PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường THPT, Ngữ văn là một trong những môn học có truyền
thống lâu đời, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và có nhiều thành tựu. Tuy
nhiên, trong bối cảnh hiện đại, giáo dục nước ta đang bước vào công cuộc đổi
mới toàn diện, môn Văn nói riêng, các môn học khác nói chung cần có sự đột
phá thực sự về mặt nội dung và phương pháp dạy học.
Đọc hiểu văn bản văn học là một phần cực kì quan trọng, tạo nên tính
chất nghệ thuật của môn Văn trong nhà trường. Thông qua các tác phẩm văn
chương được chọn lọc trong từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử, giáo viên phải
giúp học sinh thấy được tiến trình văn học, phong cách thời đại, những tư tưởng
thẩm mĩ, nhân văn cao đẹp được gửi gắm trong các hình tượng nghệ thuật, từ
đó bồi dưỡng năng lực đọc văn, thẩm văn, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân
cách cao đẹp.. Tuy nhiên, thực hiện được trọng trách đó là một việc không hề dễ
dàng, nhất là trong cuộc sống hiện đại ngày nay, Văn trong tâm trí của đa phần
học sinh là môn học kém tính “thời thượng”, vì thế, hứng thú, đam mê với môn
học giảm sút nghiêm trọng. Làm thế nào để tạo sức hút trong mỗi giờ học, đưa
tác phẩm đến gần hơn với học sinh là điều trăn trở của các giáo viên Ngữ văn.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 là nền văn học gắn bó chặt chẽ
với nhiệm vụ cách mạng của dân tộc, đậm chất sử thi hùng tráng. Những tác
phẩm của giai đoạn văn học này âm vang tiếng dội của lịch sử, mang sắc vóc và
khuôn mặt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta. Tìm
hiểu những tác phẩm như thế không thể tách rời việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử
xã hội, vận dụng kiến thức của các môn học khác, lĩnh vực khác để đi sâu khám
phá thế giới nghệ thuật ngôn từ - tức là vận dụng kiến thức liên môn vào việc
dạy học tác phẩm.
Dạy học theo hướng vận dụng - tích hợp kiến thức liên môn là một
nguyên tắc trong phương pháp dạy học nói chung, cũng là một trong những yêu
1
phát huy năng lực, tính chủ động, tích cực của học sinh trong quá trình dạy học,
nâng cao hiệu quả việc dạy học Văn trong nhà trường.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
Tác phẩm văn học trong quan niệm của các nhà nghiên cứu là “công trình
nghệ thuật ngôn từ do cá nhân nhà văn hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện
những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống và con người ”, là sự phản ánh,
khúc xạ, vang hưởng của đời sống hiện thực, là tấm gương phản ánh diện mạo
lịch sử của một thời kì, đồng thời cũng là nơi dự báo, dự cảm về tương la”
(Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học, Nxb Giáo dục Việt
Nam, 2012, tr. 8).
Xuất phát từ quan niệm trên, có thể thấy rằng việc tìm hiểu – đọc hiểu –
nghiên cứu một tác phẩm văn chương phải luôn chú ý đến mối liên hệ hữu cơ,
mật thiết giữa văn học và đời sống xét từ bản chất, đối tượng và phương thức
phản ánh của nó. Đời sống được nhắc đến trên đây bao gồm đời sống lịch sử xã
hội sản sinh ra tác phẩm, đời sống nghệ thuật được mô tả, chiếu phản trong tác
phẩm và đời sống hiện nay – môi trường lịch sử, văn hóa đương đại.
không mới mẻ, bởi tác phẩm văn học về bản chất đã là tổng hòa của hàng loạt
tương quan, đồng thời cũng đã có thời kì tồn tại hiện tượng văn – sử - triết bất
phân. Giữa các môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Địa
lí, Giáo dục công dân vì thế có mối quan hệ mật thiết. Khi vận dụng kiến thức
liên môn vào dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, cần xác định:
- Đảm bảo đặc trưng bộ môn. Dù có sử dụng những nội dung kiến thức
của các môn học khác có liên quan, nhưng không được biến giờ Văn thành giờ
Lịch sử, Địa lí hay GDCD do sự lạm dụng kiến thức liên môn không cần thiết.
