Một số kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn để dạy học hiệu quả nội dung lịch sử việt nam lớp 9 THCS - Pdf 44

Mục Lục
Mục
1.
1.1
1.2
1.3
1.4

Nội Dung
MỞ ĐẦU

Trang
2

2.1

Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
Cơ sở lý luận

2
3
3
3
3
3

2.2.


19

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

20

2.

2.4.2

3.

8

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu về quá khứ của xã hội loài người.
Bởi thế môn Lịch sử có vai trò rất quan trọng trong việc bồi dưỡng thế hệ trẻ
về văn hóa, tư tưởng, đạo đức và năng lực hành động. Lịch sử cũng như các
môn học khác, có vai trò to lớn trong việc tác động đến con người không chỉ
về trí tuệ mà còn cả về tư tưởng, tình cảm. Giúp các em thấy được quá trình
phát triển của một đất nước, một dân tộc mà rộng hơn là cả xã hội loài
người, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân sinh quan, thế giới
quan khoa học.
Thực tế lại là một nghịch lý, khi môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng
như vậy nhưng thế hệ trẻ lại rất ít người học sử, đọc sử và yêu Lịch sử.

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích
hợp trong việc xây dựng chương trình dạy học. Ở mức độ cao, sự tích hợp này
sẽ hình thành những môn học mới. Điều này đã được Đại hội Đảng lần thứ XI
(2011), Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban
chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo... xây dựng thành chương trình giáo dục tổng thể, trong đó môn Lịch
sử thuộc về môn khoa học xã hội của sách giáo khoa mới sẽ dự tính thay vào
năm 2018.
Thực tế hiện nay, khi môn Lịch sử đang giữ vị trí độc lập, việc tích hợp chỉ
ở mức độ thấp, được thực hiện trong mối quan hệ liên môn. Xuất phát từ chức
năng của môn Lịch sử là cung cấp những kiến thức cơ bản về quá trình phát
triển của xã hội loài người (thế giới và dân tộc), việc nắm vững những sự kiện

3


và quá trình lịch sử đòi hỏi phải nắm kiến thức liên quan nhiều đến lĩnh vực
khoa học xã hội- nhân văn và khoa học tự nhiên. Với giáo viên Lịch sử, sự hiểu
biết và vận dụng kiến thức liên môn là yếu tố quan trọng đảm bảo thành công
cho bài giảng. Dạy học tích hợp liên môn là cần thiết tăng tính hấp dẫn, tạo hứng
thú cho học sinh trong học tập Lịch sử.
Để đạt hiệu quả cao trong dạy học bộ môn, người giáo viên trực tiếp giảng
dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS không nên quá rập khuôn theo nội dung
sách giáo khoa, sách giáo viên mà phải tìm tòi, vận dụng vào nội dung bài học
bằng cách kết hợp kiến thức tương đồng giữa các môn học làm cho bài học trở
nên sinh động, nhẹ nhàng, bớt khô khan cứng nhắc. Thực tế là không ít tác
phẩm văn học mà tự bản thân nó là một tư liệu lịch sử, nội dung của nó
mang hơi thở của thời đại như: "Bình Ngô đại cáo", "Hoàng Lê nhất thống

Khá

Kết quả thăm dò
(câu 2)

