Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỂ LOẠI TRONG
GIẢNG DẠY KỸ NĂNG VIẾT TIẾNG ANH CHO HỌC SINH
LỚP 11 TẠI TRƯỜNG THPT THỦ ĐỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Viết là một kỹ năng phức tạp trong đó người viết phải sử dụng tất cả
những kiến thức ngôn ngữ mà họ có, không phải đơn giản là việc chuyển
tải ý tưởng sang ký tự ngôn ngữ. Một bài viết tốt đòi hỏi phải có một nỗ lực
trí tuệ có ý thức, điều mà ta chỉ có thể có được sau một quá trình rèn luyện
lâu dài. Khi viết người ta phải nghĩ đến một điều gì đó, hơn là chỉ học rồi
ứng dụng các quy tắc ngôn ngữ. Viết bao hàm cả các quá trình sản sinh và
thu thập ý tưởng, tổ chức các ý tưởng đó theo một cách sao cho chúng có
thể được diễn đạt một cách tối ưu, (nói cách khác là theo một giọng điệu và
văn phong thích hợp nhất), lập dàn ý, kiểm soát và đánh giá những điều cần
viết. Tìm kiếm ngữ liệu để diễn đạt ý tưởng cũng là một việc rất khó, đặc
biệt là đối với học viên ngôn ngữ nói chung và học sinh cấp phổ thông Việt
nam nói riêng. “Thu thập dữ liệu để viết, kết cấu chúng, rà soát lại những
điều đã viết trước đó, tập trung vào tư tưởng chủ đạo, đánh giá, gợi mở
những ý tưởng mới … những hoạt động này và cả các hoạt động khác nữa
bao hàm trong quá trình viết phần nào cho thấy tính phức tạp của hoạt động
này”1
Một thách thức khác đối với người viết là họ phải tổ chức các ý tưởng
của họ vào một bài viết liền lạc, trôi chảy. Theo thông lệ ý tưởng được trình
bày tùy thuộc vào mức độ quan trọng của chúng. Những ý tưởng này tự nó
phải hỗ trợ cho sự thống nhất của toàn bài. Chính vì thế bài viết được kết
cấu một cách cẩn thận để cho mỗi câu trong một đoạn văn gắn kết với nhau
sử dụng rộng rãi và ngày càng nhiều ở nhiều quốc gia. Andrew Goathly
(2000) cho rằng “thể loại là những dạng diễn ngôn đã đạt được một tầm
quan trọng nào đó trong một nền văn hóa, xã hội hay nền học vấn nhất
định”. Vì thế, “trong một tình huống giáo dục, điều quan trọng đối với học
sinh là được dạy để hoạt động viết một cách thành công trong phạm vi các
thể loại đã được đánh giá cao của xã hội, bằng cách làm quen với cấu trúc
thể loại của nó.” Quan sát chương trình học được áp dụng trong các trường
phổ thông Việt Nam đã khiến cho người ta có một suy nghĩ rằng “THỂ
LOẠI” hầu như không được nhắc tới trong cả hệ thống kiến thức. Thật khó
mà nói là phương pháp thể loại là mới hay chưa hề được nhắc tới hoặc
không được sử dụng ở Việt Nam, tuy thế trong bài viết này chúng tôi mong
muốn tìm hiểu nó như một phương tiện để dạy viết hiệu quả cho một đối
tượng học sinh riêng biệt: học sinh lớp 11 tại trường THPT Thủ Đức.
2
Một số khái niệm, thuật ngữ trong bài này là do người viết tạm chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Việt, có
thể không trùng với cách gọi tên khái niệm, thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt trong các xuất phẩm
ngôn ngữ học xuất bản gần đây hoặc sắp tới.
