MỤC LỤC
A.ĐẶT VẤN ĐỀ. 2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
I. Cơ sở lý thuyết 3
II. Thực trạng trước khi thực hiện các biện pháp đề tài 3
1. Thực trạng về giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành
niên, tình dục an toàn trong TTGDTX
3
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài 5
3 . Số liệu thống kê. 6
III. Các giải pháp và tổ chức thực hiện khi thực hiện đề tài 8
1. Các giải pháp thực hiện 8
2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện 9
3. Kết quả 19
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 20
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Ở nước ta trong những năm gần đây cùng với việc giáo dục dân số,giáo
dục giới tính được quan tâm rộng rãi, đặc biệt là thể hiện trong chỉ thị
1
176A ngày 24/12/1974 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng.
Bộ giáo dục đã đưa ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới
tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả
nước.
Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản phải bắt đầu bằng giáo dục từ gia
đình, vai trò của cha mẹ, truyền thống, đạo đức, luật pháp của quốc gia,
sau đó là kiến thức cơ bản về cơ thể học, sinh lý học, các thông tin về
tình dục và sinh sản cơ bản.
Muốn thực hiện được điều đó thì việc phổ biến các kiến thức chuyên môn
về cơ thể học, sinh lý học, tâm lý học và các quan điểm về đời sống tình
dục phải được trình bày một cách công khai.
1.Thực trạng về giáo dục giới tính, sinh sản sức khoẻ vị thành niên,
tình dục an toàn ở trung tâm GDTX
- Việc đưa giáo dục giới tính vào trường học là điều đã được thừa nhận.
Nhưng hầu hết các trung tâm GDTX đều lúng túng khi đưa giáo dục giới
tính vào giảng dạy. Các trường đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc
ngoại khoá. Các giáo viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kĩ năng
giảng dạy về vấn đề nhạy cảm này. Cũng chưa có trường nào xây dựng
được chuẩn kiến thức chung về vấn đề này khi dạy lồng ghép. Nếu dạy
thì cũng chỉ thiên về lí thuyết còn thực hành thì bỏ ngỏ. Về giáo cụ trực
quan là không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng để giảng dạy về
vấn đề giới tính.
- Trách nhiệm này hiện nay có lẽ giáo viên sinh học được mong đợi nhiều
nhất. Tuy nhiên dạy thế nào thì giáo viên phải tự biên tự diễn. Không có
hướng dẫn cụ thể không ai kiểm tra, đánh giá công tác này. Hậu quả của
việc này dẫn đến học sinh thu nhận một lượng kiến thức rời rạc, chắp vá.
Bản thân các em đã nhận được kiến thức từ thông tin đại chúng, trong khi
cần một người tổng hợp, đưa ra những kiến thức có tính cơ bản, tổng quát
thì chúng ta chỉ có thể cung cấp cho các em kiến thức lồng ghép, không
3
hệ thống, thiếu thực hành nặng về lý thuyết. Bởi vậy bài toán giáo dục
giới tính trong trung tâm GDTX chưa có lời giải đáp thích đáng.
- Giáo dục giới tính là giáo dục kĩ năng sống. Khi giáo dục kĩ năng sống
đòi hỏi có những kĩ năng riêng thì mới đạt hiệu quả cao. Hầu hết các giáo
viên ở trung tâm GDTX hiện nay chưa được đào tạo kĩ năng này một
cách chuyên nghiệp. Điều này dẫn tới hậu quả là giáo viên né tránh hoặc
khi giảng dạy không mang lại hứng thú cho học sinh. Đặc biệt các giáo
viên trẻ thường bỏ qua khi mà chưa có qui định nào bắt buộc phải dạy
giáo dục giới tính trong từng bài học cụ thể.
- Các cấp lãnh đạo cũng bỏ ngỏ khâu quản lí theo dõi giáo dục giới tính.
Chưa có tổng kết, đánh giá về hoạt động này trong nhà trường một cách
nắmvững các kiến thức về giới tính của các em học sinh.
- Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính
còn khá dè dặt, các em chưa hề mạnh dạn trong quá trình tìm hiểu hay
tiếp thu những kiến thức đó.
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên chuyên trách về những vấn đề này hầu
như chưa trường nào có. Các hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ dùng
lại ở một số buổi nói chuyện với các chuyên gia về một số vấn đề sức
khoẻ giới tính, phòng chống HIV/AIDS Các giáo viên giảng dạy các bộ
môn khi đề cập đến việc dạy các kiến thức về giới tính cho các em, một
số người còn nói rằng: Giáo viên nói ra những vấn đề đó còn cảm thấy
ngượng nữa là các em học sinh.