TB

Yếu

Kém



Không

SL TL SL TL

SL TL

SL TL

SL TL

SL TL

SL TL

2

30

TS
HS
Giỏi

9

Khá

TB

Kết quả thăm dò
(câu 2)
Yếu

Kém



Không

SL TL SL TL

SL TL

SL TL SL TL

SL TL

SL TL


Kết quả cho thấy do không có hứng thú học môn Lịch sử dẫn đến chất
lượng môn học không cao, có tới 50% học sinh điểm yếu kém. Nguyên nhân
chính là học sinh cho rằng môn Lịch sử là một môn học khô khan, khó nhớ và
không thích học, ngại học.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, song chủ yếu là những lý
do sau đây:
Một là giáo viên dạy Lịch sử chưa nhận thức đúng đắn sự cần thiết phải đổi
mới phương pháp dạy học bộ môn, hoặc có đổi mới nhưng chỉ là chiếu lệ, hiệu
quả không cao. Các tiết học của nhiều giáo viên đơn thuần chỉ là giáo viên nêu
câu hỏi, học sinh nhìn sách giáo khoa trả lời và học sinh ghi bài. Nhiều giáo viên
chưa đầu tư cả về thời gian và trí tuệ để có tiết dạy tích hợp sinh động phong
phú nhằm giúp học sinh tìm hiểu và dựng lại hoạt động của con người trong quá
khứ.
Hai là trong các nhà trường hiện nay tồn tại quan niệm “môn chính”, “môn
phụ”; việc tổ chức thi cử còn nhiều bất cập; sự tính toán trong định hướng nghề
nghiệp sau này của phụ huynh cho con em của mình khi đánh giá vai trò của
môn Lịch sử rất mờ nhạt. Điều này dẫn đến học sinh không thích học hoặc
không còn thời gian để học môn Lịch sử.
Ba là chương trình, nội dung sách giáo khoa Lịch sử có nhiều hạn chế, bất
cập, nặng tính hàn lâm, chưa khoa học, chủ yếu là kênh chữ, hình ảnh trực quan
thiếu tính thẩm mỹ.
Bốn là đồ dùng, thiết bị dạy học thiếu thốn nhất là vùng nông thôn, miền
núi. Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, bình quân mỗi trường chỉ
được 1 máy chiếu, nhiều trường chưa có máy chiếu.
Thực tế đã cho thấy có mâu thuẫn trong nhận thức về bộ môn Lịch sử. Một
mặt đều nhận thức được rằng Lịch sử là môn học bổ ích về mặt kiến thức; nhưng
mặt khác lại có thái độ không thích học, ngại học.
2.3. Các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp
Qua thực trạng và kết quả khảo sát nêu trên, tôi đã tìm hiểu và vận dụng
kinh nghiệm để tìm giải pháp khắc phục. Các giải pháp cụ thể đó là:


19

6





23

7

37

7

49

7





22

8

42

Mĩ thuật, Âm nhạc, GDCD…
Địa lí, Ngữ văn, Kiến thức xã hội,
Nước Âu Lạc
Mĩ thuật, GDCD…
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Địa lí, Ngữ văn, Kiến thức xã hội,
Trưng
Mĩ thuật, GDCD…


Ba lần kháng chiến chống
Ngữ văn, Địa lí, GDCD…
Mông- Nguyên.
Ngữ văn, Địa lí, Kiến thức xã hội,
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
GDCD…
Khởi nghĩa nông dân Đàng Kiến thức xã hội, Ngữ văn, Địa lí,
Ngoài.
GDCD…

...
Cách mạng tháng Mười
Ngữ văn, Địa lí, GDCD…
Nga năm 1917.
Kiến thức xã hội, Ngữ văn, Địa lí,
Khởi nghĩa Yên Thế.
GDCD…
Trào lưu cải cách duy tân ở Kiến thức xã hội, Ngữ văn, Địa lí,
Việt Nam.
GDCD…


