Việt Nam sẽ kiểm soát vốn như thế nào trong tương lai??? - Pdf 24

Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ
vai trò quan trọng đối với sự phát triển. Nguồn vốn này thường phân thành đầu tư trực tiếp
(FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) và các nguồn vốn khác. Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò
trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển
theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều
kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò
quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các
mối quan hệ kinh tế.
Hiện nay, các nước đang tiến tới tự do hóa tài chính hoàn toàn, mở rộng đầu tư ra
nước ngoài. Nhưng việc thu hút các nguồn vốn này cũng có mặt trái của nó, khi các nguồn
vốn đổ vào ồ ạt hay tháo chạy cùng một lúc sẽ để lại những tác động không lường. Điều
này đã gây ra rất nhiều tranh luận là nên hay không nên kiểm soát vốn. Và nếu có kiểm soát
vốn thì nên áp dụng như thế nào để phát huy hết các lợi ích của các luồng vốn nước ngoài.
Và trong bài nghiên cứu này, nhóm chúng tôi cũng đã đưa ra một số tranh luận và các
chứng cứ thực nghiệm để làm rõ vấn đề này.
Trong quá trình nghiên cứu có gì sai sót mong cô và bạn đọc góp ý. Xin chân thành
cảm ơn !
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN
1. Các luồng vốn nước ngoài:
1
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
1.1 Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA):
* Khái niệm:
Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước ngoài
hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính
phủ cho một nước tiếp nhận.
Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoảng cho vay với điều kiện
ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm hỗ trợ cán cân thanh
toán, hỗ trợ các chương trình, dự án…

được của nguồn vốn này nhằm đạt được những tổng thể cao về kinh tế. Bởi lẽ, FDI cũng có
mặt trái của nó.
* Những bất lợi về FDI đối với các nước nhận vốn:
- Nguồn vốn FDI thực chất cũng là một khoản nợ, nó vẫn thuộc quyền sở hữu và chi
phối của nước sở tại. Ngày hôm nay, nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào và hết hạn họ lại
rút ra, giống như các khoản nợ - có vay có trả.
- Trong các khoản vay nợ, thông thường mức lãi suất do hai bên thỏa thuận trước, còn
trong đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa.
- Đối với các khoản nợ, người đi vay có toàn quyền sử dụng vốn vay, còn trong FDI,
chủ đầu tư vẫn toàn quyền sử dụng vốn nếu là hình thức 100% vốn nước ngoài, còn nếu là
liên doanh quyền đó cũng bị chia sẻ dựa theo tỷ lệ góp vốn.
- Bên cạnh đó, các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp
dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư hay bị các nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn
mặt bằng quốc tế cho các nhân tố đầu vào, cũng như bị chuyển giao những công nghệ cũ kỷ
và lạc hậu, điều này có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường…
- Hiệu quả sử dụng: cần phải phân tích tỷ lệ % vốn thực hiện / vốn đăng ký, đánh giá
các dự án đầu tư thông qua ô nhiễm môi trường.
1.3 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment – FII):
* Khái niệm:
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,
các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính khác
mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia đầu tư. Hình thức đầu tư mang tính đầu cơ nên nhà
đầu tư có thể thu lãi rất lớn thông qua biến động của thị trường tài chính và cũng phải chịu
những rủi ro khó lường.
* Thuận lợi: Góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm vốn, tạo khởi sắc cho thị
trường tài chính.
* Bất lợi:
- Vốn đầu tư có thể là dài hạn hoặc ngắn hạn, do đó sẽ biến động nhiều hơn FDI do
nhà đầu tư có thể thêm hoặc rút vốn nhanh chóng hơn FDI. Luồng vốn này tiềm ẩn nhiều
rủi ro đảo chiều, nhất là trong điều kiện các giao dịch vốn được tự do hóa ở mức cao. Mọi