- Xã hội hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này nên hay
không nên đưa chương trình giáo dục sức khoẻ giới tính vào chương trình
giáo dục PTTH. Có ý kiến cho rằng: không nên vẽ đường cho hươu chạy,
ý khác lại cho rằng: Thà vẽ đường cho hươu chạy còn hơn để con em
chúng ta lao xuống vực. Vấn đề lớn được đặt ra ở đây là làm thế nào để
lấp lỗ hổng trong công tác giáo dục giới tính cho các em đang ở giai
đoạn vị thành niên.
5
Theo ý kiến của cá nhân tôi, việc cần thiết phải trang bị cho các em các
kiến thức về vấn đề giới tính là không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, không
nên quá tham lam để đưa quá nhiều nội dung giáo dục giới tính trong một
tiết học, chỉ nên làm sao việc giáo dục giới tính diễn ra một cách nhẹ
nhàng và đều đặn qua các tiết học.
3. Số liệu thống kê:
Năm học 2011-2012 tiến hành khảo sát kiến thức cơ bản vê sức khỏe sinh
sản vị thành niên trước khi thực hiện đề tài ở 2 lớp 11B
1
, 11B
2
c. Cả hai đều đúng.
Câu 7: Chu kỳ kinh nguyệt của một người phụ nữ:
a. Thay đổi từ 21 đến 35 ngày.
b. Chính xác 28 ngày
c. Có một chu kỳ.
Câu 8: Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?
a. Đường tình dục.
b. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…).
c. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con.
Câu 9: Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất
nằm trong độ tuổi nào?
a. Dưới 20 tuổi.
b. Từ 20- 29 tuổi.
c. Từ 30- 39 tuổi
Câu 10: Tác hại của việc mang thai ở tuổi vị thành niên:
a. Ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm sinh li
b. Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội, tương lai của bản thân.
c. Cả 2 ý trên đều đúng.
Kết quả khảo sát: (tính theo tỷ lệ %)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Đúng 39,5 35,2 46,1 26,3 35,5 39,5 26,3 92,1 60,5 65,8
Sai 60,5 65,8 53,9 73,7 64,5 60,5 737 7,9 39,5 34,2
III - CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 – Các giải pháp thực hiện:
7
1.1 Những kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính cần cung cấp cho
học sinh ở trung tâm GDTX:
- Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, những
biến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hocmon từ các
tuyến sinh dục gây ra.
3 Bài 45. Sinh sản hữu tính ở
động vật
Thụ tinh
8
4 Bài 46. Cơ chế điều hoà
sinh sản
Hoocmon sinh sản- điều hoà sinh sản
Phòng tránh thai
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tinh và
sinh trứng
5 Bài 47. Điều khiển sinh sản
ở động vật và sinh đẻ có kế
hoạch ở người
Các biện pháp phòng tránh thai và dân
số kế hoạch hoá
1.3 Phương pháp tổ chức dạy học:
Giáo dục giới tính là vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi sự khéo léo của người
giáo viên. Một số yêu cầu cần đạt được trong dạy học:
- Nội dung kiến thức khoa học chính xác, phù hợp với lứa tuổi, không né
tránh gây những hiểu biết sai lầm của học sinh.
- Phương pháp dạy học đa dạng, sinh động, lôi cuốn.
- Khuyến khích việc tự tìm hiểu, nghiên cứu của học sinh.
- Kích thích tối đa tính tích cực, bạo dạn nhưng nghiêm túc của học sinh.
- Giáo viên sử dụng thuật ngữ chính xác nhưng khéo léo làm giảm tính
căng thẳng trong tiết học.
- Kết hợp giữa kiến thức khoa học với kiến thức xã hội, tình yêu, hôn
nhân và gia đình.
2 - Các biện pháp để tổ chức thực hiện:
Bài 38:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT
GV: Tuổi dậy thì trung bình của người Việt
Nam?
Đối với người Việt Nam, trẻ em nữ dậy thì hoàn
toàn vào khoảng 12 -14 tuổi, đánh dấu bằng lần
có kinh nguyệt đầu tiên; trẻ em nam dậy thì
hoàn toàn vào khoảng 14 -16 tuổi đánh dấu
bằng lần xuất tinh không chủ định đầu tiên.
thành trứng cá, nhất là ở trẻ nam
GV: Nguyên nhân những thay đổi ở giai đoạn
này?