- Cả người dạy lẫn người học đều phải có sự “trang bị” các kiến thức liên
môn, liên ngành một cách chu đáo. Giáo viên phải có sự tìm hiểu, lựa chọn kĩ
càng những nội dung kiến thức liên môn cần thiết, từ đó, đặt vấn đề, gợi ý và
đưa ra yêu cầu cụ thể cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành là tác phẩm
tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam
5
giai đoạn 1945 – 1975. Có thể nói, bóng dáng thời đại, hơi thở đời sống, vóc
dáng lịch sử đã ngả vào trong tác phẩm cực kì rõ nét. Đọc – hiểu Rừng xà nu,
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn lớp 12 của Bộ
Giáo dục và đào tạo xác định mức độ cần đạt của học sinh là “nắm được tư
tưởng mà tác giả gửi gắm qua những hình tượng trong tác phẩm (…); thấy được
chất sử thi, ý nghĩa và giá trị của tác phẩm trong thời điểm nó ra đời và trong
thời đại ngày nay”. Để đạt mục tiêu này, cùng với việc đi sâu vào thế giới nghệ
thuật của tác phẩm, nhất thiết cần quan tâm đặc biệt đến bối cảnh lịch sử - mảnh
đất hiện thực nơi tác phẩm bắt rễ và tác động của Rừng xà nu đến cuộc sống
hiện tại hôm nay.
2. Cơ sở thực tiễn
Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật có cội rễ từ hiện thực, phục vụ cho
đời sống. Hiện thực đời sống là mảnh đất màu mỡ để người nghệ sĩ ươm trồng,
Tác phẩm Rừng xà nu ra đời đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi của hiện thực
lịch sử lúc bấy giờ: Một bài Hịch tướng sĩ cho thời đại mới. Bên cạnh đó, Rừng
xà nu còn là một tác phẩm thể hiện cái duyên của tác giả với mảnh đất và con
người Tây Nguyên. Rừng xà nu có hai hình tượng nghệ thuật song hành, chiếu
ứng: Cây xà nu – rừng xà nu và con người Tây Nguyên. Cả cây và người trước
khi đi vào tác phẩm đều đã để lại những dấu ấn, đúng hơn sự say mê đến ám ảnh
trong tình cảm, trong tâm hồn nhà văn. Những con người anh dũng, thủy chung,
giàu tình nặng nghĩa, một loài cây với vẻ đẹp hùng vĩ và man dại, cao thượng và
trong sạch… Cây và người cùng hứng chịu biết bao đau thương mất mát nhưng
vẫn vươn lên với một sức sống mãnh liệt, trường tồn… Đây chính là biểu hiện
của mối quan hệ mật thiết giữa thiên nhiên với con người, giữa tự nhiên và xã
hội. Dẫn dắt học sinh khám phá vẻ đẹp của các hình tượng nghệ thuật cũng
chính là hình ảnh trực quan cho những bài học về môi trường sống, về những giá
trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần phát huy trong thời đại mới.