Tự do hóa giao dịch vốn tác động mạnh đến hệ thống ngân hàng, cả chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Trung ương và hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, các tập đoàn
và ngân hàng lớn ngày càng có ảnh hưởng mạnh đến chính sách của các quốc gia. Quá trình
4
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
tự do hóa giao dịch vốn ảnh hưởng đến các NHTM – thành viên trực tiếp tham gia các giao
dịch vốn quốc tế và thông qua hoạt động của những khu vực khác trong nền kinh tế, gây
khó khăn về quản lý tài sản, nhất là trong việc điều chỉnh tỉ giá, lãi suất, phòng ngừa rủi ro
nhằm cân bằng lợi ích giữa việc nắm giữ ngoại tệ và nội tệ cũng như cơ cấu tiền gửi và cho
vay.
Trong quá trình tự do hóa giao dịch vốn, các luồng vốn vào ngày càng tăng mạnh.
Nếu chính sách vĩ mô không đủ mạnh và quản lý tài chính yếu kém, việc gia tăng luồng
vốn vào quá mức có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế quá nóng, nếu tiền cung ứng tăng quá
mức so với tăng trưởng GDP thực tế sẽ làm tăng tổng phương tiện thanh toán (M2), gây áp
lực lạm phát và biến động về tỉ giá hối đoái, làm tăng thâm hụt cán cân vãng lai, nhất là khi
sản xuất trong nước phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, làm thay đổi cơ cấu tài trợ và
tiềm ẩn rủi ro cán cân thanh toán và tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Trong xu thế toàn cầu hóa, chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia tăng mạnh cả
về qui mô và tốc độ, mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp đối phó thích hợp nhằm
đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là, cần xác định rõ liều
lượng, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách, trước hết cần dựa trên mục tiêu kinh tế của
nước thụ hưởng, cơ chế tỉ giá, các qui định về thể chế. Trong đó, cần xác định được động
cơ và nguyên nhân của luồng vốn vào, cơ cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế
và hệ thống tài chính. Nếu luồng vốn vào do cầu tiền trong nước tăng lên, giá chứng khoán
và bất động sản giảm, dẫn đến điều chỉnh danh mục đầu tư và không cần can thiệp vì việc
mở rộng tiền sẽ không gây áp lực lạm phát. Trái lại, khi luồng vốn vào do lãi suất thế giới
thấp hơn, giá của tài sản tài chính và bất động sản tăng lên, trường hợp này cần có biện
pháp điều chỉnh.
Luồng vốn vào quá nhiều đòi hỏi phải can thiệp nhằm giảm áp lực tăng M2, nhưng rất
tốn kém, hiệu quả của biện pháp này tùy thuộc vào trình độ phát triển thị trường tài chính

Kiểm soát vốn chính là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều
hình thức khác nhau để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và ra khỏi
một quốc gia để nhằm đạt “mục tiêu nhất định” của chính phủ.
3.2 Các biện pháp kiểm soát vốn của chính phủ:
6
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
 Tranh luận về các mục tiêu của kiểm soát:
- Thông qua hạn chế cán cân tài khoản vốn để cải thiện phúc lợi kinh tế.
- Điều hoà những mục tiêu chính sách.
- Bảo vệ sự ổn định về tài chính và tiền tệ.
 Lý thuyết bộ ba bất khả thi:
- Chính sách tiền tệ độc lập.
- Ổn định tỷ giá.
- Hội nhập tài chính hoàn hảo.
Đây là mô hình lý thuyết rất phổ biến, gọi là mô hình Mundell- Fleming được Robert
Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960. Và vào những năm 1980 khi
vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ
giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì Lý thuyết bộ ba bất khả thi đã trở
thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở.
Trên thực tế không thể đạt được cùng lúc cả ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập,
ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính hoàn toàn. Một quốc gia chỉ có thể đạt được tối đa hai
trong ba mục tiêu này và việc áp dụng chính sách nào cũng phải trả giá. Do đó, tuỳ từng
tình hình cụ thể và tuỳ vào mục tiêu của từng quốc gia sẽ áp dụng chính sách nào trong bộ
ba bất khả thi này.
7
Dỡ bỏ hạn chế
vệ tài chính
Thả nổi tỷ giá
hoàn toàn
Chính sách

kiểm tra dòng vốn.
- Kiểm soát vốn gián tiếp (dựa trên cơ sở thị trường) là việc hạn chế những biến động
của dòng vốn và những giao dịch khác thông qua các biện pháp thị trường, chủ yếu là làm
cho các giao dịch vốn phải tốn kém nhiều chi phí hơn, từ đó hạn chế các giao dịch này.
Việc kiểm soát như thế có thể xảy ra dưới các hình thức khác nhau mà điển hình nhất
là đánh thuế cao trên các dòng vốn ngắn hạn, đi liền với việc miễn thuế đối với các dòng
vốn mang tính dài hạn,hoặc xếp hạng tín nhiệm. Đây chính là những phương thức mà
chúng ta cần phải thực hiện trong thời gian tới.
Trong hai biện pháp trên, cần phải hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp kiểm soát
mang tính hành chính. Ngoại trừ một số ngành nghề và lĩnh vực nhạy cảm, việc dừng lại
8
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
chủ trương mở (kiểm soát trực tiếp) đồng loạt cho các lĩnh vực như trong thời gian qua là
điều mà Chính phủ cần phải xem xét lại bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương thu hút
vốn hiện nay.
• Chính sách đối với dòng vốn vào :
- Can thiệp vô hiệu hóa.
- Nâng tỷ giá.
- Các chính sách tiền tệ.
• Chính sách đối với dòng vốn ra :
- Nhằm mục đích kiềm chế đầu cơ tiền tệ và ổn định thị trường ngoại hối
- Kiểm soát dòng vốn ra trong suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính chỉ tạm thời mang
tính đối phó của chính phủ.
3.3 Hạn chế của kiểm soát vốn:
Có nhiều quan điểm lầm tưởng rằng nếu như áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn
gián tiếp thì sẽ không phải trả giá. Trên thực tế, đã gọi là kiểm soát vốn thì cho dù là áp
dụng các biện pháp kiểm soát vốn như thế nào cũng phải trả một giá nhất định. –
Cái giá chung nhất chính là sẽ làm chậm lại các cơ hội thu hút vốn đầu tư khi mà các
quốc gia ngày càng cạnh tranh quyết liệt để thu hút dòng vốn toàn cầu. Đi vào từng lĩnh
vực cụ thể thì kiểm soát vốn sẽ có những tác động nhất định.

