I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt là một công việc có ý nghĩa quan
trọng. Công việc này nhằm vào nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau. Một trong
những mục tiêu cơ bản nhất mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Phải
làm sao cho “ở nước ta số người viết tốt, nói tốt... mỗi ngày một nhiều hơn.
Yêu cầu này rất quan trọng vì xã hội ta đang phát triển, vì ta đang làm cách
mạng tư tưởng và văn hoá và cách mạng khoa học kỹ thuật”. Muốn đạt tới
mục tiêu này chúng ta nhất thiết phải lo tổ chức cho đông đảo quần chúng,
học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học được rèn luyện ngôn ngữ một cách có
hiệu quả, nhất là đọc, viết đúng dấu hỏi, ngã.
Rèn luyện ngôn ngữ là một hoạt động giáo dục, giáo dục ngôn ngữ.
Nó phải được xây dựng trên những cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Nhưng
rèn luyện đọc tốt, viết tốt không thể đơn thuần tập trung vào việc trang bị lý
thuyết ngôn ngữ, lý thuyết khoa học về Tiếng việt mà trước hết là phải đưa
người học vào hoạt động ngôn từ, vào thực tiễn đọc, viết một cách cụ thể, qua
đó mà hình thành những kỹ năng, những thói quen đúng chuẩn. Muốn thế cần
phải xác lập một quy trình thực hành, xây dựng một hệ thống những bài tập
được cân nhắc, tính toán dựa trên các quy luật ngôn ngữ học, giáo dục học,
tâm lý - ngôn ngữ học (cụ thể là các quy luật tiếp nhận và vận dụng tiếng mẹ
đẻ), giúp học sinh - nhất là học sinh tiểu học có thói quen đọc và viết đúng
dấu hỏi, ngã. Rèn luyện cho học sinh những năng lực cần thiết trong giao tiếp
nhất là trong khi viết. Để đạt được mục đích ấy là cả một quá trình phấn đấu
bền bỉ của toàn ngành giáo dục, của mọi trường học, trong đó mỗi một giáo
Trang 1
viên đứng lớp đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành cho học sinh
thói quen, kỹ năng đọc, viết đúng chính tả.
Là một người giáo viên được trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy học
sinh của miền Trung nói chung và của Quảng Bình nói riêng đều nói - đọc
phân biệt thanh hỏi ngã chưa chuẩn nên khi viết thường phạm lỗi chính tả là
tả. Muốn vậy công việc rèn luyện phải tổ chức một cách thường xuyên, đúng
phương pháp và có hiệu quả.
2.Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình dạy học và giáo dục, chúng ta thường hay đề cập đến
mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng như ảnh hưởng của nó đối với
quá trình dạy học. Bởi chính sự tác động qua lại của mối quan hệ này sẽ góp
phần quyết định chất lượng của quá trình dạy học.
Cứ nhìn trẻ em trước tuổi đến trường tiểu học (từ 2 - 5 tuổi) học nói,
chúng ta có thể thấy được nhiều điều đặc biệt, có thể nói là kỳ diệu nữa. Đó là
các em không phải nhờ ai dạy cả. Từng bước một các em tiến tới phát âm
giống như người lớn. Trong quá trình này, môi trường giao tiếp đóng vai trò
vô cùng quan trọng. Nếu mọi người giao tiếp với trẻ đều phát âm chính xác
thì sẽ giúp các em có những ngôn ngữ chuẩn xác. Đối với người dân Quảng
Bình nói riêng và toán miền Trung nói chung, phát âm lẫn lộn giữa dấu hỏi,
Trang 3
ngã nên dần dần sự phân biệt dấu hỏi, ngã trong trẻ rất khó khăn. Phát âm
không đúng hỏi, ngã thì dẫn đến việc lẫn lộn trong khi viết là một điều dương
nhiên. Chính vì vậy khi trẻ bước vào trường học, người giúp trẻ đọc, viết
đúng chính tả đó là người thầy. Thầy giáo tiểu học giữ vai trò chủ động trong
việc giáo dục tiểu học, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về rèn luyện ngôn ngữ, cụ thể là viết đúng
chính tả. Từ việc giáo dục, giúp đỡ cần hình thành cho học sinh ý thức tự
giác, thích thú thực hiện nhiệm vụ học tập, vận dụng - kiểm tra quy tắc chính
tả mọi lúc, mọi nơi. Các em phải học, phải đọc, phải viết mới nhớ được quy
tắc chính tả lâu dài. Dần dần ý thức đọc, viết đúng dấu hỏi, ngã sẽ trở thành
thói quen, kỹ năng của bản thân. Theo sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh
biết tự kiểm tra, đánh giá và biết sửa chữa những lỗi sai trong bài làm của
mình.
phải có quá trình nghiên cứu, học hỏi chu đáo, nghiêm túc, phải nắm vững
từng quy tắc và cách vận dụng. Khi lên lớp, giáo viên cần phải xác dịnh mục
tiêu và hiệu quả từng quy tắc, cần động viên, khuyến khích học sinh học
thuộc và mạnh dạn vận dụng quy tắc ở mọi lúc, mọi nơi. Giáo viên cần chịu
khó kiểm tra thường xuyên các quy tắc giúp học sinh ghi nhớ lâu và rõ ràng.