SKKN
2
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu và mong muốn trình bày như là một
kinh nghiệm giảng dạy trong bài này là:
Khảo sát bộ giáo trình tiếng Anh đang được sử dụng ở trường phổ
thông Việt Nam cho thấy người làm sách đã có một nỗ lực đáng kể để cải
thiện. Giáo trình được soạn theo phương pháp theme-based, các đơn vị bài
học được chia theo chủ điểm, chủ đề và các kỹ năng. Ngôn ngữ mới được
cung cấp theo các đơn vị bài học với số lượng có thể chấp nhận. Tuy nhiên,
điều cần nói là hiện nay có hai bộ sách giáo khoa được sử dụng song song
mà mỗi bộ sách có ưu điểm và nhược điểm riêng của nó. Trong bài viết này
chỉ bàn đến việc dạy học kỹ năng viết, vì vậy chúng tôi xin tập trung vào
phần Writing, đặc biệt là trong bộ giáo trình lớp 11.
I.1.1 Giáo trình Tiếng Anh 11- Chương trình Nâng cao- Phần viết
Rõ ràng phần viết trong bộ giáo trình này được đầu tư biên soạn khá
kỹ càng. Trong suốt chương trình có 16 đơn vị bài học, vì vậy cũng có 16
phần Writing, mỗi phần được phân bổ để dạy trong 2 tiết, mỗi tiết 45 phút.
SKKN
4
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Mỗi phần có thể có vài nét, vài Nhiệm vụ (task) đặt ra cho học sinh khác
nhau, song sơ đồ chung cho một phần viết là:
a. Task 1 : Cung cấp cho học sinh một bài viết mẫu. Văn bản mẫu
này được khai thác theo nhiều cách khác nhau, ví dụ ở Unit 1, học sinh
được yêu cầu điền một số từ còn thiếu vào văn bản, trong khi ở Unit 15,
văn bản mẫu được chia nhỏ thành nhiều đoạn với thứ tự trộn lẫn, học sinh
được yêu cầu đọc và sắp xếp lại…
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Lý do mà học sinh đưa ra là: “Không biết viết thế nào!” Giáo viên, do đó,
cũng dần trở nên ngại dạy tiết học này. Chúng tôi tìm hiểu và thấy rằng:
Một số giáo viên bỏ qua kỹ năng viết, hoặc không yêu cầu học sinh
làm việc nghiêm túc với kỹ năng này. Lý do rất nhiều, song có thể kể một
vài điểm chính yếu là:
o Không tin học sinh có thể viết được (vì đề tài quá cao siêu, vì học
sinh không biết nhiều từ vựng để diễn tả điều muốn nói, vì một câu học
sinh còn viết không xong, làm sao có thể viết cả bài? Vì…v v và v v…)
o Không thấy cần thiết phải dạy viết cho học sinh (vì học sinh chỉ
cần biết kiến thức để thi trắc nghiệm…)
o Không đạt hiệu quả trong những lần thử dạy viết trước đây…
Một số giáo viên vẫn đều đặn dạy các phần viết theo trật tự của sách
giáo khoa. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy có những vấn đề sau:
o Đa số giáo viên không biết là mình đang dạy viết theo phương
pháp nào. Những phương pháp mà họ được học trong giáo trình giáo học
pháp ở trường Đại học sư phạm dường như đã mai một sau một quá trình
dài không dạy viết do chương trình cũ không có yêu cầu này, chưa nói đến
việc những phương pháp mà họ được học từ 10-15 năm trước đã được
chứng minh là lạc hậu.
o Đa số giáo viên không đầu tư nhiều cho việc soạn giảng môn viết,
sách giáo khoa có gì thì theo vậy. Giáo viên dạy 11 Chuẩn không soạn văn
bản mẫu cho học sinh, trong lúc giáo viên dạy 11 Nâng cao không sử dụng
văn bản mẫu một cách hiệu quả, vì thực ra đa số giáo viên chưa biết đến
Phương pháp Thể loại.