Do các hoocmon sinh dục, các hoocmon này có
tác dụng kích thích sự phát triển giới tínhi. Ở
giai đoạn trước tuổi dậy thì, hàm lượng các
hoocmon này còn thấp, nhưng đến tuổi dậy thì
hàm lượng tăng cao kích thích sự chuyển hóa
và hoàn thiện của các tế bào sinh dục, làm phát
triển các đặc điểm sinh dục phụ.
- Có ý thức giữ gìn,
vệ sinh thân thể nhất
là các em nữ.
- Lưu ý trong các mối
quan hệ ở gia đình,
nhà trường, xã hội;
đặc biệt là với bạn
khác giới.
- Tình dục an toàn.
Bài 39:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT
TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT( Tiếp theo)
I. Kiến thức giáo dục giới tính:
- Một số thông tin thêm về các chất gây
độc hại đối với cơ thể:
10 lời khuyên dành cho dinh
dưỡng tuổi dậy thì:
- Tạo cho thói quen ăn uống
tốt, khoa học.
- Hạn chế ăn quà vặt, thực
phẩm thức ăn nhanh.
- Biết tìm hiểu những thực
phẩm nào có lợi cho sự phát
triển của chúng, và ngược lại
những thực phẩm nào có hại.
- Ăn nhiều chất sắt hơn.
- Ăn thêm nhiều đạm, nhất
là các em nam.
- Bổ sung chất kẽm: Đối với
nam, lượng kẽm cần bổ sung
mỗi ngày là 33%, đối với nữ là
20%, so với thời kỳ trước dậy
thì.
- Ăn nhiều chất canxi: Cả nam
và nữ đến độ dậy thì đều cần
thêm chừng 33% hàm lượng
canxi so với giai đoạn trước
(tương đương 1200 miligram
mỗi ngày, so với 800 miligram
12
Khói thuốc lá chứa 7.000 chất độc
gây hại cho sức khỏe
ở giai đoạn trước dậy thì).
- Tại sao từ một tế bào (hợp tử) lại
có thể phát triển thành một cơ thể
mới?
- Tại sao thụ tinh trong tiến hóa hơn
thụ tinh ngoài?
HS: tham khảo phần III SGK trang
177
GV: Hậu quả của TD không an toàn?
Mắc các bệnh lây nhiễm qua đường
TD hiện nay người ta đã tìm thấy
khoảng hơn 20 loại bệnh lây qua
đường TD như: HIV/AIDS, lậu,
giang mai, sùi mào gà, mụn rộp sinh
dục, hạ cam, trùng roi âm đạo,
nhiễm nấm sinh dục, chlamydia…
Khoảng một nửa số người khi nhiễm
không có triệu chứng gì hoặc có triệu
chứng không rõ ràng, có thể tự “biến
mất” (nhưng không có nghĩa là khỏi
bệnh).
GV: Các biện pháp đảm bảo TD an
Nếu quan hệ tình dục có giao
hợp ở tuổi vị thành niên sẽ có
thai vì ở nữ trứng đã chín và
rụng; ở nam đã hình thành tinh
trùng.
+ Tình dục an toàn là:
- Không dẫn đến mang thai
ngoài ý muốn và lây nhiễm các
bệnh qua đường TD như: lậu,
Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức
GV: Ứng dụng công nghệ thông tin kết
hợp với giảng giải cơ chế điều hòa sinh
tinh, sinh trứng?
GV: chu kì kinh nguyệt
15
GV: Hậu quả của việc mang thai ở vị
thành niên?
Việc mang thai ở tuổi vị thành niên chưa
có gia đình có nhiều tác hại, không chỉ
hại riêng bản thân mà cho toàn xã hội.
- Mang thai ở độ tuổi vị thành niên ảnh
hưởng không tốt đến sức khoẻ vì ở tuổi
VTN, cơ thể chưa phát triển đầy đủ cả về
sinh – tâm lý. Chính vì vậy, nếu VTN để
đẻ, nguy cơ tử vong mẹ và con vẫn còn
cao. Và có nguy cơ cao về vô sinh, con
trí tuệ kém, dị tật… và còn nhiều hậu quả
nghiêm trọng khác nữa.
