BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN HỌC THỂ DỤC CỦA HỌC SINH KHỐI 5 TRƯỜNG PTDT BÁN TRÚ TIỂU HỌC THU TÀXÍN MẦN HÀ GIANG - Pdf 24

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với sự phát triển xã hội như ngày nay thì .Thể dục thể thao là một lĩnh
vực khoa học gắn liền với đời sống của con người, trải qua hàng ngàn năm lịch
sử cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao có nguồn gốc lao
động sản xuất đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và trình độ trở thành một
động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ, văn minh của xã hội loài người.Vậy với
xã hội phát triển như ngày nay thì sức khỏe của con người càng được quan tâm
nhiều hơn chú ý nhiều hơn điều đó được chứng minh bằng việc các câu lạc bộ
TDTT được mở ra ở các địa phương trên toàn quốc và sự tham gia đông đảo
của mọi tầng lớp
Nhận thức được tác dụng và tầm quan trọng của thể dục thể thao đối với sức
khỏe của mỗi người và là một công việc tiến hành không tốn kém khó khăn gì.
Ngày 26 tháng 3 năm 1946 Bác viết lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, chỉ với 6
câu, 148 chữ người đã khẳng định.
“ Hỡi đồng bào toàn quốc
Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc sử
dụng cầng có sức khỏe mới thành công”
Mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần. Mỗi
người dân khỏe mạnh, là góp phần cho cả nước khỏe mạnh.
Vậy luyện tập thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi người
dân yêu nước.
Việc đó không tốn kém khó khăn gì, gái trai, già trẻ cũng nên làm và cũng
làm được, mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút, ngày nào cũng tập khí huyết lưu
thông, tinh thần đầy đủ, như vậy thì sức khỏe.
Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục
Tôi tự hào ngày nào cũng tập ”
2
Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của người như ánh dương tỏa chiếu định
hướng cho sự hình thành và phát triển nền thể dục thể thao mới.

trong cuộc sống sau này. Từ đó học sinh hình thành thói quen tự giác và tích cực
tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện thân thể.
Giảng dạy TDTT không những là phương tiện, phương pháp giáo dục mà
còn là một quá trình sư phạm, thống nhất với các hoạt động đời sống học sinh.
Mặt khác phải giúp học sinh nâng cao dần nhận thức những điều đúng sai, nên
làm cần làm, xây dựng động cơ đúng, thực hành tích cực các yêu cầu của giáo
viên và cha mẹ.
Về mặt giáo dục ở lớp, ở trường và gia đình. Giảng dạy TDTT cho học
sinh phổ thông là quá trình giáo dục mang tính sư phạm, cần có mục đích rõ
ràng, dễ hiểu và có ý nghĩa giáo dục thiết thực hàng ngày. Giáo viên không
những cần dạy cho học sinh biết thực hiện đúng động tác, mà còn biết phối hợp
các động tác riêng lẻ với nhau một cách nhịp nhàng liên tục, Qua đó bồi dưỡng
cho học sinh các phẩm chất đạo đức “ Lòng yêu thích luyện tập TDTT, tính tự
giác, tích cực, lòng dũng cảm, tự tin ” Khả nằn chịu đựng và vượt qua khó
khăn, khả năng tập trung tư tưởng, chú ý thực hiện nhiệm vụ, nội quy tập luyện
và bài học trên lớp cũng như ở nhà
Phát huy tính tích cực trong tập luyện của học sinh chính là tạo điều kiện
để học sinh có tinh thần hứng thú thực sự trong tập luyện. Giáo viên cần gợi ý,
tạo điều kiện để có thể đáp ứng nhu cầu chính đáng của HS. Trong quá trình
giảng dạy cần lựa chọn nội dung tập luyện hấp dẫn, các hình thức tập luyện phải
đa dạng, tránh đơn điệu, dễ gây buồn chán. Trong quá trình giảng dạy TDTT,
một bài học có nhiều động tác, bài học có liên quan hữu cơ tới cảm giác vui
mừng, sảng khoái và cảm xúc tốt đẹp khác. Biết tổ chức hợp lý bài học, buổi tập
4
thì tác động của nhân tố đó sẽ ảnh hưởng tốt, trở thành một trong những các yếu
tố cơ bản để khêu gợi và phát triển sự hứng thú, say mê tập luyện phấn đấu đạt
thành tích thể thao cao của học sinh.
Giáo viên cần có phương pháp đánh giá đúng mức, hệ thống, kết hợp với
việc biểu dương kịp thời và đúng mức thành tích học tập, rèn luyện của học
sinh, để tạo nên tác dụng tốt trong sự phát huy tính tự giác tích cực, say mê