I.3
NGƯỜI HỌC
Số học sinh đạt được
1
5
14
30
I.4 THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH - KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
Viết là một trong bốn kỹ năng được chú ý trong chương trình tiếng
Anh phổ thông hiện nay. Thời lượng phân bổ cho môn viết thực ra là còn
rất khiêm tốn, ngữ liệu hỗ trợ từ sách giáo khoa và sách Hướng dẫn dành
cho giáo viên không nhiều, thậm chí không có. Điều này đòi hỏi giáo viên
phải đầu tư nghiên cứu một cách thức dạy viết sao cho có hiệu quả, nhắm
vào một mục tiêu lâu dài là khơi dậy và rèn luyện cho học sinh một trong
bốn kỹ năng giao tiếp quan trọng.
Trong các bài kiểm tra hiện nay tại trường THPT Thủ Đức, viết là
một phần bắt buộc. Phần viết được kiểm tra dưới 2 hình thức: Trắc nghiệm
và tự luận. Phần tự luận cũng được kiểm tra ở 2 mức: câu (Sentence level)
và văn bản (Text level). Điều này giúp cải thiện việc dạy và học viết, song
theo ý kiến của chúng tôi, thì hiệu quả chưa cao, nhất là phần kiểm tra ở
mức độ Văn bản (Text level). Vì thế trong phần dưới đây, chúng tôi xin đề
xuất một vài phương cách nhỏ rút ra từ kinh nghiệm dạy viết của cá nhân
hầu mong cải thiện tình hình.
SKKN
trúc của văn bản.
• Xây dựng văn bản: Giai đoạn này có thể được chia làm 3 giai
đoạn nhỏ: 1) học sinh viết văn bản nháp lần 1. 2) Phân tích văn
bản nháp 1. 3) Học sinh viết văn bản chính thức.
SKKN
8
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Dưới đây là một số kinh nghiệm trong việc dạy viết cho học sinh
khối 11. Trong phạm vi của một Sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi chỉ chọn
một thể loại văn bản để trình bày.
Đơn vị bài học: Unit 2 – Personal Experience (tr. 22 – Tiếng Anh 11
Chuẩn)
Writing: Writing a personal letter about a past experience (tr.28)
Đối tượng: học sinh lớp 11A4- Năm học 2009-2010
II.1
GIAI ĐOẠN 1 – Phân tích văn bản mẫu
Văn bản mẫu, theo như lý thuyết đã được trình bày trong phần Phụ lục
A, đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học viết. Đối với giáo
trình lớp 11 Nâng cao, phần viết này có một văn bản mẫu tốt để khai thác.
Riêng với chương trình 11 Cơ bản, sách giáo khoa chỉ yêu cầu viết một bức
thư cho bạn để kể về một chuyện quá khứ. Chúng tôi đề xuất giáo viên dạy
chương trình Cơ bản dùng văn bản mẫu của chương trình Nâng cao để dạy.
A Letter from London
The Park Hotel
Park Lane
London WI
August 12, 19___
Dear Mary,
We’ve been here a few days but it seems to be only yesterday! We’ve
seen and done so many things that I hardly know where to begin to tell you
about them. My legs are still tired from all the walking I’ve done today.
Last Sunday afternoon, Dad and I started our walking tour just in front
of our hotel, a big hotel with two hundred rooms. We walked down Park Lane
to see Hyde Park. You know, it is a very big Park in London
. Behind the railings of the park you can see a place where orators deliver
speeches on every possible subject on Sunday afternoons. As we passed by, we
saw crowds of people gather to listen to some of these orators, and to ask them
question as well. The sight was very interesting! I wish you could see and hear
all sorts of people speaking there. It would be great fun.
Dad says we’re going to be here for a few days more. It could be nice to
hear how things are getting along at home without me, if you have time to
write.
Love,
Jane
P/s: I enclose some postcards of the places I’ve visited.
II.1.2
3
Phân tích văn bản – Phân đoạn và cấu trúc
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13
2.14
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
Dear Mary,
We’ve been here a few days
but it seems to be only yesterday!
We’ve seen and done so many things
that I hardly know where to begin to tell you about them.
