày rụng trứng để dự đoán khả năng có thể thụ
thai. Vú và mông to lên, xương chậu phát triển
theo chiều rộng, mô mỡ dưới da phát triển và dày
tạo nên dáng mềm mại. Thanh quản phát triển kiểu
nữ giới làm cho giọng thanh và cao.
GV: Những thay đổi về tâm lý?
Tình trạng không cân xứng trong quá trình phát
triển của hệ tim mạch đã ảnh hưởng đến sự tuần
hoàn não, có thể gây ra thiểu năng tuần hoàn não
nhất thời nên thường kém tập trung, kém nhạy cảm
và trí nhớ chưa tốt. Hoạt động thần kinh cũng có
sự thiếu cân xứng, quá trình hưng phấn thường
mạnh hơn quá trình ức chế nên trẻ em thường
nóng tính khả năng kềm chế kém, phản ứng thường

- Có ý thức giữ gìn, vệ
sinh thân thể nhất là các
em nữ.

- Lưu ý trong các mối
quan hệ ở gia đình, nhà
trường, xã hội; đặc biệt là
với bạn khác giới.
- Tình dục an toàn.


Hoạt động của giáo viên, học sinh
GV: Hãy cho biết ảnh hưởng của : thức
ăn, nhiệt độ, ánh sáng, các chất độc hại
tới sinh trưởng phát triển của ĐV
HS: Sử dụng phiếu học tập, thảo luận
nhóm:
+Nhóm 1: Ảnh hưởng của thức ăn
+Nhóm 2: Ảnh hưởng của nhiết độ
+Nhóm 3: Ảnh hưởng của ánh sáng
+Nhóm 4:Ảnh hưởng của các chất độc
hại đối với con người
GV: Vì sao tuổi dậy thì cần nhiều dinh
dưỡng?
Vì ở lứa tuổi này, các chất dinh dưỡng

nhân tố bên ngoài đến sinh trưởng và
Nội dung kiến thức

10 lời khuyên dành cho dinh dưỡng
tuổi dậy thì:
- Tạo cho thói quen ăn uống tốt, khoa
11


đóng vai trò tối cần thiết trong việc
tăng cường thể lực, trí lực và ảnh
hưởng cả đối nhân xử thế. Trong giai
đoạn phát triển vượt bậc này, cần rất
nhiều năng lượng, nhất là từ những
chất thật bổ dưỡng. Ảnh hưởng từ bạn

thực quản, viêm dạ dày mãn tính, bệnh
tim, các bệnh về gan ...

học.
- Hạn chế ăn quà vặt, thực phẩm thức
ăn nhanh.
- Biết tìm hiểu những thực phẩm nào
có lợi cho sự phát triển của chúng, và
ngược lại những thực phẩm nào có
hại.
- Ăn nhiều chất sắt hơn.
- Ăn thêm nhiều đạm, nhất
là các em nam.
- Bổ sung chất kẽm: Đối với nam,
lượng kẽm cần bổ sung mỗi ngày là
33%, đối với nữ là 20%, so với thời
kỳ trước dậy thì.
- Ăn nhiều chất canxi: Cả nam và nữ
đến độ dậy thì đều cần thêm chừng
33% hàm lượng canxi so với giai
đoạn trước (tương đương 1200
miligram mỗi ngày, so với 800
miligram ở giai đoạn trước dậy thì).
- Cung cấp thêm vitamin trong thực
phẩm.
- Lựa chọn các chất béo có lợi ăn
nhiều cá và giảm các món rán.
- Tránh mắc ""hội chứng búp bê
Barbie": giống như những người mẫu
hoàn hảo trên các trang tạp chí.