Xây dựng phong trào thi đua học và vận dụng quy tắc giữa các tổ. Tổ chức
Trang 5
các trò chơi có nội dung vận dụng quy tắc hỏi, ngã. Cần quan tâm nhiều hơn
đến những đối tượng học yếu (nhất là kỹ năng phân biệt hỏi ngã)
2. Đối với học sinh:
Trong những giờ dạy vận dụng quy tắc chính tả, yêu cầu học sinh thực
hiện một cách nghiêm túc, cụ thể và có hiệu quả. Để vận dụng được nhanh,
đúng, yêu cầu học sinh phải học thuộc. Có thể tổ chức những giờ học nhóm,
ngoại khoá để tự kiểm tra lẫn nhau, giúp học sinh có cơ hội và điều kiện năm
vững quy tắc. Không chỉ giúp học sinh nắm vững cách vận dụng quy tắc mà
qua những giờ học đó còn giúp các em mạnh dạn, tự tin khi đọc, viết.
Không chỉ nắm vững yêu cầu đối với giáo viên, học sinh mà trường
chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện tốt cách vận dụng các quy tắc dấu hỏi, ngã
trong những giờ chính tả và ngoài giờ lên lớp. Chính nhờ thực hiện tốt các
quy tắc mà tất cả giáo viên chúng tôi đã nhẹ nhàng hơn trong những bài tập
điền dấu hỏi, ngã; phân biệt hỏi, ngã; học sinh hứng thú thực hành phân biệt
hỏi, ngã; không khí lớp học sôi nổi hơn, nhất là số lượng học sinh biết phân
biệ hỏi, ngã ngày càng tăng, kết quả mang lại thật đáng khích lệ.
* Tuy vậy trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy vẫn còn một số
tồn tại chính:
Ben cạnh những kết quả đã đạt được, trường tiểu học Mỹ Thuỷ vẫn
còn những bất cập ở giáo viên và học sinh nên hiệu quả đem lại chưa đáp ứng
với yêu cầu của ngành. Trong khi thực hiện cách vận dụng quy tắc, một số
Khá
TB
SL
6
Yếu
%
25
SL
2
%
8,3
TB
Chưa đạt
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9
37,5
- Ngã + ngã: dễ dãi, nhễu nhão, nhõng nhẽo...
* Lưu ý: Chỉ có 16 từ láy “ngã + ngã”(nhễ nhãi, nghễnh ngãng, rỗi rãi,
võ vẽ, cũ kỹ, mũm mĩm, bỗ bã, dõ dễ, õng ãnh, nhũng nhẵng, chỡm chãm,
chũn chĩn, lỗ lã và 3 từ trên), số còn lại (hỏi + hỏi) độ 60 từ.
Để nhớ quy tắc này, ta phải thuộc câu:
Chị Huyền, mang Nặng, Ngã đau
Anh Sắc Không Hỏi một câu gọi là
Mẹo này có nghĩa là gặp một từ láy có một tiếng mình băn khoăn
không biết hỏi hay ngã thì nhìn ở tiếng đi cùng: nếu tiếng này có thanh huyền,
hoặc ngã, hoặc nặng thì cứ viết ngã; nếu có thanh sắc, hoặc hỏi, hoặc không
thì cứ viết hỏi. Còn gặp một từ không biết nên viết hỏi hay ngã thì tạo một từ
láy; nếu tạo được thì theo luật bổng trầm như nói trên mà quyết định.
