MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Giới hạn nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Thời gian nghiên cứu 4
6. Cấu trúc đề tài 4
PHẦN 2: NỘI DUNG 5
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 5
2.1.1. Hệ thống khoa học Địa lí theo các quan niện hiện đại 5
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn 5
2.1.3. Một số yêu cầu khi sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí6
2.1.4. Khái quát chương trình Địa lí tự nhiên 10 6
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ……………………………… 16
2.2.1 Thuận lợi………………………………………………………… 16
2.2.2 Khó khăn………………………………………………………… 17
2.3. VẬN DỤNG KIẾN THỨC CÁC MÔN TỰ NHIÊN GIẢNG DẠY
ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN 10……………………………………………………… 18
2.3.1 Vận dụng một số kiến thức Toán học……………………………19
2.3.2 Vận dụng một số kiến thức Vật lí……………………………… 22
2.3.3 Vận dụng một số kiến thức Hoá học…………………………….26
2.3.4 Vận dụng một số kiến thức Sinh học…………………………. 27
2.4. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI…………………………………………30
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM……………………………………………… 32
PHẦN BA: KẾT LUẬN…………………………………………………….42
Tài liệu tham khảo………………………………………………………… 42
Trang 1
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đã từ lâu, nhu cầu muốn khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trở
thức đã quá cồng kềnh, không làm học sinh cảm thấy chán ngán, không làm giáo
viên cảm thấy nặng nề? Vận dụng kiến thức liên môn như thế nào cho hiệu quả?
Tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu rất nhiều về vấn đề này và nhận thấy đây là một
vấn đề rất thú vị nên đã không ngừng tìm tòi, học hỏi những đồng nghiệp, những
người đi trước, những người có liên quan, song song với việc tìm hiểu, trao đổi
với học sinh và tìm hiểu qua một số tài liệu đã rút ra được một số bài học kinh
nghiệm
Chính vì vậy, với kinh nghiệm của bản thân qua nhiều năm giảng dạy, tôi
nhận thấy có nhiều nội dung trong chương trình Địa lí 10 khi vận dụng kiến thức
các môn tự nhiên để dạy sẽ đem lại hiệu quả, tạo được hứng thú học tập cho các
em cũng như làm rõ hơn các kiến thức địa lí. Đó là lí do tôi chọn đề tài: " Một
số kinh nghiệm vận dụng kiến thức các môn tự nhiên để giảng dạy hiệu quả
chương trình Địa lí tự nhiên lớp 10".
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của học sinh trong việc tiếp thu và
vận dụng giải thích các kiến thức địa lí tự nhiên.
Nghiên cứu, lựa chọn và đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân nhằm
khắc phục những khó khăn cho học sinh trong việc tiếp thu các kiến thức tự
nhiên và giải thích các hiện tượng địa lí tự nhiên.
Đưa ra những kiến thức các môn tự nhiên có thể áp dụng để dạy hiệu quả
một số nội dung địa lí tự nhiên lớp 10.
Cuối cùng đưa ra một số kết quả thực nghiệm để so sánh số liệu trước và
sau khi tiến hành áp dụng những kinh nghiệm của bản thân.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung vào chương trình lớp 10 phần địa lí tự nhiên bao gồm từ
chương I đến chương IV trong sách giáo khoa địa lí 10 ban cơ bản và vận dụng
một số kiến thức của các môn học: Toán, Lí, Hoá, Sinh học trong giảng dạy nội
dung địa lí tự nhiên lớp 10.
Trang 3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
lí kinh tế, xã hội. Giữa Địa lí học và các khoa học khác có những mối quan hệ
rất mật thiết như: Địa lí tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với toán học, vật lý học,
hóa học và sinh học; Địa lí kinh tế xã hội có quan hệ chặt chẽ với Sử học, kinh
tế chính trị học, Văn học và với nhiều môn kỹ thuật khác. Trong thời đại ngày
nay, người ta thấy sự kết hợp nhiều mặt giữa Địa lí học với hàng loạt các khoa
học khác tạo thành nhiều khoa học mới. Như vậy trong Địa lí có các khoa học
khác cũng như trong khoa học khác có Địa lí.