Hoạt động 3: Tìm hiểu các hình thức thụ tinh ở động vật
Hoạt động của giáo viên, học sinh
Nội dung kiến thức
GV:
- Thụ tinh là gì? Tại sao hợp tử có bộ
NST lưỡng bội?
- Tại sao từ một tế bào (hợp tử) lại có
thể phát triển thành một cơ thể mới?
- Tại sao thụ tinh trong tiến hóa hơn
thụ tinh ngoài?
HS: tham khảo phần III SGK trang 177
GV: Điều kiện xảy ra sự thụ tinh? Kết
quả của thụ?
GV: điều kiện để xảy ra quá trình thụ
thai ở người? Ở tuổi vị thành niên có + Nếu quan hệ tình dục có giao hợp
thể mang thai không?
ở tuổi vị thành niên sẽ có thai vì ở
Có trứng rụng; tinh trùng gặp được nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã
trứng ở 1/3 ngoài của ống dẫn trứng; hình thành tinh trùng.
hợp tử di chuyển được về tử cung;
màng tử cung đủ dày để thể làm tổ
GV: Hậu quả của TD không an toàn?
+ Tình dục an toàn là:
Mắc các bệnh lây nhiễm qua đường - Không dẫn đến mang thai ngoài ý
13


TD hiện nay người ta đã tìm thấy
khoảng hơn 20 loại bệnh lây qua
đường TD như: HIV/AIDS, lậu, giang

TD, điều này có nghĩa là không có sự
tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm
đạo và tinh dịch từ người này sang
người khác.
- Là những việc làm hướng tới bảo vệ
cơ thể, tinh thần cũng như khám phá
ra bản năng và nhu cầu của mình.

Bài 46:
CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA SINH SẢN
I. Kiến thức giáo dục giới tính:
- Hooc mônsinh sản, cơ chế điều hoà sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng đến
sinh tinh và sinh trứng  phòng tránh có thai và phá thai ở tuổi vị thành niên.
II. Vận dụng vào tiết dạy:
Họat động 1: Tìm hiểu tác động của hoocmon trong cơ chế điều hòa sinh
tinh, sinh trứng.
Hoạt động của giáo viên, học sinh
Nội dung kiến thức
GV: Ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp
với giảng giải cơ chế điều hòa sinh tinh, sinh
trứng?
GV: chu kì kinh nguyệt
GV: Hậu quả của việc mang thai ở vị thành
niên?
Việc mang thai ở tuổi vị thành niên chưa có
14


gia đình có nhiều tác hại, không chỉ hại riêng
bản thân mà cho toàn xã hội.

những cơ sở tư nhân, thậm chí là cơ sở bất
hợp pháp không có chức năng và không đủ
điều kiện để thực hiện thủ thuật , kết quả là tỷ
lệ tai biến cao, thậm chí có nhiều trường hợp
tử vong. Có nhiều em, do quá lo sợ nên sau
khi nạo phá thai tại những nơi này và có biến
chứng cũng không dám trình báo, cho đến khi
quá nặng phải vào bệnh viện thì phải cắt bỏ
tử
cung.
Cần nói thêm ở lứa tuổi vị thành niên nếu các
em nữ mang thai và sinh con thì các nguy cơ
như sinh non, biến chứng lúc sinh và con
chậm phát triển tâm thần cao hơn gấp nhiều

+ Hậu quả của việc mang
thai ở vị thành niên:
- Ảnh hưởng không tốt đến sức
khoẻ vì ở tuổi VTN, cơ thể
chưa phát triển đầy đủ cả về
sinh – tâm lý, nguy cơ tử vong
mẹ và con vẫn còn cao, con trí
tuệ kém, dị tật…
- Về mặt kinh tế – xã hội: phải
ngưng việc học hành, khó khăn
về kinh tế, làm tăng nhanh dân
số.
+ Hậu quả của việc nạo phá
thai ở vị thành niên:
- Bị các biến chứng sớm như:

từng đang tâm bỏ đi. Thêm vào đó, nếu
những người xung quanh biết được thì còn
nhiều nỗi khổ tâm mà cô gái gánh chịu khi
hàng ngày phải nghe những “lời ra tiếng
vào”. Thực tế cho thấy các trường hợp mang
thai khi còn quá trẻ, do chưa có đủ kiến thức
nên thường các cô chỉ phát hiện có thai khi
thai đã rất lớn, không thể bỏ được. Chắc
chúng ta cũng hình dung ra được những đau
đớn trong tâm hồn của những người mà xã
hội gọi là... “không
chồng mà chửa”
Cũng có người cho rằng quan hệ tình dục
sớm nhưng an toàn ( phòng tránh thai, phòng
tránh bệnh ) thì “không có vấn đề gì”. Đúng
là không có vấn đề về thai, về bệnh, nhưng
còn nhiều vấn đề khác chưa được nghĩ đến.
Đó có thể là sự tổn thương cơ quan sinh dục
nữ ( do còn non yếu ), là khả năng nhiễm
trùng phụ khoa tăng lên ( do tăng trầy xước,
nhất là khi không đảm bảo vệ sinh ). Ngoài ra
còn phải kể đến sự tổn thương cảm xúc của
các em. Do chưa hiểu biết đầy đủ, chưa được
chuẩn bị tâm lý và trong hoàn cảnh lén lút
nên thay vì có được cảm xúc hạnh phúc tràn
đầy như ở những người trưởng thành đã lập
gia đình, các em thường chỉ cảm thấy những
thích thú ngắn ngủi và sau đó là những lo sợ,
bất
an

uống thuốc viên ngừa thai sau giao hợp càng
sớm càng tốt trong vòng 72 giờ, uống 2 viên,
viên sau cách viên đầu 12 giờ. Nên nhớ đây
là thuốc chỉ dùng trong trường hợp “khẩn
cấp” và không được lạm dụng như một loại
thuốc ngừa thai vì có thể gây rong kinh, rong
huyết. Còn nếu “việc lỡ ấy” đã qua 72 giờ thì
người nữ phải hết sức chú tâm theo dõi kinh
nguyệt để phát hiện sớm những dấu hiệu có
thai như mất kinh, căng tức đầu vú v.v... và
sớm có biện pháp giải
quyết phù hợp.
GV: Kiềm chế tình dục ở tuổi vị thành niên
như thế nào?
- Tham gia các hoạt động cộng đồng: Sự
tham gia các hoạt động sẽ hỗ trợ cho hành vi
kiềm chế vì giúp phát triển cảm giác về giá
trị của bản thân (đã hoàn thành được việc gì
đó cho người khác, từ đó tăng lòng tự tin) và
cảm giác được cộng đồng chấp nhận
- Xác định những mục tiêu của cuộc đời:
Khi đã biết đặt ra cho mình những mục tiêu
trong đời sống,các bạn trẻ sẽ hiểu rằng thai
nghén không mong muốn, mắc bệnh lây lan
qua đường tình dục hay kết hôn sớm sẽ ảnh
hưởng như thế nào đến việc thực hiện những
mục tiêu đó.
- Xây dựng một gia đình yêu thương và
hoà thuận: Kết bạn trong tuổi vị thành niên
dù quan trọng nhưng không thể thay thế được

dám
thẳng
thắn
khước
từ.
Cần có mối quan hệ tốt với những người lớn
đáng tin cậy.
- Kết bạn với những người cùng chí hướng:
Nhất là với những người cũng lựa chọn hành
vi kiềm chế như mình vì tuổi vị thành niên
vốn có nhiều xúc cảm tình dục, những người
bạn ấy sẽ hỗ trợ cho quyết định lựa
chọn của mình.
- Tránh những hoàn cảnh cám dỗ: Có rất
nhiều cơ hội cám dỗ trong đời sống như tiếp
bạn khác giới trong phòng riêng, nhảy trong
các cuộc vui, thử xem phim kích dục vì tò
mò... Cần giúp bạn trẻ vị thành niên nhận
biết trước những hoàn cảnh đó để tránh tham
gia.
- Không uống rượu và thử dùng các loại ma
túy: vì những loại này làm suy giảm chức
năng suy xét lý trí của não, làm cho các bạn
khó giữ vững được ý chí của mình sau khi đã
sử dụng chúng.
- Lựa chọn những phương tiện giải trí có
tính giáo dục: Có nhiều loại sách báo, phim
ảnh... đã tô hồng, lãng mạn hóa tình yêu,
không mô tả trung thực hậu quả của những
lối sống buông thả.