giàu có để chuẩn bị cho mỗi bài dạy.
Cách 1: Tra cứu thông tin, dữ liệu trên sách báo, nguồn internet.
Cách 2: Hỏi các bậc cao niên và học tập đồng nghiệp.
Cách 3: Tự sáng tạo.
Cách 4: Dự giờ một số tiết học thuộc môn học liên quan để nắm bắt nội
dung chương trình hiện hành, tù đó có địa chỉ tích hợp chính xác.
Trong 4 cách làm này, cách 1 là nguồn tài nguyên học liệu giàu có nhất.
Chúng ta có thể vào trang web để tra cứu. Bản thân
tôi thường tra cứu trên trang web này bằng cách tìm theo chủ đề.
Chẳng hạn: Với chủ đề “Dạy học Lịch sử bằng thơ”, tôi tìm được khoảng
822.000 kết quả trong 0,29 giây từ trang web . Sau
khi chọn lọc, tôi có thể vận dụng các kiến thức vừa tìm được vào các bài có chủ
đề liên quan… Hay với từ khóa: “Thơ hay về Bác Hồ”, tôi tìm được khoảng
685.000 kết quả trong 0,27 giây và nguồn ngữ liệu này được tôi chọn và sử
dụng vào các bài liên quan đến hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái
Quốc, vai trò của Người đối với những thời điểm trọng đại của lịch sử dân tộc
như: 19/8/1945, 2/9/1945, 7/5/1954,…
Ngoài tra cứu nguồn tư liệu trên mạng, giáo viên có thể đọc sách để tìm
hiểu thêm những câu hỏi, kiến thức thú vị về lịch sử dân tộc và thế giới. Có thể
kể tên những cuốn sách bổ ích như: “Mười vạn câu hỏi vì sao” của NXB Giáo
dục Việt Nam; “Những bí mật của thế giới” (NXB Lao động); “AlmanachNhững nền văn minh thế giới” (NXB Văn hóa- Thông tin); “Đại Nam quốc sử
diễn ca” (NXB Giáo dục Việt Nam); “Đại Nam thực lục” (NXB Giáo dục Việt
Nam); “Từ điển địa danh lịch sử Việt Nam” (NXB Giáo dục Việt Nam); v.v…
Từ những tài liệu tham khảo kể trên, giáo viên có thể sưu tầm và hệ thống được
một số câu hỏi, kiến thức thú vị, góp phần hỗ trợ cho tiến trình dạy học Lịch sử
THCS.
Trong 4 cách, cách 1 phổ biến, thông dụng, thuận lợi và tiết kiệm được thời
gian. Ba cách còn lại đòi hỏi người làm cần đầu tư thời gian, công sức nhiều
hơn. Đặc biệt cách thứ 3 cần đòi hỏi một chút năng khiếu. Nhưng với tinh thần
nhiệt huyết, lòng yêu nghề sâu sắc, tôi tin rằng các đồng nghiệp cũng sẽ tìm thấy

Em ạ, Cu- ba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương
Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường hoa, rộn bốn phương.
( Từ Cu- ba- Tố Hữu)
Ví dụ khác: Khi dạy bài 16: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước
ngoài trong những năm 1919 – 1925 (Lịch sử 9), tôi có thể giới thiệu bài học
bằng cách trích dẫn đoạn thơ:
“Luận cương đến với Bác Hồ
Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin.”
(Người đi tìm hình của nước- Chế Lan Viên)
Khi dạy bài 22: Cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945. Để giúp học sinh ghi nhớ sự kiện ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái
Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (Lịch sử 9), tôi trích đoạn
thơ:
“Ôi sáng xuân nay – xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ
Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

9


Nhớ thương hòn đất ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!

“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm
Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng,
chí không mòn!
Những đồng chí, thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai

10


Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, mắt nhắm, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta tiến lên chiến trường tiếp
viện”
Hay những lời thơ rất đẹp:
"Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng."
Những câu thơ ấy cũng giúp học sinh ghi nhớ luôn về khoảng thời gian
diễn ra cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai (19461954)- Hay còn gọi là thời kỳ “ 9 năm” trong lịch sử.
Bài 29: Cả nước trực tiếp chiến đấu cống Mỹ cứu nước (1965-1973).
Trong thơ chúc tết xuân Mậu Thân (1968) Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết:
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.
Thắng trận tin vui khắp nước nhà,