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn trong
dạy học Địa lí
Sử dụng kiến thức liên môn là một nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học
ở trường phổ thông nói chung và môn Địa lí nói riêng. Sử dụng kiến thức liên
môn được coi là một nguồn kiến thức quan trọng không thể thiếu trong dạy học
Địa lí và được sử dụng như tài liệu tham khảo. Mặt khác, sử dụng kiến thức liên
môn còn là biện pháp đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học Địa lí
nói riêng. Nếu sử dụng tốt kiến thức liên môn và gây hứng thú học tập cho học
sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí. Sử dụng kiến thức liên môn
đảm bảo được tính toàn vẹn của kiến thức trên cơ sở sử dụng kiến thức các môn
học khác và ngược lại. Kiến thức liên môn còn giúp học sinh tránh được những
lỗ hổng kiến thức khi học tách rời các môn học. Nhờ đó, các em hiểu được sâu
sắc kiến thức Địa lí và gây được hứng thú học tập cho học sinh, thúc đẩy quá
trình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao. Nếu hiểu được kiến thức thì các em
sẽ hình thành các kĩ năng như: phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá và biết
Trang 5
liên hệ kiến thức đã học vào cuộc sống. Như vậy, kiến thức liên môn là một nội
dung rất quan trọng trong dạy học Địa lí cũng như các môn học khác. Chương
trình sách giáo khoa phổ thông hiện nay đổi mới về nội dung, phương pháp biên
soạn để giúp học sinh học tập dễ dàng, sinh động và hấp dẫn hơn. Song bản thân
sách giáo khoa còn nhiều nội dung trùng lặp giữa các môn học. Do vậy trong
quá trình dạy học, giáo viên phải nắm chắc nội dung kiến thức liên môn và vận
dụng những biện pháp sử dụng chúng để gây hứng thú học tập cho học sinh thì
- Sự di chuyển của các hiện tượng được thể hiện bằng các mũi tên chỉ hướng di
chuyển.
* Phương pháp chấm điểm:
- Đối tượng thể hiện: các đối tượng, hiện tượng phân bố phân tán, lẻ tẻ như các
điểm dân cư nông thôn, các cơ sở chăn nuôi…
- Các đối tượng, hiện tượng được thể hiện bằng các điểm chấm. Trên bản đồ,
mỗi điểm chấm (.) đều có một giá trị nào đó.
* Phương pháp bản đồ - biểu đồ:
- Đối tượng thể hiện: giá trị tổng cộng của một hiện tượng địa lí trên một đơn vị
lãnh thổ (đơn vị hành chính).
- Cách thể hiện: sử dụng các biểu đồ đặt vào phạm vi các đơn vị lãnh thổ đó trên
bản đồ.
Hiểu và trình bày được phương pháp sử dụng bản đồ, Atlat địa lí để tìm hiểu đặc
điểm của các đối tượng, hiện tượng và phân tích các mối quan hệ địa lí.
* Các bước sử dụng bản đồ:
- Đọc tên bản đồ để biết đối tượng, hiện tượng địa lí trên bản đồ.
- Đọc bản chú giải để biết các đối tượng, hiện tượng địa lí được thể hiện trên bản
đồ như thế nào; xem tỉ lệ của bản đồ để biết mức độ thu nhỏ của khoảng cách
được vẽ trên bản đồ so với khoảng cách trên thực tế.
- Dựa vào bản đồ tìm đặc điểm của các đối tượng, hiện tượng địa lí được thể
hiện.
- Dựa vào bản đồ để xác lập các mối quan hệ địa lí giữa các đối tượng, hiện
tượng địa lí.
Trang 7
* Atlat địa lí là một tập hợp các bản đồ. Khi sử dụng, thường phải kết hợp bản
đồ ở nhiều trang Atlat có nội dung liên quan với nhau để tìm hiểu hoặc giải thích
một đối tượng, hiện tượng địa lí.
Chương II: HỆ QỦA CÁC CHUYỂN ĐỘNG CHÍNH CỦA TRÁI ĐẤT
Hiểu được khái quát về Vũ Trụ, hệ Mặt Trời trong Vũ Trụ, Trái Đất trong hệ
Mặt Trời
- Mùa là một phần thời gian của năm, nhưng có những đặc điểm riêng về thời
tiết và khí hậu. Một năm được chia làm 4 mùa (xuân, hạ, thu đông). Mùa ở hai
bán cầu trái ngược nhau.
- Nguyên nhân sinh ra mùa: do trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương khi
chuyển động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời.
- Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ:
+ Ngày, đêm dài, ngắn theo mùa (biểu hiện, nguyên nhân).
+ Ngày, đêm dài, ngắn theo vĩ độ (biểu hiện, nguyên nhân).
Chương III: CẤU TRÚC CỦA TRÁI ĐẤT. CÁC QUYỂN CỦA LỚP VỎ
ĐỊA LÍ
Nêu được sự khác nhau giữa các lớp cấu trúc của Trái Đất (lớp vỏ, lớp Manti,
nhân Trái Đất) về tỉ lệ về thể tích, độ dày, thành phần vật chất cấu tạo chủ yếu,
trạng thái
- Lớp vỏ Trái Đất (độ dày, thành phần vật chất, trạng thái, tỉ lệ về thể tích)
- Lớp Man ti. (độ dày, thành phần vật chất, trạng thái, tỉ lệ về thể tích)
- Nhân Trái Đất. (lõi trái đất) (độ dày, thành phần vật chất, trạng thái, tỉ lệ về thể
tích)
Biết được khái niệm thách quyển; phân biệt được thạch quyển và vỏ Trái Đất
- Thạch quyển là lớp vỏ cứng ở ngoài cùng Trái Đất, được cấu tạo bởi các loại
đá khác nhau.
- Thạch quyển bao gồm cả vỏ Trái Đất và phần trên của lớp Manti (đến độ sâu
khoảng 100 km).
Trang 9
Trình bày được khái niệm nội lực, ngoại lực và nguyên nhân của chúng. Biết
được tác động của nội lực, ngoại lực đến sự hình thành địa hình bề mặt Trái Đất
* Khái niệm, nguyên nhân:
- Nội lực là lực phát sinh từ bên trong Trái Đất. Nội lực được sinh ra chủ yếu là do
nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất.
- Ngoại lực là lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt Trái Đất. Ngoại lực
được sinh ra chủ yếu là do nguồn năng lượng của bức xạ mặt trời.
kiểu lục địa (khô, kí hiệu là c). Riêng khối khí xích đạo chỉ có một kiểu là khối
khí hải dương (kí hiệu là Em).
Biết khái niệm frông và các frông; hiểu và trình bày được sự di chuyển của các
khối khí, frông và ảnh hưởng của chúng đến thời tiết, khí hậu
* Khái niệm: Frông là mặt ngăn cách giữa hai khối khí có sự khác biệt về nhiệt
độ và hướng gió.
- Các Frông cơ bản:
+ Frông địa cực (FA) ngăn cách giữa khối khí cực và ôn đới.
+ Frông ôn đới. (FP) ngăn cách giữa khối ôn đới và chí tuyến.
Các khối khí, frông không đứng yên một chỗ, mà luôn di chuyển. Mỗi khi di
chuyển đến đâu thì lại làm cho thời tiết ở nơi đó có sự thay đổi.
Trình bày được nguyên nhân hình thành nhiệt độ không khí và các nhân tố ảnh
hưởng đến nhiệt độ không khí
* Nguyên nhân hình thành nhiệt độ không khí:
Nhiệt cung cấp chủ yếu cho không khí ở tầng đối lưu là nhiệt của bề mặt Trái
Đất sau khi hấp thụ bức xạ Mặt Trời, rồi bức xạ lại vào không khí, làm cho
không khí nóng lên, hình thành nhiệt độ không khí.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến nhiệt độ không khí:
- Vĩ độ địa lí: Nhìn chung càng lên vĩ độ cao thì nhiệt độ trung bình năm càng
giảm, biên độ nhiệt độ năm càng lớn.
- Lục địa và đại dương: Nhiệt độ trung bình năm cao nhất và thấp nhất đều ở các
lục địa; đại dương có biên độ nhiệt độ nămnhỏ, lục địa có biên độ nhiệt độ năm
lớn.
Trang 11
- Địa hình: Nhiệt độ không khí thay đổi theo độ cao, cành lên cao nhiệt độ càng
giảm; nhiệt độ không khí thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi.
Phân tích được mối quan hệ giữa khí áp và gió; nguyên nhân làm thay đổi khí áp
* Mối quan hệ giữa khí áp và gió
Khí áp trên Trái Đất phân bố thành các đai áp cao và áp thấp xen kẽ nhau và đối
xứng qua đai áp thấp xích đạo. Không khí di chuyển từ nơicó khí áp cao tới nơi
- Các khu khí áp thấp hút gió và đẩy không khí ẩm lên cao, sinh ra mây, mây
gặp Đất.