4. Gỉa Thiết Khoa Học
- Đánh giá thực trạng nhằm phát huy tính tự giác tích cực trong môn học
thể dục của học sinh khối 5 trường PTDT Bán Trú tiểu học Thu Tà – Xín Mần-
Hà Giang.
- Đề xuất một số biện pháp cơ bản có hiệu quả nhằm nâng cao tính tự giác
tích cực của học sinh khối 5 trường PTDT Bán Trú tiểu học Thu Tà – Xín Mần-
Hà Giang
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài, cần phải giải quyết các nhiệm vụ sau:
5.1. Thực trạng công tác giáo dục thể chất và mức độ biểu hiện thái độ, tính tự
giác tích cực .
5.2. Lựa chọn một số giải pháp nhằm nâng cao thái độ tính tực giác, tích cực t
6. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/6/2013 đến tháng30/6/2013.
Giai đoạn 1: Từ tháng 05/6/2013 đến tháng/15/6/2013
- Xác định tên đề tài nghiên cứu
- Xác định đề cương nghiên cứu khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 16/2013 đến tháng 30/6/2013
- Giải quyết nhiệm vụ 1 và hoàn thành chương trình tổng quan của đề tài
6
- Xử lý kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1, viết kết quả nghiên cứu nhiệm
vụ 1.
- Giải quyết nhiệm vụ 2 – hoàn thiện luận văn và chuẩn bị bảo vệ kết
quả nghiên cứu.
-Trường PTDT Bán Trú tiểu học Thu Tà – Xín Mần- Hà Giang
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt các nhiệm vụ của đề tài đặt ra đề tài đã sử dụng các
phương pháp sau đây.
7.1. Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu.
Đã đọc, phân tích, tổng hợp những tài liệu và thông tin cần thiết có liên

1.4. Đối tượng khách thể nghiên cứu.
1.5. Giả thiết khoa học.
1.6. Phạm vi nghiên cứu.
1.7. Phương pháp nghiên cứu.
1.8. Những đóng góp mới của đề tài.
1.9. Kế hoạch nghiên cứu và tổ chứ nghiên cứu.
Phần 2: Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
2.1.1. Ý nghĩa của động cơ và hứng thú tập luyện TDTT
-Tiền đề cần thiết của động cơ và hứng thú tập luyện TDTT và việc tham gia
hoạt động đó và nó dựa chủ yếu trên nguyên tắc tự giác, tích cực.
-Sự hứng thú vững chắc đối với hoạt động TDTT
-Nguyên tắc tự giác tích cực còn đòi hỏi xa hơn và cụ thể hơn.
- Mức độ nhận thức về mục đích và nhiệm vụ
- Cần phát huy hứng thú thường xuyên tập luyện thể dục thể thao,
2. 1.2. Đặc điểm của hoạt động giáo dục thể chất trường học
- Đặc điểm của hoạt động giáo dục thể chất với quan điểm tâm lý người tập.
8
- Nhà sư phạm bao gồm những thủ thuật thúc đẩy sự phát triển hoạt tính trí tuệ
và thể chất động viên sự nỗ lực ý chí của người tập
- Cần thiết phải thông báo cho người tập các phương pháp nâng cao trình độ ổn
định chú ý, tập trung,
- Quá trình giảng dạy phải nâng cao được các hoạt tính của tất cả các quá trình
tâm lý nhận thức
- Sử dụng rộng rãi các phương pháp kích thích sự nỗ lực chú ý tạo cho
người tập biểu hiện các khả năng
- Cần thiết phải hình thành ở người tập hứng thú thể thao bền vững và sâu
sắc.
- Giáo dục đạo đức luôn gắn liền trong một hệ thống hữu cơ với nhau
- Mục đích của hoạt động giáo dục thể chất là hoàn thiện thể chất một bộ