ở tiết 6, môn Địa lí 9: “Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam” để nắm được
thành tựu và sự chuyển mình đáng phấn khởi của đất nước chúng ta trong
khoảng mười lăm năm. Những kiến thức của môn Địa lí có thể vận dụng vào
bài Lịch sử đó là: sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công cuộc đổi mới; khả
triển của nền kinh tế Việt Nam.
Từ những kiến thức về Địa lí liên quan đến Lịch sử, tôi sẽ giúp các em
nhận thức được rằng: các yếu tố “thiên thời”, “địa lợi” và “nhân hòa” giúp
cha ông ta vượt qua những gian nan thử thách vươn lên trong cuộc sống và viết
nên những trang sử vẻ vang ngàn đời bất diệt.
2.4.3.3. Sử dụng kiến thức môn Âm nhạc trong một số bài Lịch sử
Có nhiều tác phẩm âm nhạc ra đời gắn liền với các sự kiện lịch sử lớn của
dân tộc. Bài hát “Hò kéo pháo” (Hoàng Vân) với những câu hát hùng hồn thể
hiện không khí dồn dập chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ: "Hò dô
ta nào, kéo pháo ta vượt qua đèo. Hò dô ta nào, kéo pháo ta vượt qua núi.
Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi. Vực sâu thăm thẳm,
vực nào sâu bằng chí căm thù. Hò dô ta nào!”.... Trong khi đó, những câu hát
đầy men say chiến thắng: “Giờ chiến thắng ta đã về vui mừng đón chúng ta
tiến về. Núi sông bừng lên. Đất nước ta đón mừng chiến dịch đại thắng, cùng
góp sức xây dựng hòa bình” của bài hát “Chiến thắng Điện Biên” (Đỗ Nhuận)
là minh chứng bất tử cho những chiến công vang dội của dân tộc ta. Giáo viên
có thể hát hoặc học sinh hát,... giúp học sinh khắc sâu, nhớ kĩ kiến thức Lịch sử
9 ở bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953–
1954).
Sự kiện 19/8/1945, cuộc mít tinh tại nhà hát lớn Hà Nội gắn liền với sự ra
đời của bài hát "Tiến quân ca" (Văn Cao) nay là bài Quốc ca của nước Việt
Nam. Lời bài hát và thời điểm ra đời rất ý nghĩa, trang trọng, thiêng liêng của
ca khúc giúp học sinh lắng đọng trong không khí cách mạng và hồn thiêng
sông núi. Bài hát giúp các em nhớ về mùa thu lịch sử của dân tộc (Tiết 27, bài
23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa, Lịch sử 9). Tôi cũng đã nhờ một học sinh hát cho cả lớp nghe ca khúc

11- Trách nhiệm của Thanh niên hiện nay để học sinh nêu lên thực tiễn trong
xây dựng đất nước hôm nay.
Tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa, kiến thức địa lí, kiến thức văn hóahiểu biết xã hội,… giúp chúng ta có điều kiện để vận dụng hiệu quả vào dạy
học môn Lịch sử. Ngược lại, chính môn học Lịch sử cũng tác động đến các
môn học khác, tạo nên sợi dây nối kết kiến thức liền mạch. Vì vậy, vận dụng
kiến thức liên môn để dạy học môn Lịch sử là một công việc thiết thực, ý
nghĩa, cần thiết.
Sau đây là giáo án minh họa cho việc vận dụng kiến thức liên môn vào bài
giảng môn Lịch sử (tôi chỉ đưa phần nội dung chính của giáo án):

13


Hoạt động của GV và HS

Hoạt động 1: Cá nhân
-Phân tích tình hình của thực dân
Pháp sau 8 năm tiến hành chiến
tranh xâm lược?
GV: Nhận xét bổ sung
- Lực lượng qua 8 năm bị thiệt hại
lớn: 39 vạn tên,
- Kinh tế kiệt quệ: tiêu tốn cho chiến
tranh 2000 tỉ phơ- răng, vùng chiếm
đóng bị thu hẹp
- Chính trị : Rối loạn: 19 lần thay đổi
chính phủ, 7 lần thay đổi tổng chỉ
huy quân viễn chinh ở Đông Dương
- Xã hội: phong trào phản đối chiến
tranh lên cao

Kiến thức cơ bản
I. Âm mưu mới của Pháp- Mĩ ở
Đông Dương: Kế hoạch Na -Va
a. Hoàn cảnh ra đời của kế hoạch
Na -va
- Pháp: Sau 8 năm chiến tranh, Pháp
gặp khó khăn, bị loại khỏi vòng chiến
đấu 39 vạn quân, ngày càng lâm vào
thế bị động trên chiến trường.