My legs are still tired
from all the walking I’ve done today.
Last Sunday afternoon, Dad and I started our
if you have time to write.
Love,
Jane
P/s: I enclose some postcards of the places I’ve visited.
Phân tích mạng lưới ĐỀ-THUYẾT
11
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Bảng 2: Mạng lưới Đề-Thuyết
Part 1
T1
We
R1
’ve been here a few days
R2
seems to be only yesterday!
R3
’ve seen and done so many things
R4
where to begin to tell you about them.
R5
are still tired
R6
I’ve done today.
I
T6
Ø [people]
T9
You
T10
It
*T: Theme – Đề
R1
started … rooms.
R1’
walked down Park Lane to see Hyde Park.
R2
is a very big Park in London.
R3
you can see a place
R4
deliver … afternoons.
R5
we saw crowds of people
R6
gather as well.
R7
was very interesting!
R8
wish
phụ thuộc vào ý tưởng đã có trước đó.” 5; một Đề (cái đã biết) được phát
triển từ một Thuyết (thông tin mới- ý tưởng tiếp theo) trước đó. Chính
vì sự đan cài các ý tưởng mới – cũ này mà đoạn văn có kết cấu chặt chẽ,
mạch lạc. Tôi dùng sơ đồ sau để minh họa sự phát triển này:
T1
R1
T2(=R1)
R2
T3(=R2)
R3 …
Trong bài mẫu, thí dụ ở phần 2, Đề 2 (T2) “it” là một phần của
Thuyết 1(R1’) …”Hyde Park”; hay Thuyết 6 (R6) [people] gather…” trở
thành “the sight” trong Đề 7(T7).
Tôi cũng cho học sinh thấy có nhiều dạng phát triển Đề-Thuyết khác
nhau. Cùng một Đề có thể được lặp lại trong nhiều câu với nhiều thuyết
khác nhau, hoặc Thuyết có thể trở thành Đề trong những phân đoạn tiếp
đó.
T1
4
5
R1
hoặc
T1
R1
T2
T3
R2
R3
Phân tích Hệ/Chuỗi từ ngữ (Lexical Relation)
Cần phải cho học sinh thấy rằng trong một văn bản, sự liên kết mạch
lạc của văn bản đó phụ thuộc rất nhiều vào cách thức mà từ ngữ liên hệ với
nhau trong văn bản ấy. “Nghĩa trải nghiệm” được diễn tả trong Chuỗi ngữ
vựng, “chuỗi các từ liên kết với nhau bằng cách lặp lại, dung từ đồng nghĩa
hay trái nghĩa, liên kết, liên hệ từng phần hay tổng thể…” 6. Khi dạy học
sinh viết bài này, tôi đã cho học sinh hệ thống lại Chuỗi ngữ vựng của văn
bản mẫu theo bảng sau:
Bảng 3: Chuỗi từ vựng
Writer/
Activities
Addressee
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
Dad and I
We
walking
You
walked/ to see
walking tour
a very big Park
the railings
a place
…
…
London
a big hotel
Park Lane
/
Hyde Park.
…
…
chi tiết, so sánh, đối lập hoặc nói ngược lại…”7 Trong văn bản mẫu sử dụng
cho phần viết này, các từ dùng để liên kết được tô đậm (Xem Bảng 1). Tuy
nhiên, tôi cũng lưu ý học sinh rằng mối liên hệ ngữ nghĩa cũng tồn tại giữa
hai mệnh đề độc lập, không có liên từ nào giữa chúng. Ví dụ, cặp câu sau
đây kết nối với nhau bởi liên hệ Nguyên nhân – Kết quả:
a/ I left early. I felt sick.
Tương đương với:
b/ I left early because I felt sick.