đúng lúc, đúng chỗ. Ngoài ra cần tăng cường hoạt động thể dục thể thao ngoài
giờ và các hình thức vui chơi khác để làm phong phú khả năng hoạt động và
phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện.
Hệ vận động
Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh về chiều dài. Hệ thống
sụn sại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển và hoàn thiện, do vậy
giáo dục thể chất có tác dụng tốt đến sự phát triển của hệ xương nhưng phải chú
ý đến tư thế, đến sự cân đối trong hoạt động để tránh sự phát triển sai lệch của
xương và kìm hãm sự phát triển chiều dài. Đặc biệt đối với các em gái xương
chậu chưa phát triển hoàn thiện nên dễ bị lệch lạc nếu quá trình hoạt động
không hợp lý.
Hệ cơ của các em phát triển chậm. Hơn sự phát triển của hệ xương, hệ cơ
chủ yếu phát triển về chiều dàu thiết điện cơ chậm. Phát triển nhưng đến tuổi 15-
10
16 thì thiết diện cơ phát triển mạnh đặc biệt là cơ co, cơ tơ phát triển nhanh hơn
các cơ duỗi và cơ nhở. Do sự phát triển không đồng bộ, thiếu cân đối nên các
em không phát huy được sức mạnh và chóng mệt mỏi. Vì vậy trong giáo dục thể
chất cần chú ý phát triển tăng cường và phát triển toàn diện.
Hệ tuần hoàn
Tim phát triển nhanh hơn so với sự phát triển mạch máu, sức co bóp còn
yếu khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt động quá nhiều,
quá căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi. Vì vậy tập luyện thể dục thể thao thường
xuyên sẽ ảnh hưởng tốt đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn, sự hoạt động của tim
dần dần được thích ứng và có khả năng thích ứng với khối lượng lớn sau này.
Nhưng trong quá trình tập luyện thể dục thể thao cần phải đảm bảo nguyên tắc
vừa sức và nguyên tắc tăng dần yêu cầu trong giáo dục thể chất, tránh hoạt động
quá sức và quá đột ngột.
Hệ hô hấp
Phổi các em phát triển chưa toàn diện, phê nang còn nhỏ, hệ cơ hô hấp
chưa phát triển dung lượng phổi còn bé, vì vậy khi hoạt động các em thở nhiều,

dục thể thao.
2. 1.2. Đặc điểm của hoạt động giáo dục thể chất trường học
- Đặc điểm của hoạt động giáo dục thể chất với quan điểm tâm lý thì quá trình
tiếp thu những kiến thức chuyên môn hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động và
những phẩm chất tâm lý cá nhân tốt ở người tập.
- Nhà sư phạm bao gồm những thủ thuật thúc đẩy sự phát triển hoạt tính trí tuệ
và thể chất động viên sự nỗ lực ý chí của người tập trong những điều kiện khắc
phục những khó khăn mới nảy sinh,
12
- Cần thiết phải thông báo cho người tập các phương pháp nâng cao trình độ ổn
định chú ý, tập trung,
- Quá trình giảng dạy phải nâng cao được các hoạt tính của tất cả các quá trình
tâm lý nhận thức
- Sử dụng rộng rãi các phương pháp kích thích sự nỗ lực chú ý tạo cho
người tập biểu hiện các khả năng dự trữ của mình biến các khả năng đó thành
hiện thực một cách có hiệu quả.
- Cần thiết phải hình thành ở người tập hứng thú thể thao bền vững và sâu
sắc.
- Giáo dục đạo đức luôn gắn liền trong một hệ thống hữu cơ với nhau
- Mục đích của hoạt động giáo dục thể chất là hoàn thiện thể chất một bộ
phận không thể tách rời của sự phát triển hài hòa về nhân cách.
Tóm lại giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó
thể hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực của con
người.
2. 1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Tiểu học.
So với học sinh tiểu học, phổ thông trung học cơ sở chiếm vị trí nhiều hơn
và các em gạp một loạt hoàn cảnh mới. Phải thực hiện yêu cầu không phải của
một giáo viên mà của nhiều giáo viên, học sinh phải hoạt động độc lập với khối
lượng tăng một cách đáng kể và các em có một địa vị mới ở gia đình và trường
học. Đối với các em bắt đầu cố gắng muốn tự lập, điều này có quan hệ đặc biệt