Ví dụ:
- Nó không chịu nghỉ tay.--> nghỉ (hỏi hay ngã) --> nghỉ ngơi --> viết
với hỏi: nghỉ (vì ngơi thanh không, thuộc nhóm bổng - sắc, hỏi, không)
- Nó không chịu suy nghĩ --> nghĩ (hỏi hay ngã?) --> nghĩ ngợi -->
viét với ngã: nghĩ (vì ngợi thanh nặng thuộc nhóm trầm - huyền, ngã, nặng)
Trang 8
Có một vài ngoại lệ cần nhớ: ngoan ngoãn, se sẽ (khe khẽ) , ve vãn,
nông nỗi, bền bĩ, niềm nở, phỉnh phờ, hẳn hoi, luồn lỏi, nài nỉ, hồ hởi, xài xể,
mình mẩy, bẽ bàng, lẳng lặng, vẻn (vơn) vẹn (16 từ)
2. Quy tắc trong từ Hán Việt
Với từ Hán Việt để giải quyết vấn đề hỏi, ngã có thể dựa vào mẹo sau:
Mình nên nhớ viết là dấu ngã.
Câu này thể hiện quy luật là một yếu tốt Hán Việt bắt đầu bằng m
(mình), n (nên), nh (nhớ), v (viết),l (là), d (dấu), ng(ngã) thì viết là dấu ngã
đúng như mẹo đã nêu trên. Ví dụ:
- Hữu: bằng hữu, hữu nghị, hữu ích, tư hữu.
- Tiễn: tiễn biệt, tống tiễn, thực tiễn
- Hỗn: hỗn loạn, hỗn chiến
- Đãng: phóng đãng, quang đãng
- Xã: xã hội
- Quỹ: công quỹ, thủ quỹ
- Suyễn: hen suyễn
- Hoãn: trì hoãn
- Cưỡng: cưỡng bức
- Hỗ: hỗ trợ
Trang 10
- Hãm: hãm hại
- Sĩ: tiến sĩ, bác sĩ
- Trĩ: ấu trĩ
- Trữ: tích trữ, dự trữ
- Quẫn: khốn quẫn
- Huyễn: huyễn hoặc
- Cữu: linh cữu
- Trẫm: vua
Học thuộc bài thơ trên, có thể viết đúng hỏi, ngã cho vài nghìn từ Hán
Việt.
3. Quy tắc ngữ nghĩa:
Những từ song thức (từ mà âm, nghĩa giống nhau vì có cùng nguồn
gốc) về mặt thanh điệu cũng được phân bố theo quy luật bổng trầm. Từ đó ta
có hai mẹo sau:
- Lãi - lời - lợi
- Tản - tán - tan
Những mẹo này chỉ rõ khi ta đứng trước một từ không biết nên viết
thích học sinh hứng thú học tập. Chính vì vậy mà kỹ năng phân biệt hỏi ngã
của học sinh được nâng cao rõ rệt.
Trang 12
Kết quả đạt được:
* Kỹ năng phân biệt hỏi ngã:
Tốt
SL
%
18
75
Giảm
Tăng
SL
%
Giảm
Giỏi
SL
8
Khá
Tăn
Giả
g
m
SL
%
33,3 16,6
16
* Đối với nhà trường:
Tăng
TB
Tăn
Giả
g
m
1. Muốn học sinh có kỹ năng vận dụng và thực hiện đúng lỗi hỏi, ngã
thì điều đầu tiên là người giáo viên phải kiên trì, chịu khó dẫn dắt học sinh
thuộc và nắm được luật “hỏi - ngã”
2. Ngôn ngữ của giáo viên phải chuẩn, chính xác, rõ ràng khi đọc
tiếng mang dấu hỏi - ngã
3. Phải biết thu hút học sinh, tạo hứng thú học tập cho các em trong
mọi họat động học tập. đặc biệt giáo viên phải rèn cho mình kỹ năng phân
biệt hỏi - ngã tốt.
4. Phải biết kết hợp các biện pháp, phwong pháp và hình thức dạy học
một cách khéo léo, phù hợp để phát huy hết khả năng sáng tạo của học sinh.
Học sinh nắm và vận dụng tốt, làm cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên,
hiệu quả.
5. Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội giúp học sinh
học tập tốt hơn nhằm thực hiện tốt công tác đổi mới giáo dục trong quá trình
dạy học.
VI. KẾT LUẬN
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong giáo dục tiểu học, các nội dung dạy học với dung lượng kiến thức cung
cấp cho học sinh tuy chưa nhiều nhưng là những kiến thức rất cần thiết, làm cơ
sở để hình thành nhân cách con người Việt Nam dưới chế độ ưu việt của chúng
ta, góp một phần lớn vào quá trình giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Vì vậy muốn nâng cao số lượng học sinh đọc, viết đúng chính tả thì
không chỉ trách nhiệm của những người giáo viên đứng lớp mà đó là trách
Trang 14
nhiệm của cộng đồng xã hội. Đó là công việc lâu dài, thường xuyên. Cho nên
toàn xã hội phải quan tâm, chăm lo. Vì: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
phát triển”. Hơn ai hết là những người giáo viên được trực tiếp dạy học sinh