Theo Halliday, thí dụ (a) nên được mô tả là hai câu riêng biệt không có mối
liên hệ ngữ nghĩa – logic học. Er (1993:70) cũng đồng ý rằng câu phức là
dấu hiệu của mối liên hệ logic giữa các mệnh đề trong phạm vi câu. Các
nhà ngôn ngữ học này đều đề xuất việc khuyến khích học sinh liên kết và
phát triển các ý tưởng bằng cách sử dụng cấu trúc câu phức. Tôi nhấn mạnh
cho học sinh thấy rằng câu (b) liên kết chặt chẽ, ý tưởng rõ ràng hơn là câu
(a). Câu sau đây:
We’ve seen and done so many things that I hardly know where to
begin to tell you about them.
7
Butt et al – 2000:232
SKKN
15
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Cataphoric – Qui chiếu ra sau. Ví dụ trong câu:
It’s easy to make a mistake.
“It” là sở chỉ của “to make a mistake.”
SKKN
16
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Ngoài ra, người viết còn có thể dùng những sở chỉ qui chiếu về một đối
tượng/ sự kiện/ hoạt động … nằm ngoài văn bản. Loại sở chỉ này được gọi
là Exophoric hay Homophoric.
Các loại từ được dùng để làm sở chỉ thường là đại từ nhân xưng, mạo
từ, đại từ chỉ định, đại từ thay thế, đại từ sở hữu, phó từ …
Trong văn bản mẫu, các sở chỉ được in đậm:
Bảng 4: Sở chỉ
2.1
2.2
2.3
Last Sunday afternoon, Dad and I started our walking tour just in front
of our hotel, a big hotel with two hundred rooms.
…
“Phân tích một văn bản mẫu là trung tâm của phương pháp này (Phương pháp
Thể loại). Khi sử dụng các phân tích diễn ngôn thông qua lý thuyết Ngữ pháp Chức
năng, người thầy có thể giảng giải rõ ràng cho học sinh về khuôn mẫu của các lựa chọn
ngôn ngữ mà người bản ngữ tiến hành vì một mục đích viết đặc biệt nào đó. … Học
SKKN
17
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
sinh có thể được thầy giáo giúp đỡ trong hoạt động xây dựng một văn bản tương tự
trước khi tự mình cấu tạo nên văn bản của chính họ một cách độc lập.” 8
Tùy vào từng thể loại, từng văn bản cụ thể mà người dạy có thể lựa
chọn cách phân tích này hoặc cách khác, không nhất thiết và cũng không
thể có đủ thời gian để chúng ta dùng tất cả các cách phân tích cùng một lúc.
Sau khi phân tích văn bản, học sinh cần nắm được cấu trúc Siêu đoạn tính
của thể loại, cấu trúc nội tại, phương tiện kết nối các thành tố , các ý tưởng
của văn bản… Với trình độ phổ thông, tôi không đòi hỏi học sinh mức độ
hiểu văn bản nào cao hơn, ví dụ như không cần yêu cầu 100% học sinh
nắm được sắc thái biểu cảm của ngôn từ, trừ những trường hợp hãn hữu.
Văn phong, các trường từ vựng, ngữ nghĩa phù hợp với một văn phong nhất
định cũng là một vấn đề khó đối với học sinh cấp phổ thông, vì thế, giáo
viên không nên đi sâu vào những lĩnh vực này. Phần bài tập BEFORE
WRITING (nếu có) được thiết kế trong giáo trình có thể được lựa chọn để
sử dụng trong giai đoạn này.
- Yêu cầu: “Writing a letter to tell a friend about a past experience/
something you did in the past.”
- Phân tích thể loại: Thể loại của bài viết là Recount – kể chuyện
lồng ghép trong Cấu trúc Siêu đoạn tính của Friendly Letter -Thư cho bạn
bè.
- Các bước tiến hành: Học sinh được yêu cầu vạch Outline-Dàn ý,
sau đó viết bản nháp 1 trong 10 phút. Sau đó giáo viên chọn một bài (ngẫu
nhiên hoặc chọn), cho học sinh viết lên bảng và tiến hành phân tích bài viết
cùng với học sinh. Sau bước này, học sinh trao đổi bản nháp 1 với nhau và
cùng phân tích bản nháp của bạn.