động nào đó ( đá bóng, chơi các trò chơi ) và các em tạo nên nhóm bạn thân
thiết hàng ngày.
14
So với học sinh tiểu học, thì học sinh phổ thông trung học cơ sơ các phẩm
chất ý chí được phát triển. Song việc tự ý thức và tự nhận thức không phải các
em bao giờ hiểu đúng và hiểu đúng người khác, nhưng những nét ý chí và các
em sợ mang tiếng là yếu đuối cho mình vẫn còn là “ trẻ con” Vì vậy việc giáo
viên xem thường kết quả học tập của học sinh hoặc không đánh giá động viên
kịp thời thì học sinh sẽ chóng chán nản, tập luyện thể dục thể thao đôi khi lôi
kéo những bạn cùng nhóm không tích cực tập luyện nữa.
Như vậy tuổi học sinh phổ thông THCS là tuổi quá độ nên cũng là giai
đoạn rất sinh động, các em phát triển đặc biệt mạnh mẽ, linh hoạt toàn bộ nhân
cách đang trên con đường “ rẽ”, vì vậy trong cá tính của các em có rất nhiều cái
chưa vững chắc và mong muốn thử sức mình theo các phương pháp khác nhau,
nên nhân cách của các em phức tạp hơn và nhiều mâu thuẫn hơn tuổi học sinh
cấp tiểu học. Do vậy cần phải thường xuyên giáo dục cho phù hợp trên cơ sở
dựa trên tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt
động cho các em tạo điều kiện phát triển tốt khả năng của các em.
2.1.4. Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh Tiểu học Thu Tà
Hệ thần kinh
Não bộ đang thời kỳ hoàn chỉnh, hoạt động của thần kinh chưa ổn định,
hưng phấn chiếm ưu thế vì vậy khi học tập các em dễ tập trung tư tưởng, nhưng
nếu thời gian kéo dài, nội dung nghèo nàn, hình thức hoạt động đơn điệu, thần
kinh sẽ chóng mệt mỏi và dễ phân tán sức chú ý. Do hoạt động thần kinh linh
hoạt đó là điều kiện dễ dàng hình thành phản xạ có điều kiện. Do vậy nội dung
tập luyện phải phong phú, phương pháp giảng dạy tổ chức giờ học phải linh
hoạt, không cứng nhắc đơn điệu, giảng giải và làm mẫu có trọng tâm chính xác
đúng lúc, đúng chỗ. Ngoài ra cần tăng cường hoạt động thể dục thể thao ngoài
giờ và các hình thức vui chơi khác để làm phong phú khả năng hoạt động và
phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện.

hướng dẫn các em biết thở xâu, thở đúng và biết cách thở trong hoạt động. Như
vậy mới có thể làm việc và hoạt động được lâu và hiệu quả.
Lưu ý : Ở lứa tuổi cáp trung học cơ sở, các em đang trong giai đoạn phát
triển dậy thì ( gái sớm hơn trai 1-2 tuổi) do phát triển đột biến của một số tuyến
nội tiết gây ra sự mất ổn định nên một số chức năng của các hệ thống cơ quan và
tâm lý đều có khác biệt rõ rệt.
Do vậy trong quá trình tập luyện TDTT phải thận trọng đối xử hợp lý với
từng em, từng giới tính khác nhau.
2.2.Thực trạng về mức độ biểu hiện thái độ tính tự giác tích cực trong môn
học thể dục của HS khối 9 – trường THCS Tân Lang-Phù Yên –Sơn La.
Để xác định mức độ biểu hiện thái độ tính tự giác tích cực trong môn học
thể dục của học sinh khối 9 một cách khách quan và mang tính tích thực tiễn đã
tiến hành điều tra. Do điều kiện không cho phép, nên chỉ tiến hành điều tra với
200 em học sinh nam và nữ đang theo học ở trường và thu được kết quả sau.
Bảng 1 : Mức độ hứng thú tập luyện TDTT của học sinh khối 9 ( n =200)
STT Các ý kiến Số người đồng ý Tỷ lệ %
1 Rất thích 55 27.5
2 Thích 75 3735
3 Không thích 40 20
4 Chán 30 15
Phân tích đánh giá chung có 27.5% học sinh “ rất thích” học môn thể dục,
tỷ lệ này tương đối cao sẽ giúp học sinh có hứng thú đối với việc học môn thể
dục, đây là một biểu hiện đáng khích lệ, tạo động cơ tốt nhất cho việc nâng cao
thái độ tự giác tích cực trong quá trình học tập. Một tỷ lệ cao học sinh có ảnh
hưởng là thích là 37.5% tỷ lệ này phản ánh đúng tâm lý của học sinh, bởi vì
những giờ học thể dục các em có thể vui đàu thoải mái. Riêng đối với học sinh
17
không thích hoặc chán chiếm tỷ lệ thấp có thể do các em nhác hoặc do tình trạng
sức khỏe không đảm bảo để các em theo học môn thể dục.
2.2. Tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ tính tự giác tích