Trong chương trình lớp 12, bộ môn Lịch sử cung cấp kiến thức về lịch sử
Việt Nam hiện đại từ 1930 đến nay. Theo tiến độ chương trình, khi các em học
bài Rừng xà nu (PPCT: tiết 64, 65, 66) thì ở môn Lịch sử đã và đang tiến hành
dạy học bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế
7
quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965) (PPCT: tiết
36,37,38) và bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ
xâm lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)
(PPCT: tiết 39, 40,41). Ngoài ra, những phương tiện thông tin đại chúng phổ
biến là nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng có thể hỗ trợ tích cực cho việc chuẩn
bị những tư liệu tiêu biểu, sinh động cần thiết cho việc đọc hiểu tác phẩm Rừng
xà nu. Cho nên, việc vận dụng kiến thức liên môn, liên ngành trong dạy học
truyện ngắn Rừng xà nu có đầy đủ điều kiện thực tiễn để tiến hành một cách
hiệu quả, đáp ứng yêu cầu tăng cường vận dụng kiến thức vào giải quyết những
- Xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài giảng, dự kiến quy trình, kết
quả. Thực chất, việc thiết kế bài giảng của người giáo viên giống như công việc
viết kịch bản cho các vở kịch. Tiến trình giờ học, hoạt động của giáo viên, học
sinh, những tình huống có thể phát sinh trong giờ học… tất cả đều phải được
“giả thiết” trước và đưa ra cách giải quyết. Tuy nhiên, đối với một bài học vận
dụng kiến thức liên môn, các tình huống sư phạm nảy sinh ngoài giả thiết chắc
chắn sẽ xảy ra. Người giáo viên cần có bản lĩnh sư phạm vững vàng trên cơ sở
nắm chắc nội dung, kiến thức và kĩ năng ứng xử sư phạm để giờ học đạt kết quả
như dự kiến.
b. Đối với học sinh:
Cùng với việc chuẩn bị bài theo các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học
bài ở sách giáo khoa, học sinh thực hiện thêm các yêu cầu cụ thể sau:
- Tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn 1955 -1965:
+ Âm mưu của đế quốc Mỹ trong chiến lược chiến tranh cục bộ
+ Tội ác của đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam.
+ Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam chống đế quốc Mỹ.
- Tìm hiểu về mảnh đất Tây Nguyên (lịch sử, văn hóa, truyền thống…)
- Sưu tầm hình ảnh, thông tin về cây xà nu (những tên gọi, đặc điểm sinh
thái…)
- Đọc toàn bộ tác phẩm (văn bản ở SGK đã lược trích một số đoạn)
Soạn bài theo định hướng như trên, học sinh đồng thời chuẩn bị được tâm
thế để tham gia các hoạt động giáo viên tổ chức trong giờ học một cách chủ
động, tích cực, liên hệ, vận dụng kiến thức các bộ môn liên quan vào việc tìm
hiểu tác phẩm văn học, phát huy tính sáng tạo của bản thân.
2. Tổ chức hoạt động dạy học
9
Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học được tiến hành theo đúng trình
tự truyền thống. Các nội dung tích hợp không thể hiện trong toàn bộ bài học mà
* Giáo viên tích hợp kiến thức Lịch sử bằng việc chiếu đoạn phim tài liệu về
cuộc đổ bộ đầu tiên của quân Mỹ lên bãi biển Chu Lai và âm mưu của đế quốc
Mỹ trong chiến tranh cục bộ. Kiến thức Lịch sử sinh động trong các hình ảnh
chân thực của những thước phim tư liệu giúp học sinh cảm nhận được không khí
sôi sục của một giai đoạn lịch sử hào hùng chống Mỹ cứu nước, cũng là mảnh
đất hiện thực sản sinh tác phẩm Rừng xà nu.
2.3. Đọc – hiểu văn bản
a. Về hình tượng rừng xà nu:
Trước khi hướng dẫn tìm hiểu hình tượng rừng xà nu trong tác phẩm, giáo
viên yêu cầu học sinh huy động hiểu biết của bản thân về loài cây xà nu qua tìm
hiểu tài liệu ngoài văn bản tác phẩm. Đó có thể là những thông tin khoa học về
cây xà nu, đó cũng có thể là những dòng hồi ức của tác giả Nguyễn Trung
Thành về một loài cây mà ông yêu đến say mê vì vẻ đẹp hùng vĩ và cao thượng,
man dại và trong sạch…, đó cũng có thể là những bức ảnh chụp rừng xà nu được
chia sẻ phổ biến trên các trang mạng…. Những thông tin phản hồi của học sinh
có thể chưa thật sự chính xác, vì thế, giáo viên cần có sự điều chỉnh và sử dụng
đoạn phim tư liệu về rừng xà nu với lời thuyết minh là đoạn mở đầu tác phẩm.