- Ở các khu khí áp cao, không khí ẩm không bốc lên được, lại chỉ có gió thổi đi,
không có gió thổi đến nên thường là nơi ít mưa.
* Frông:
- Do sự tranh chấp giữa khối không khí nóng và không khí lạnh nên dẫn đến
nhiễu loạn không khí và sinh ra mưa.
- Miền có frông, nhất là dải hội tụ nhiệt đới đi qua thường mưa nhiều.
* Gió:
- Những vùng nằm sâu trong nội địa, không có gió từ đại dương thổi vào nên
mưa ít.
- Miền chịu ảnh hưởng của gió Mậu dịch mưa ít vì gió Mậu dịch chủ yếu là gió
khô.
- Miền chịu ảnh hưởng của gió mùa thường mưa nhiều vì trong một năm có nửa
năm gió thổi từ đại dương vào lục địa.
* Dòng biển: các miền nằm ven bờ đại dương có dòng biển nóng chảy qua thì
mưa nhiều vì không khí trên dòng biển nóng chứa nhiều hơi nước, ngược lại
những nơi có dòng biển lạnh chảy qua thì mưa ít vì không khí trên dòng biển
lạnh, hơi nước không bốc lên được.
* Địa hình:
- Cùng một dãy núi thì sườn đón gió mưa nhiều, sườn khuất gió mưa ít.
- Cùng một sườn núi đón gió, càng lên cao càng mưa nhiều. Tuy nhiên, đến một
độ cao nào đó sẽ không còn mưa.
Trang 13
Biết được sự hình thành và phân bố của các đới, các kiểu khí hậu chính trên Trái
Đất
* Sự hình thành và phân bố các đới khí hậu trên Trái Đất
- Sự hình thành:
+ Sự phân bố lượng ánh sáng và nhiệt độ của Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất
không đồng đều, nó phụ thuộc vào góc chiếu của ánh sáng mặt trời và vào thời
nước dâng nhanh.
- Thực vật có tác dụng điều hòa dòng chảy cho sông ngòi, làm giảm lũ lụt.
- Hồ đầm cũng có tác dụng điều hòa nước sông: khi nước sông lên, một phần
chảy vào hồ đầm; khi nước sông xuống thì nước ở hồ đầm lại chảy ra làm cho
sông đỡ cạn.
Mô tả và giải thích được nguyên nhân sinh ra hiện tượng sóng biển, thủy triều,
sự phân bố và chuyển động của các dòng biển nóng, lạnh trong đại dương thế
giới
* Sóng biển
- Sóng biển là một hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứng.
Nguyên nhân chủ yếu tạo nên sóng là do gió.
- Sóng thần: là sóng thường có chiều cao khoảng 20 - 40 m truyền theo chiều
ngang với tốc độ khoảng 400 - 800km/h. Nguyên nhân gây ra sóng thần chủ yếu
là do động đất, núi lửa phun ngầm dưới đáy biển, ngoài ra còn do bão.
* Thuỷ triều
- Thuỷ triều là hiện tượng dao động thường xuyên, có chu kì của các khối nước
trong các biển và đại dương.
- Nguyên nhân sinh ra thủy triều: sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời.
* Sự phân bố và chuyển động của các dòng biển nóng, lạnh trong đại dương thế
giới
- Các dòng biển nóng thường phát sinh ở hai bên Xích đạo, chảy về hướng tây, gặp
lục địa chuyển hướng chảy về phía cực; các dòng biển lạnh thường xuất phát từ
khoảng vĩ tuyến 30 - 40
0
, gần bờ đông các đại dương và chảy về phía Xích đạo.
- Các dòng biển nóng và lạnh đối xứng nhau qua bờ các đại dương.
Trang 15
Trình bày được vai trò của các nhân tố hình thành đất: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật,
địa hình, thời gian, con người.
Hiểu khái niệm sinh quyển và các nhân tố ản hưởng đến sự phát triển, phân bố
nghiệm quý báu cho bản thân trong quá trình giảng dạy.