tế giáo dục giới tính ở nhiều nước cho thấy hoàn toàn ngược lại. Tổ chức y tế thế
18


giới đã khảo sát 19 chương trình giáo dục giới tính trường học ở nhiều nước, tất cả
đều cho thấy trẻ vị thành niên có hoạt động tình dục trễ hơn, giảm hoạt động tình
dục, biết cách sử dụng các biện pháp ngừa thai một cách hiệu quả, và hoàn toàn
không thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và nhiều hơn. Nên thực hiện giáo
dục giới tính trước khi trẻ bước vào tuổi hoạt động tình dục. Các bước tích cực này
sẽ giúp khuyến khích trẻ không hoạt động tình dục sớm và biết cách sinh hoạt tình
dục một cách an toàn, giảm thiểu thai ngoài ý muốn ở các em. Để thật sự giúp đỡ
thiếu niên ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn, cần phải tạo điều kiện cho trẻ hiểu biết
về tình dục, về nguy cơ có thai, cách thức ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn, và biết
những nơi có thể tham vấn về tình dục trước khi chúng bắt đầu sinh hoạt tình dục.
Giáo dục giới tính giúp trẻ vị thành niên có một quan điểm tích cực về tình dục,
đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ vị thành niên có được thái độ và
hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình. Việc
chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên sẽ hướng các em đến những suy nghĩ,
đánh giá, lựa chọn đúng đắn trong tình bạn, tình yêu để tiến đến hôn nhân khi cơ
thể đã hoàn toàn trưởng thành, có đủ điều kiện về sức khỏe, vật chất, được chuẩn
bị về tinh thần cho việc sinh con và nuôi con trong điều kiện tốt nhất. Chính điều
này sẽ là nền tảng để xây dựng nên những gia đình hạnh phúc, đóng góp vào sự ổn
định và phồn vinh của xã hội.
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót vậy rất
mong sự quan tâm đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
VI . TÀI LIỆU THAM KHẢO :
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn sinh học( Bộ giáo dục – Vũ Đức Lưu chủ biên).
- Tài liệu những điều giáo viên cần biết để giáo dục kỹ năng sống và sức khỏe sinh
sản vị thành niên – Tổng cục dân số năm 2009.
- Sách giáo khoa sinh học 11 nâng cao.

cách công khai, có bài bản, mới chỉ dừng ở mức độ lồng ghép vào một số tiết ở
môn học, chỉ cung cấp cho học sinh thông tin về dân số và sức khỏe sinh sản, các
biện pháp sinh hoạt tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV.
- Trong các môn học có thể nói môn sinh học là môn dễ lồng ghép những kiến
thức cơ bản về việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản giúp các em có ý thức
bảo vệ cơ thể, sống lành mạnh, nâng cao được ý thức cho học sinh tự bảo vệ bản
thân và gia đình mình thông qua môn học.
3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
- Được áp dụng trong những tiết dạy có nội dung kiến thức gắn với đời
sống thực tế ở lớp: 10,11, 12 theo chương trình của Bộ GD& ĐT.
4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp:
Đề tài bước đầu đã trang bị cho học sinh một quan điểm tích cực về việc
chăm sóc sức khỏe vị thành niên, có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có
trách nhiệm về những quyết định của mình. Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
20


thành niên sẽ hướng các em đến những suy nghĩ, đánh giá, lựa chọn đúng đắn
trong tình bạn, tình yêu để tiến đến hôn nhân khi cơ thể dã hoàn toàn trưởng thành,
có đủ điều kiện về sức khỏe, vật chất, được chuẩn bị về tinh thần cho việc sinh con
và nuôi con trong điều kiện tốt nhất. Chính điều này là nền tảng để xây dựng nên
những gia đình hạnh phúc, đóng góp vào sự phồn vinh của xã hội.Nhận thức của
các em về giới và an toàn tình dục tương đối tốt, kỹ năng sống được nâng lên rõ
rệt.
5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: Không
6. Tài liệu kèm theo: Không
Văn Bàn, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Người báo cáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status