STT Các lý do Số lượng Tỷ lệ %
1 Môn học có ý nghĩa 4 5.7
2 Hình thức tập luyện nghèo nàn 3 4.3
3 Xã hội đánh giá thấp 6 8.6
4 Thiếu sự quan tâm của nhà trường 7 10
5 Khó học 5 7.1
6 Điều kiện sân bãi không phù hợp 6 8.6
7 Thấy ngại ngùng trước bạn bè 7 10
8 Không phải là môn học chính 7 10
9 Học đạt kết quả thấp 6 8.6
10 Thiếu dụng cụ tập luyện 8 11.4
11 Không có năng khiếu 9 12.9
12 Thầy dạy không hay 2 2.7
Tổng 70 100
Kết quả điều tra cho thấy trên tổng số 70 học sinh có 21.4% học sinh cho
rằng thiếu dụng cụ tập luyện và thiếu sự quan tâm của nhà trường, các ý kiến
khác như hình thức tập luyện nghèo nàn, điều kiện sân bãi tập không phù hợp và
thầy dạy không hay chiếm tỷ lệ dưới 10% và những lý do đó hầu hết là điều kiện
khách quan mang lại và có thể khắc phục được, còn có tỷ lệ khác có số lượng
hịc sinh đồng ý thấp nên không được xem là lý do chủ yếu. Như vậy qua bảng
số 3 đã rút ra được lý do khiến các em không thích học môn thể dục, từ đó giúp
đưa ra những giải pháp sẽ mang tính chính xác.
2.3. Đề xuất các biên pháp mới
2.3.1. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số giải pháp nhằm nâng cao thái độ
tích cực tự giác trong môn học thể dục của học sinh khối 9.
Trên cơ sở giải quyết nhiệm vụ 1 đề tài đã tìm hiểu thực trạng công tác
giáo dục thể chất và những biểu hiện của tính tự giác và tích cực, từ đó rút ra
được những nguyên nhân chủ yếu được thể hiện rõ qua bảng 3. Do vậy việc lựa
chọn giải pháp được khách quan và chính xác sẽ giúp các em tích cực tự giác
19

9 Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học tập 12 85.7
10 Đầu tư cơ sở vật chất 14 100
11 Đánh giá kết quả học tập một cách khách quan công bằng 13 92.9
12 Giao nhiệm vụ cho người tập 9 64.3
20
13 Quán triệt nguyên tắc trong giảng dạy 14 100
14 Tổ chức thêm các buổi ngoại khóa 13 92.9
15 Giảm nhẹ lượng vận động 10 71.4
16 Động viên kịp thời những em đạt kết quả cao 14 100
17 Các hình thức tập luyện phải phong phú có sức lôi cuốn 14 100
Đa số ý kiến của giáo viên về các giải pháp được vận dụng nhằm phát huy
tự giác tích cực của học sinh, tập trung vào cá giải pháp 1,4,13,16,17 và số
người đồng ý là 100%.
Ngoài ra còn nhiều giải pháp 2,6,9,11,14 được đánh giá cao có số người
đồng ý trên 85%.
Trên đây là các ý kiến được nhiều người đồng ý nhất và sẽ áp dụng vào
thực tiễn trong quá trình học tập của học sinh khối 9. Còn một số ý kiến khác số
người đồng ý không cao nên không được lựa chọn, sau đây xin đề xuất lựa chọn
các giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực tự giác trong môn học thể dục cho
học sinh khói 5 trường PTDTBT tiểu học Thu Tà
Người giáo viên cần học tập nâng cao trình độ chuyên môn
Phát huy tính tích cực chủ động của người học
Đầu tư cơ sở vật chất
Quán triệt nguyên tắc trong giảng dạy
Động viên kịp thời những em đạt kết quả cao
Các hình thức tập luyện phải phong phú có sức lôi cuốn
Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Sử dụng phương pháp phù hợp với mỗi đối tượng
Giải thích ý nghĩa tầm quan trọng của môn học
Đánh giá kết quả học tập một cách khách quan công bằng