Nguồn tài liệu cho giáo viên và học sinh trong giảng dạy và học tập tương
đối phong phú. Các sách viết về các hiện tượng tự nhiên, mười vạn câu hỏi vì
sao, tuyển tập các sách Olympic, các trang website có liên quan đến chuyên
môn địa lí…
2.2.2 Khó khăn
Trong quan niệm của nhiều giáo viên và học sinh môn học Địa lí thường
được coi là môn học thuộc bài, không cần đòi hỏi tư duy, sáng tạo của học sinh
nên nhiều học sinh còn xem nhẹ việc học môn Địa lí.
Chương trình địa lí tự nhiên lớp 10 mặc dù hay nhưng có nhiều điểm khó,
trừu tượng đối với học sinh. Đặc biệt là đối với các em học sinh lớp 10, nhiều
nội dung kiến thức liên quan các em chưa được học tới. Điều này làm cho việc
truyền tải một số kiến thức phần Địa lí tự nhiên gặp nhiều khó khăn. Ví dụ :
Trong bài 16 học về sóng, thuỷ triều là những hiện tượng dao động của nước
biển. Nhưng học sinh lại chưa được học về hiện tượng dao động trong vật lí là
như thế nào, nếu giáo viên không vận dụng kiến thức vật lí để giải thích cho
các em hiểu rõ thì chắc chắn việc nắm bắt những kiến thức này chỉ là chấp
nhận chứ không hiểu rõ vấn đề.
Đặc biệt một số nội dung kiến thức Địa lí tự nhiên lớp 10 cũng đòi hỏi
giáo viên phải nắm chắc một số kiến thức các môn tự nhiên thì mới hiểu được
bản chất của hiện tượng, từ đó mới tìm ra phương pháp truyền đạt dễ hiểu và
đạt hiệu quả nhất. Tuy nhiên do không chuyên sâu hoặc đã quên nên nhiều nội
dung giáo viên còn lúng túng chưa làm sáng tỏ được vấn đề.
Trên cơ sở nắm vững những khó khăn trên, tôi xin đề xuất những kinh
nghiệm của mình đã tích luỹ được qua nhiều năm giảng dạy phần địa lí tự
nhiên lớp 10 tại trường THPT Long Khánh nhằm giảng dạy có hiệu quả hơn
nội dung này, giúp khắc phục được những khó khăn trên.
Trang 17
Các giải pháp trong đè tài này giải pháp thay thế một phần giải pháp đã
có, thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao.
bản đồ và vì sao người ta phải sử dụng những bản đồ có tỉ lệ khác nhau.
Trong bài 5 và bài 6 học về hệ quả các chuyển động của Trái Đất có đề
cập đến góc chiếu của tia sáng Mặt trời tới bề mặt đất hay còn gọi là góc nhập
xạ chúng ta có thể vận dụng kiến thức của hình học không gian để học sinh hiểu
được góc nhập xạ là gì và cách tính góc nhập xạ.
Giáo viên có thể vẽ phác hoạ nhanh lên bảng và hướng dẫn học sinh cách
xác định góc nhập xạ. Từ đó thấy được sự thay đổi góc nhập xạ từ xích đạo về
hai cực sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiệt độ và các thành phần tự nhiên khác.
Góc nhập xạ - cách tính - ý nghĩa
- Góc nhập xạ (góc tới, góc chiếu sáng…) của 1 điểm: là góc hợp bởi tia tới
của Mặt Trời và tiếp tuyến với bề mặt đất tại điểm đó (lấy góc ≤ 90
0
). Góc tới là
góc biểu hiện độ cao của mặt trời so với trái đất.
- Cách tính
Công thức tổng quát:
0
0
90h
ϕ α
= − ±
Trong đó: h
0
: góc tới (góc nhập xạ); ϕ : Vĩ độ địa điểm cần tính; α : vĩ độ
mặt trời lên thiên đỉnh (góc nghiêng của tia sáng mặt trời so với mặt phẳng xích
đạo; α ∈ [23
0
27’N23
0
27’B] ).
27’, nên vĩ độ 23
0
27’ B và 23
0
27’N là giới hạn xa nhất mà
tia sáng mặt trời có thể tạo được một góc 90
0
với tiếp tuyến ở bề mặt đất lúc Mặt
trời lên Thiên đỉnh
Trong bài 16 khi dạy về đặc điểm của thuỷ triều để trả lời cho câu hỏi: Vì
sao khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất thẳng hàng thì dao động thuỷ triều lớn
nhất? Khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất vuông góc thì dao động thuỷ triều nhỏ
nhất? Chúng ta có thể vận dụng kiến thức sau để làm rõ vấn đề:
Ta gọi lực hút của Mặt trời là F1 còn Mặt trăng là F2.