Phương pháp chọn mẫu (sampling methods9) tôi đã áp dụng khi thực
hiện bài này không phải là lựa chọn ngẫu nhiên. Bản nháp 1 của học sinh
A, lớp 11A4 được chọn để phân tích chung. Học sinh A có năng lực ngôn
ngữ được xếp loại trung bình trong năm lớp 10. Bài viết số 1 của học sinh
A thể hiện ở mức trung bình khá, vốn từ ngữ tiêu biểu cho một học sinh lớp
11 bình thường. Ngoài việc học tiếng Anh ở trường phổ thông, học sinh A
chưa từng tham gia bất kỳ khóa học tiếng Anh ở một cơ sở hay trung tâm
nào khác.
Sau đây là bản nháp 1 của học sinh A.
Hochiminh city,
Thuduc _Linhtay
September 15, 20__
Dear Mai,
Having company at home is always good, isn’t it? We often
invited friends to our house. Houseguests bring us happiness.
Last Sunday I invited my close friend to my house. My parents
wanted to see him. My friend came at 6: 00. I welcomed him. Then I
introduced him to my family. My mother said to my friend, “Why
don’t you sit there and watch TV with us?” He sat down, then we
lạc: Having company at home is always good, isn’t it? We often
invited friends to our house. Houseguests bring us happiness.
- Thiếu liên hệ logic giữa các phần của một đoạn, giữa các câu. Thí
dụ: My mother cleaned dishes. It got late. My friend went home
then. Các câu đơn cần được kết nối với nhau bằng hệ thống liên
từ để tạo thành câu phức vốn thể hiện mối liên hệ ngữ nghĩa-logic
tốt hơn. Cũng chính vì thế mà trong bài này nổi rõ sự đơn điệu do
học sinh A lặp đi lặp lại chữ “then”
- Thiếu các phương tiện sở chỉ họp lý dẫn đến hiện tượng “nhai” lại
các từ và cụm từ.
- Một vài lỗi thông dụng trong lúc chia thì động từ, cấu trúc cụm
từ, cách dùng từ…
II.2.2 Xây dựng văn bản riêng – Final Draft
SKKN
20
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Sau khi phân tích các thiếu sót của bản nháp 1, tôi gợi ý cho học sinh
đưa ra các phương án sửa chữa để học sinh A tiến hành viết bản nháp cuối.
Một số đề xuất sửa chữa mà học sinh nêu ra cho bản nháp 1 của học sinh A
được viết lên bảng. Thí dụ:
- Having company at home is always good, isn’t it? Therefore,/ So,/
We often invite friends to our house because houseguests bring us
happiness.
us happiness.
Last Sunday I invited my close friend to my house (because) My
parents wanted to see him. He came at 6: 00 and I welcomed him
with a smile. I introduced him to my family. My mother said to him,
“Why don’t you sit there and watch TV with us?” He sat down, and
then we watched TV and ate popcorn. After some time my mother
went to the kitchen to prepare dinner. My friend asked to help her to
lay the table when she got everything done. We enjoyed the dinner
very much. Then, sitting on a bench in the garden, he and me talked
about everything while my mother was washing the dishes. He went
home when it got late.
We enjoyed the evening so much.
Next Sunday will be my birthday. Come to my day’s party, will
you?