Pháp nhận thêm viện trợ của Mỹ
- Mĩ: ép Pháp phải kéo dài, mở rộng
chiến tranh

 7/5/1953 theo thỏa thuận của Mĩ,
Pháp cử Na-va sang làm Tổng chỉ huy
quân đội Pháp ở Đông Dương, vạch ra
kế hoạch Na- va, dự định thực hiện
trong vòng 18 tháng.

b. Nội dung:
Chia làm 2 bước
- Bước 1: Thu đông 1953- xuân 1954:
phòng ngự, tiến công chiến lược.
- Bước 2: Thu đông 1954: tổng tiến
công chiến lược
c. Thủ đoạn: Tăng viện trợ cho quân
viễn chinh, tăng cường ngụy quân.
đưa lực lượng cơ động mạnh lên 84
tiểu đoàn, trong đó có 44 tiểu đoàn tập


Kết quả thăm dò
(trắc nghiệm)
Không

trả lời

Kém

SL

TL SL TL SL TL SL TL SL TL

SL

12

14

75 87,2

24 27,9 42 48,8 8

9,3

0

0

TL

11 14.1 21 26.9 39 50.0 7

9,0

Kết quả thăm dò
(trắc nghiệm)
Không

trả lời

0

0

SL

TL

SL

TL

72

92,3

6

7,7


- Giáo viên khi vận dụng cách làm này và hướng dẫn học sinh học Lịch sử
cần có sự đầu tư về thời gian, tích cực tự học, tự nghiên cứu, vận dụng sáng tạo,
khéo léo. Trong mỗi tiết học, cần điều tiết, phân phối thời gian hợp lý, tuân theo
nguyên tắc dạy học tích hợp, không tham lam ôm đồm kiến thức, không nên lạm
dụng kiến thức liên môn quá nhiều, tránh xa rời phương pháp đặc trưng của bộ
môn biến giờ học Lịch sử thành môn học khác.Đặ biệt khi tích hợp kiến thức
văn hoc GV cần nghiên cứu và chắt lọc các tích đoạn thơ, văn thật ngắn, có nôi
dung tiến bộ, phản ánh lịch sử một cách chân thực nhất, phù hợp với yêu cầu
giáo dục và giáo dưỡng của bài học, tránh ôm đồm làm loãng nội dung bài lịch
sử.
- Tùy từng tiết bài, từng đơn vị kiến thức để vận dụng dạy tích hợp, không
thể thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học khác cũng như những thiết bị,
đồ dùng dạy học. Cần phối hợp linh hoạt giữa các cách làm để bài học vừa sinh
động, vừa đảm bảo trọng tâm kiến thức bài học.
- Dạy học Lịch sử không phải một giờ giảng Văn, dạy học Địa lí hay Âm
nhạc, Mĩ thuật, cho nên việc dành quá nhiều thời gian để chau chuốt cho nó sẽ
gây tác dụng ngược, khiến lãng phí thời gian, mất nhiều công sức mà không tập
trung được vào mục đích của bài học. Khi đã vận dụng cách dạy này thì cần có
định hướng để vận dụng ở mức độ vừa phải, chính xác.
- Giáo viên cần có sự đầu tư cả về thời gian và trí tuệ, tự bồi dưỡng cho
mình để có kiến thức sâu rộng ở nhiều môn; năng động, sáng tạo để tìm ra một
con đường ngắn nhất để học sinh đến với tri thức của nhân loại. Đặc biệt với
giáo viên dạy lịch sử phải là người đam mê Lịch sử và am hiểu về nhiều lĩnh
vực.
Trên đây là một số kinh nghiệm vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học môn
Lịch sử THCS. Qua việc tìm hiểu và vận dụng, tôi nhận thấy cách làm này đã
góp phần đáng kể đem lại kết quả tích cực trong công tác giảng dạy của người
giáo viên và quá trình học tập của học sinh, bước đầu đã giảm bớt được tâm lý
ngại học Lịch sử, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status