Khi Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất nằm thẳng hàng => F1 cùng chiều với F2 =>
F1 + F2 sẽ tạo ra lực mạnh nên dao động thủy triều cao lên.
Khi Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất nằm ở vị trí vuông góc => F1 _|_ F2 => ( 2
Đường chéo của hình chữ nhật luôn bằng nhau ta chỉ lấy đường chéo của điểm
đầu F1 với điểm đầu F2 ) vì nếu hai cái hợp lực sẽ tạo ra quy ước của tam giác
sau F tổng hợp < F1 + F2 ( tính chất của tam giác) => Lực sẽ thấp hơn so với cái
trên.
Tính độ cao của dãy núi và nhiệt độ trên đỉnh núi.
Trang 20
Tính nhiệt độ của sườn đón gió và khuất gió của 1 dãy núi ở cùng độ cao 543m,
biết rằng ở đỉnh núi cao 3143m có nhiệt độ là 4,5
0
C.
- Ở sườn đón gió theo tiêu chuẩn không khí ẩm, trung bình cứ lên cao 100m ,
nhiệt độ giảm 0,6
0
Vật lí. Những ví dụ duới đây là những trường hợp chúng ta có thể vận dụng:
Trong chương II tìm hiểu về Vũ trụ, hệ quả các chuyển động của Trái
Đất có rất nhiều kiến thức chúng ta nên vận dụng để làm rõ bản chất của các
hiện tượng địa lí.
Trái Đất và các hành tinh vừa chuyển động tự quay quanh trục, vừa
chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời. Vậy chúng ta cần giải thích cho
hoc sinh hiểu chuyển động tịnh tiến là chuyển động như thế nào. Theo định
nghĩa thì Chuyển động tịnh tiến của một vật rắn là chuyển động trong đó đường
nối hai điểm bất kỳ của vật luôn luôn song song với chính nó.Trong chuyển
động tịnh tiến tất cả các điểm trên vật đều chuyển động như nhau.
Trang 21
Hay khi tìm hiểu khái niệm chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt
Trời chúng ta cũng cần cho học sinh biết chuyển động biểu kiến là chuyển động
như thế nào? Đó chính là chuyển động nhìn thấy bằng mắt nhưng không có
thực. Chúng ta cũng có thể lấy ví dụ cụ thể để học sinh hiểu về chuyển động
biểu kiến. Ví dụ như một người ngồi trên xe lửa đang chuyển động, nhìn ra
cảnh vật hai bên, có cảm giác mình đang đứng yên, còn các cảnh vật thì chuyển
động ngược lại đó gọi là chuyển động biểu kiến.
Khi dạy về nguyên nhân sinh ra lực Côriôlit có đề cập đến vận tốc dài,
giáo viên nên giải thích cho học sinh biết vận tốc dài là đại lượng vật lý mô tả
cả mức độ nhanh chậm lẫn chiều của chuyển động. Hãy xét một vật thể chuyển
động trên bề mặt Trái Đất từ phía xích
đạo lên cực Bắc. Khi chuyển động lên
các vĩ tuyến cao ( ở đó mỗi điểm trên bề
mặt Trái Đất đều có tốc độ góc quay
nhỏ hơn xích đạo) theo định luật quán
tính vật thể vẫn giữ nguyên tốc độ góc
quay từ tây sang đông ở xích đạo. Kết
quả là hướng chuyển động của nó, tuy
vẫn thẳng so với vũ trụ nhưng có dạng
Ở bài 9 khi học về phong hoá lí học, vận dụng kiến thức Vật lí để giúp
học sinh giải thích được tác nhân của phong hoá lí học và vì sao phong hóa lý
học lại xảy ra mạnh ở các miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang
mạc) và miền khí hậu lạnh?