4. Ném bóng trúng đích (bóng)
55 46.6 38 46.3
Khá 1. Chạy 60m (s)
2. Bật xa (cm)
3. Chạy 500(m)
4. Ném bóng trúng đích (bóng)
37 31.4 20 24.4
Giỏi 1. Chạy 60m (s)
2. Bật xa (cm)
3. Chạy 500(m)
22
4. Ném bóng trúng đích (bóng) 24 20.3 18 22
Qua bảng 5 chúng ta nhận thấy rằng những biện pháp áp dụng cho học
sinh khối 9 là có hiệu quả, số người không đạt đã giảm xuống riêng ở mức đạt
cũng giảm không đáng kể, những người học sinh ở mức khá và giỏi lại tăng lên
đây là dấu hiệu đáng mừng, vì những biện pháp chúng tôi đưa ra là khả thi nên
cần phát huy chúng trong quá trình học.
23
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau khi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau và phân tích các
kết quả nghiên cứu được những kết luận sau:
- Qua kết quả điều tra về tính tự giác tích cực trong môn học thể dục của
học sinh khối 9 để tìm ra 65% học sinh thích học môn học thể dục, còn 35% học
sinh thấy chán và không thích học môn thể dục. Như vậy học sinh thích học môn
thể dục chiếm tỷ lệ cao nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thành tích học tập của học
sinh tăng lên.
Vì vậy trong quá trình nghiên cứu đã lựa chọn một số giải pháp để nâng
cao tính tự giác tích cực cho học sinh, từ đó giúp các em nhận thức được ý nghĩa
tầm quan trọng của thể dục thể thao đối với cơ thể, từ đó giảm được tỷ lệ học

được xin có một số kiến nghị sau:
Cần xem xét và áp dụng các giải pháp đề tài đã lựa chọn để nâng cao tính
tự giác tích cực của học sinh trường THCS trường Tân Lang – Phù Yên-Sơn La
nói riêng và học sinh các trường THCS nói chung.
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị 113/TT ngày 7/3/1945 của thủ tướng chính phủ về việc xây dựng
quy hoạch phát triển TDTT, về công tác GDTC trường học chỉ thị đã ghi
rõ “ Bộ giáo dục và đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà
trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, quy định
tiêu chuẩn ”
2. Nguyễn Đức Văn – Phương pháp toán học thống kê trong TDTT – NXB
thể dục thể thao năm 1987
3. Vũ Đức Thu – Giáo trình phương học dạy TDTT trường học năm 2011
4. Vũ Thị Thanh Bình - Vũ Đức Thu Phương pháp nghiên cứu khoa học
TDTT, nhà xuất bản ĐH sư phạm
5. Vũ Đức Thu - Sách giáo viên thể dục 9 – NXB giáo dục năm 2003
6. PGS Nguyễn Quang Uẩn - Tâm lý học đại cương NXB giáo dục năm
1997
7. Vũ Thị Thanh Bình - Vũ Đức Thu Phương pháp nghiên cứu khoa học
TDTT, nhà xuất bản ĐH sư phạm
8. Nguyễn Toán, Phạm Trọng Thanh, Phạm Danh Tốn – Lý luận và phương
pháp TDTT, NXB TDTT.
9. Hồ Chủ tịch – Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục ngày 26/3/1946
10.Một số tài liệu có liên quan khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status