Điều này vừa giúp học sinh có cái nhìn chân xác về hình ảnh cây xà nu trong
thực tế, vừa nối dẫn các em đến với vẻ đẹp của hình tượng nghệ thuật rừng xà
nu trong tác phẩm. Đặc biệt, hình tượng rừng xà nu có những phẩm chất tương
đồng với hình tượng cây tre trong nhiều tác phẩm quen thuộc với học sinh như
“Tre Việt Nam” (Nguyễn Duy), “Cây tre Việt Nam” (Thép Mới). Gợi mở để học
sinh có sự liên hệ mở rộng, từ đó nhận ra mối tương quan khắng khít giữa cây và
người, thiên nhiên với cuộc sống… cũng là một nội dung tích hợp quan trọng,
cần thiết và khả thi ở bài học này.
11
b. Về hình tượng tập thể dân làng Xô-man:
Trong hình ảnh của dân làng Xô-man đau thương mà anh dũng, giáo viên
Số
KHÁ
%
lượng
-
Số
TB
%
lượng
27
4
14.8
10
37.0
Kết quả lớp dạy thực nghiệm:
Lớp
12B
Sĩ số
26
GIỎI
Số
YẾU
33.4
TB
%
Số
14.8
YẾU
%
Số
%
0
KÉM
%
Số
%
lượng
lượng
lượng
- Với thời lượng 03 tiết theo phân phối chương trình, cùng với sự hỗ trợ
của các phương tiện dạy học hiện đại, giáo viên có thể tiến hành các hoạt động
dạy học theo hướng tích hợp mà không phải quá lo lắng về mặt thời gian. Tuy
nhiên, để việc vận dụng, tích hợp kiến thức liên môn đạt kết quả mĩ mãn hơn
nữa, có thể xây dựng bài học thành một chuyên đề sinh hoạt chuyên môn, tiến
hành dạy học trong thời lượng 4 tiết, dành thêm thời gian cho học sinh trình bày
kết quả tự tìm hiểu, tiếp xúc, soi chiếu tác phẩm dưới cái nhìn đa chiều, đa diện,
phát biểu cảm nhận của cá nhân, có sự đối chiếu với các tác phẩm cùng đề tài,
cùng cảm hứng, liên hệ với trách nhiệm của bản thân với đất nước, với cộng
đồng xã hội.
14
KẾT LUẬN
Với vai trò, vị trí không thể thay thế trong nền giáo dục quốc dân nước ta,
việc dạy học Văn nói chung và dạy học các tác phẩm văn chương nói riêng luôn
luôn đặt ra yêu cầu đổi mới, tăng tính hiệu quả trong từng tiết học. Dạy học
theo hướng vận dụng, tích hợp kiến thức liên môn không phải là một phát hiện
mới, tuy nhiên, việc áp dụng vào từng bài sao cho nâng cao được hiệu quả dạy
học lại tùy thuộc vào mỗi giáo viên đứng lớp. Thực tế dạy học bài Rừng xà nu
(Nguyễn Trung Thành) đã cho thấy hiệu quả của việc huy động vốn kiến thức
của nhiều môn, nhiều lĩnh vực vào xem xét, tìm hiểu một tác phẩm văn chương.
Hướng đi này vừa tạo ra động lực học tập không ngừng ở giáo viên, tránh việc
soạn giảng, tổ chức giờ học một cách đơn giản, máy móc, rập khuôn; đồng thời,
phát huy được vai trò tích cực, chủ động của người học, tạo thói quen tự học, tự
nghiên cứu, nhìn nhận tác phẩm văn học dưới nhiều góc độ, tăng hứng thú với
môn học, từ đó, nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Giúp học sinh:
1. Nắm đặc điểm khuynh hướng sử thi của tác phẩm qua chủ đề, hệ thống hình
tượng, ngôn ngữ, giọng điệu.