Chúng ta nên vận dụng kiến thức để giải thích rằng ở hoang mạc có sự
thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn. Bề mặt đất vào ban ngày rất nóng,
ban đêm tỏa nhiệt và nguội lạnh nhanh làm cho đá dễ bị phá vỡ về mặt cơ học
(các khoáng vật cấu tạo đá có hệ số dãn nở khác nhau, nhiệt dung khác nhau …
khi thay đổi nhiệt độ chúng dãn nở, co rút khác nhau làm cho đá bị phá hủy, nứt
vỡ dù là sự thay đổi trong thời gian ngắn cũng làm yếu mối liên kết giữa các hạt
khoáng vật).
Băng giá có tác dụng mạnh hơn trong quá trình phong hóa cơ học. Ở các
vùng khí hậu hàn đới, khi nước chảy vào các khe nứt của đá, các hốc đá và bị
đóng băng lại thì thể tích của nước sẽ tăng lên 10-11% tạo nên áp lực tách đá
thành các khối, các mảnh nhỏ.
Vận dụng kiến thức này học sinh sẽ hiểu rõ hơn về các tác nhân gây ra quá trình
phong hoá lí học.
Trang 23
Trong bài 12 học về khí áp và một số loại gió chính trên Trái Đất chúng
ta cũng có thể vận dụng những kiến thức Vật lí để giúp các em giải thích một số
câu hỏi như:
Tại sao cùng xuất phát từ áp cao chí tuyến nhưng gió Mậu Dịch nhìn chung
khô và ít mưa, còn gió Tây ôn đơi ẩm và mưa nhiều?
Vì: chủ yếu là do sự tăng hay giảm nhiệt độ của các khu vực gió thổi đến:
- Gió Mậu Dịch là do thổi từ chí tuyến về xích đạo, gió thổi đến vùng có nhiệt
độ trung bình cao hơn. Mà nhiệt độ càng cao, không khí càng có khả năng chứa
được nhiều hơi nước. Hơi nước càng tiến xa độ bão hoà và không khí càng trở
nên khô.
- Gió Tây ôn đới cũng xuất phát từ chí tuyến, nhưng thổi về phía cực. Như vậy
gió Tây ôn đới có xu hướng thổi về vùng khí hậu lạnh hơn, nên sức chứa hơi
0
C. Ở nóc nhà thế giới,
Trang 24
đỉnh ngọn núi Chômôlungma cao 8.848 m, ở khoảng 73,5
0
C nước đã sôi rồi. Với
nhiệt độ này rõ ràng là không thể nấu được cơm chín.
Ở bài 16 khi học về các khái niệm sóng biển, thuỷ triều đều định nghĩa đó
là những hiện tượng dao động của nước biển. Tuy nhiên để học sinh hiểu rõ hơn
các khái niệm này chúng ta nên vận dụng đến hiện tượng dao động. Trong Vật
lí học định nghĩa hiện tượng dao động là chuyển động có giới hạn trong không
gian, lặp đi lặp lại nhiều lần quanh vị trí cân bằng
2.3.3 Vận dụng một số kiến thức Hoá học trong giảng dạy địa lí tự
nhiên lớp 10
Hoá học là khoa học nghiên cứu về chất, phương pháp biến đổi chất và
ứng dụng của chất đó trong cuộc sống. Hoá học nói về các nguyên tố, hợp chất,
nguyên tử, phân tử và các phản ứng hoá học xảy ra giữa những thành phần đó.
Hoá học đôi khi được gọi là " khoa học trung tâm" vì nó là cầu nối các ngành
khoa học tự nhiên khác như vật lý học, địa chất học và sinh học. Chính vì vậy
môn học Địa lí và Hoá học cũng có những mối tương quan nhất định. Vì vậy có
những kiến thức Địa lí chúng ta có thể vận dụng kiến thức Hoá học để phân tích,
làm rõ.
Trong bài 9 học về tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
có đề cập đến những khái niệm như đá, khoáng vật. Để học sinh hiểu được các
khái niệm này, chúng tá có thể vận dụng kiến thức Hoá học để giải thích.
Đá là tổ hợp có quy luật của các loại khoáng vật, có thể là một thể địa
chất có lịch sử hình thành riêng biệt. Đá có thể được cấu tạo do một loại khoáng
thuần nhất hoặc do nhiều loại khoáng. Cũng có loại đá được cấu tạo do sự gắn
kết nhiều khối nhỏ của các loại đá khác nhau như đá cuội kết, đá dăm kết…
Để hiểu được khái niệm về đá học sinh cũng cần nắm được khoáng vật là