With love,
A…
Có thể thấy rằng bản Nháp 2 là một văn bản khá hoàn hảo, phù hợp
với thể loại viết thư cho bạn bè, lồng ghép trong phần thân bài là thể loại kể
chuyện với chuỗi hành động được kết nối logic… Với các thể loại khác,
cách phân tích có thể khác đi ít hay nhiều, thủ thuật cho học sinh xây dựng
văn bản của mình có thể khác nhau, song đường hướng chung vẫn là làm
nổi bật siêu cấu trúc, cấu trúc nột tại của văn bản. Như vậy, cấp độ mà
chúng ta hướng tới là cấp độ văn bản, không phải là cấp độ câu, vì thực ra,
cùng với thời gian, vốn từ phát triển, viết một câu hợp ngữ nghĩa và đúng
SKKN
22
26
9
10
4
So sánh kết quả của bài viết số 1 và bài viết trong bài kiểm tra giữa
học kỳ 2, ta có thể thấy sự tiến bộ trong kỹ năng viết của học sinh lớp
11A4:
KẾT LUẬN
SKKN
23
Trường THPT Thủ Đức
Gv: Nguyễn Thị Cẩm Hà
Các văn bản có sẵn dạng này hay dạng khác là một nguồn phong phú
để giáo viên có thể sử dụng cho mục đích dạy viết. Tùy vào từng giai đoạn
giáo viên quyết định phân tích văn bản mẫu như thế nào, giáo viên phân
tích cho học sinh thấy, giáo viên cùng phân tích với học sinh hay để học
sinh tự mình phân tích, giáo viên kiểm tra lại … Thông qua việc đưa cho
học sinh văn bản mẫu và phân tích chúng, giáo viên đã giúp học sinh đặt
một bước chân khởi đầu tự tin, vững chắc lên con đường viết tiếng Anh.
Với một văn bản mẫu phù hợp, học sinh đã trả lời được câu hỏi: “Người ta
NGÔN NGỮ HỌC CHỨC NĂNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỂ LOẠI10
I.
Thể loại
Khái niệm thể loại đươc hiểu là “một lớp hành động lời nói đặc biệt được cho là
cùng một thể loại” (Richards J.C.và các đồng tác giả (1993:156); lời cầu nguyện, bài
rao giảng, hội thoại, bài hát, bài phát biểu, thơ, thư từ và các tiểu thuyết là các ví dụ thể
loại khác nhau.
Khái niệm thể loại có một vai trò đáng chú ý đối với các nhà ngôn ngữ học. Có thể
nói rằng sự đóng góp đầu tiên cho những nghiên cứu về thể loại là từ học giả văn
chương và nhà lý luận người Nga Mikhail Mikhailovich Bakhtin. Những quan sát căn
bản của Bakhtin thuộc về các Thể loại lời nói, kiểu mẫu văn nói hay viết mà con người
có thể học theo, liên kết lại với nhau và sử dụng chúng (ví dụ ‘thư công việc’ hay ‘danh
sách mua hàng’, ‘bài giảng bậc đại học’ hay ‘ghi chú cá nhân’…).
Trong các xuất phẩm ngôn ngữ học hiện đại, thuật ngữ “genre” mô tả sự một hệ
thống xếp loại các ngữ liệu đọc dựa trên các dữ liệu văn bản (text type). Văn bản có thể
được phân biệt bằng kiểu loại xuất bản (báo, tạp trí, sách,…) với sự phân chia cụ thể
hơn trong mỗi loại; hoặc chúng có thể chia ra bằng kiểu sáng tác (bài luận, báo cáo khoa
học, hay bài lí thuyết,v.v. …) Việc chia văn bản ra nhiều thể loại có thể cung cấp
những nền tảng kết cấu mạch lac cho việc dạy tiếng Anh như ngoại ngữ (EFL). Trước
hết đó là giúp người đọc có ý niệm rõ ràng về việc xây dựng một văn bản (viết) nhằm
mục đích gì.
Bảng dưới đây cho thấy kiểu văn bản hay thể loại liên quan đến mục đích sử dụng
ngôn ngữ như thế nào:
1
Text types/ Genres
Thể loại
Để xem xét một hay vài khía cạnh của vấn đề, khám phá
những cách tiếp cận khác nhau trước khi đi đến một kết
luận chính thức
Các nghiên cứu về thể loại
10
Phần này được trích dịch từ Tóm lược lịch sử của vấn đề - Literature Review của một nghiên cứu khoa
học của người viết SKKN này.
SKKN
25