2. Phân tích được những đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật và xây dựng nhân
vật của tác phẩm.
3. Tích hợp kiến thức liên môn, hiểu sâu hơn giá trị tư tưởng của tác phẩm.
4. Rèn kĩ năng phân tích tác phẩm truyện, kĩ năng vận dụng kiến thức liên môn
vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
- Sách giáo khoa, sách giáo viên
- Tài liệu tham khảo
- Tư liệu lịch sử, văn học, nghệ thuật
- Bài trình chiếu power point
- Các đồ dùng hỗ trợ: Máy projector, loa, màn hình, máy tính.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh.
3. Bài mới:
* Giới thiệu bài mới: Văn học là sự phản chiếu của thời đại. Chiều kích của
hiện thực ngả vào trong tác phẩm chính là đơn vị đong đếm giá trị của tác
phẩm. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 -1975 vì thế không thể tách rời nhiệm
17
vụ cách mạng của dân tộc, vang dội tiếng vọng của lịch sử, tạo thành một đặc
điểm lớn trong văn học: Mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng
mạn. Hôm nay, chúng ta cùng đến với một tác phẩm tiêu biểu của văn học
1945-1975 và cùng soi chiếu vẻ đẹp của tác phẩm bằng cách kết hợp kiến thức,
hiểu biết của các lĩnh vực có liên quan.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
l tt c nhng gỡ thuc v Tõy
Nguyờn. Tõy Nguyờn cũn l mnh I. TèM HIU CHUNG
1. Tác giả
t ca i ngn, ni ú cú mt loi
cõy tng trng cho t v ngi.
ú l cõy x nu, rng x nu ó i
vo trang vn ca tỏc gi Nguyn
Trung Thnh. Hụm nay, chỳng ta s
tỡm hiu v tỏc phm Rng x nu, v
mnh t, con ngi Tõy Nguyờn
trong khỏng chin chng M qua
ngũi bỳt Nguyn Trung Thnh, t ú
cú thờm hiu bit v mt giai on
lch s ho hựng ca dõn tc ta.
Hot ng 2 :
Hng dn tìm hiểu chung
- HS c phn Tiu dn (SGK) kt Tên khai sinh của Nguyễn Trung Thành
hp vi nhng hiu bit cỏ nhõn (Nguyên Ngọc) là Nguyễn Ngọc Báu.
Ông sinh năm 1932, quê ở Thăng Bình,
gii thiu v nh vn Nguyn Trung
Quảng Nam.
Thnh :
* L nh vn quõn i, cú duyờn v
+ Tờn khai sinh : Nguyn Ngc Bỏu,
gn bú vi mnh t Tõy Nguyờn hựng
quờ Qung Nam.
v:
+ L nh vn quõn i, gn bú sõu
- Nm 1950: Nhp ng, chin u ti
sc vi Tõy Nguyờn.
- Nhõn vt chớnh l nhng con ngi anh
hựng kt tinh phm cht ca dõn tc.
- Ging iu : ging s thi trang trng,
say mờ, ngi ca
+ Năm 2000, ông đợc tặng giải thởng
Nhà nớc về văn học nghệ thuật.
Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên
trên Tạp chí văn nghệ quân giải phóng
miền Trung Trung bộ (số 2- 1965), sau đó
đợc in trong tập Trên quê hơng những anh
hùng Điện Ngọc.
2. Tỏc phm Rng x nu
20
- GV nêu câu hỏi : Hoàn cảnh ra đời
và nội dung tác phẩm liên quan tới
những sự kiện lịch sử nào trong Hoµn c¶nh ra ®êi t¸c phÈm
cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân a. Bối cảnh lịch sử - cảm hứng trực
tộc ta ?
tiếp:
- HS tham khảo SGK, kết hợp các tư
- Ngày 8/ 3/1965, Mỹ đổ quân ồ ạt vào
liệu lịch sử tự tìm hiểu, cho biết bãi biển Chu Lai, bắt đầu cuộc chiến
hoàn cảnh ra đời truyện ngắn Rừng tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh
xà nu, những hiểu biết về chiến lược phá hoại ở miền Bắc.