- Về mặt kinh tế – xã hội: khi có thai phải
ngưng việc học hành, khó khăn về kinh
tế, không kiếm được việc làm, dẫn VTN
đi vào con đường bế tắc. Mặt khác, sinh
con ở vị thành niên còn làm tăng nhanh
dân số.
GV: Hậu quả của việc nạo phá thai ở vị
+ Hậu quả của việc mang
thai ở vị thành niên:
- Ảnh hưởng không tốt đến
sức khoẻ vì ở tuổi VTN, cơ
Đúng là không có vấn đề về thai, về
bệnh, nhưng còn nhiều vấn đề khác chưa
được nghĩ đến. Đó có thể là sự tổn
thương cơ quan sinh dục nữ ( do còn non
yếu ), là khả năng nhiễm trùng phụ khoa
tăng.
GV: Kiềm chế tình dục ở tuổi vị thành
niên như thế nào?
- Tham gia các hoạt động cộng đồng:
Sự tham gia các hoạt động sẽ hỗ trợ cho
hành vi kiềm chế vì giúp phát triển cảm
giác về giá trị của bản thân (đã hoàn
- Bị các biến chứng sớm
như: băng huyết, trường hợp
nặng có thể dẫn đến shock
có khi phải truyền máu, sót
nhau.
- Tổn thương cơ quan sinh
sản: rách cổ tử cung, thủng
cổ tử cung. Nhiễm trùng ở
vùng chậu hay nhiễm trùng
toàn thân dẫn đến nhiễm
trùng huyết.
- Ảnh hưởng về tâm lý, gây
ra hội chứng stress với các
biểu hiện sau: khó ngủ hay
mất ngủ, ngủ thường gặp ác
mộng. Khó tập trung trong
công việc, dễ nóng giận hay
giật mình. Giảm ham muốn
thẳng thắn khước từ.
Cần có mối quan hệ tốt với những người
lớn đáng tin cậy.
- Kết bạn với những người cùng chí
hướng: Nhất là với những người cũng
lựa chọn hành vi kiềm chế như mình vì
tuổi vị thành niên vốn có nhiều xúc cảm
- Tham gia các hoạt động
cộng đồng
- Xác định những mục tiêu
của cuộc đời
- Xây dựng một gia đình yêu
thương và hoà thuận
- Rèn luyện tính cách cương
nghị và các kỹ năng quyết
đoán
- Kết bạn với những người
cùng chí hướng
Tránh những hoàn cảnh cám
dỗ
- Không uống rượu và thử
dùng các loại ma túy.
- Lựa chọn những phương
tiện giải trí có tính giáo dục.
18
tình dục, những người bạn ấy sẽ hỗ trợ
cho quyết định lựa
chọn của mình.
- Tránh những hoàn cảnh cám dỗ: Có
rất nhiều cơ hội cám dỗ trong đời sống
với giáo viên, từ đó các em có khả năng tự bảo vệ bản thân, kĩ năng sống
được nâng lên
C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
- Những nội dung tạm thời phân chia như trên chỉ mang tính chất tương
đối, một giáo viên có đầu tư kỹ lưỡng về nội dung lồng ghép thì chắn
chắn có thể thực hiện tốt mục tiêu của mình trong giáo dục chuyên môn
cũng như giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Tuy nhiên, không nên quá tham lam để đưa quá nhiều nội dung cần giáo
dục giới tính trong một tiết học, chỉ nên làm sao việc giáo dục diễn ra
một cách nhẹ nhàng và đều đặn qua các tiết học, đây là điều cốt lõi dẫn
đến thành công, luôn ứng dụng chiến thuật “mưa dầm thấm lâu”.
- Cần xây dựng một nội dung chương trình cụ thể, khoa học theo hướng
lồng ghép, có tài liệu hướng dẫn cho giáo viên và học sinh.
- Trong nhà trường cần tổ chức các chuyên đề giáo dục giới tính và sức
khỏe sinh sản để nâng cao kiến thức cho giáo viên, đồng thời giáo viên
luôn cập nhật những thông tin mới phù hợp với học sinh , tăng tính thuyết
phục và tạo hứng thú học tập cho học sinh. Đồng thời phải linh hoạt
trong công tác giảng dạy và nâng cao chất lượng giảng dạy.
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót vậy rất
mong sự quan tâm đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài hoàn
thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 05 tháng 5 năm
2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của tôi viết, không sao chép nội
dung của người khác.
Ký xác nhận
20