chiến tranh cục bộ, phong trào Đồng - Dân tộc ta bước vào cuộc đối đầu một
còn được khơi nguồn từ duyên nợ +Tnú - anh Đề: người làng Xê-đăng,
của tác giả với cây xà nu….
cùng 10 trai làng dùng dao rựa tiêu diệt 1
tiểu đội lính Diệm
+ Dít: cô gái người Dẻ, tác giả gặp trong
một Đại hội thi đua.
Cảm hứng sáng tạo là cảm hứng lịch sử
- xã hội, nhưng chiều sâu là niềm cảm
phục, yêu thương với con người, với
mảnh đất Tây Nguyên đau thương mà anh
dũng.
II. ĐỌC –HIỂU
1. Tóm tắt
Tóm tắt tác phẩm cần đảm bảo những chi
tiết chính :
Hoạt động 3 :
Tổ chức đọc – hiểu văn bản
- Rừng xà nu – hình tượng mở đầu và kết
thúc tác phẩm.
1. GV hướng dẫn cách đọc : Đọc với - Tnú được nghỉ pháp, về thăm làng trong
giọng hào sảng, thể hiện âm hưởng một đêm.
sử thi và cảm hứng lãng mạn của tác - Cụ Mết kể cho dân làng nghe về cuộc
phẩm.
đời Tnú và lịch sử làng Xô man từ những
Mỹ - Diệm. Xung đột ấy đi theo tình thế
đảo ngược mà thời điểm đánh dấu là lúc
ngọn lửa của lòng căm thù ngùn ngụt
cháy trên 10 đầu ngón tay Tnú.
2. Ý nghĩa nhan đề tác phẩm
23
3. GV nh hng : Cú th t tờn
cho tỏc phm l Tnỳ/ Lng Xụ Rng x nu l nhan giu sc khỏi
man. Nhng tỏc gi chn Rng x quỏt, gi m:
nu lm tờn gi cho tỏc phm. Theo - Gi v p hựng trỏng, man di ca nỳi
em, nhan ny cú nhng ý ngha rng Tõy Nguyờn.
no ?
HS phát biểu cảm nhận về nhan đề
tác phẩm (thảo luận và phát biểu tự
do). GV nhận xét và điều chỉnh,
nhấn mạnh ý cơ bản.
- Gi lờn v p ca con ngi Tõy
Nguyờn bt khut, kiờn cng.
Nhan Rng x nu mang nhiu tng
ngha: t thc v tng trng. Hai lp
ngha ny xuyờn thm vo nhau, to khớ
v Tõy Nguyờn m cho tỏc phm.
3. Hỡnh tng rng x nu
a. Hỡnh tng rng x nu l hỡnh
tng ni bt v xuyờn sut tỏc phm
xà nu, rừng xà nu nối tiếp nhau đến tận
HS trả lời cá nhân:
chân trời, tạo nên điệp khúc xanh, không
Câu văn mở đầu và kết thúc gần như gian xanh của núi rừng đại ngàn bao trùm
lặp lại hoàn toàn tạo không gian tác phẩm.
rừng núi đại ngàn, kết cấu trùng điệp
cho tác phẩm.
GV nhận xét và chốt ý cơ bản.
- GV đặt vấn đề: Trong suốt tác * Xà nu hiện diện trong suốt câu chuyện
phẩm, xà nu luôn hiện diện trong về Tnú và làng Xô man:
cuộc sống, tham dự vào mọi sự kiện - Xà nu có mặt trong đời sống hàng ngày
trọng đại của làng Xô man. Hãy tìm như tự ngàn đời nay của dân làng: ngọn
những chi tiết trong tác phẩm chứng lửa xà nu trong mỗi bếp, trong đống lửa
tỏ điểu này.
nhà ưng tập họp dân làng; đuốc xà nu
25