- Những nhà nghiên cứu ủng hộ việc tự do hóa vốn đầu tư đã chỉ ra rằng chính các tài
khoản vốn có tính khả hoán sẽ thu hút vốn cho các hoạt động đầu tư, mà điều này đóng vai
trò quyết định đối với một nền kinh tế mới nổi. Ngoài ra, kiểm soát vốn sẽ tạo ra một thị
trường méo mó, ngăn cản tiến trình phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả. Allen và
Gale (1998), thậm chí đã chứng minh rằng, theo một số điều kiện nhất định, khủng hoảng
tài chính được tối ưu, thì nó cũng có nghĩa là thị trường tự kỷ luật mình.
- Các tác giả khác, những người ủng hộ việc kiểm soát vốn, thì lại trình bày 3 tranh
luận khác :
+Trước tiên, tự do hóa nguồn vốn sẽ dễ đẩy quốc gia vào tình trạng của sự tấn công từ
việc đầu cơ.
+Thứ hai, nó thúc đẩy những tiềm ẩn của rủi ro đạo đức do sự dễ dàng trong việc
khuếch trương tín dụng cùng với các khoản tiền gửi hoặc cho vay bảo đảm.
+Cuối cùng, trong một cuộc khủng hoảng, thì mục tiêu ngắn hạn sẽ là điều hòa, và
làm ổn định thị trường tài chính của một quốc gia, chứ không phải lo lắng về mặt hiệu quả.
1.2/ Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn trong cuộc khủng hoảng tài chính
Châu Á năm 1997:
“Việc xem kiểm soát vốn như là một phương thuốc cho cuộc khủng hoảng”, điều này
được chứng minh bằng cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997.(còn được gọi là
Khủng hoảng tiền tệ Đông Á hay Khủng hoảng IMF )
11
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
Khủng hoảng tiền tệ Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm
1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và
giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là
"những con Hổ Đông Á" như : Malaysia, Hàn Quốc, Inđônêxia... Còn Đại lục Trung Hoa,
Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng
nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài
hạn của chính bản thân mình.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" nhưng ảnh hưởng của nó lại lan
truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn

không những không đứng ra giúp điều đình hoãn nợ, mà lại cho tăng lãi suất khiến tình
hình trở nên khó khăn hơn.
 Trong bài diễn văn tại Madras, Ấn Độ vào tháng 1/1998, ông Jeffrey Sachs cho rằng
“IMF đã không biết đưa ra một chương trình giải cứu phù hợp với những nhu cầu của Đông
Nam Á và chính họ "đã góp phần vào cuộc khủng hoảng!"”. Ông chỉ trích “IMF là đã làm
một điều "thiếu suy nghĩ" khi buộc các ngân hàng phải đóng cửa, đưa đến sự sụp đổ toàn
bộ của guồng máy tài chính và khiến mọi người kinh hoàng!”
 Nhà kinh tế Steve Radelet thuộc đại học Harvard cũng phê bình rằng: "Thật hoàn
toàn phi lý khi bắt những nước này phải thắt lưng buộc bụng khi họ hiện có thừa khả năng
sản xuất và mức tiết kiệm đã lên tới 30% tổng số thu nhập".
 Từ Washington, chủ báo nổi tiếng và là cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ, Steve
Forbes cũng đã phê bình rằng: "... những phương thức như trên chỉ làm cho cuộc khủng
hoảng kinh tế châu Á càng trầm trọng thêm".
 Trong một bài báo trên tờ FEER, nhà kinh tế Martin Khor, Giám đốc Trung tâm
Nghiên cứu chính sách quốc tế của nhóm Third World Network cũng đã kết luận rằng:
"IMF thiếu hiểu biết về châu Á".
13
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
 Trước những phản ứng chống đối từ mọi phía, IMF đã nhiều lần lên tiếng bào chữa
về những quyết định của mình. Ông Stanley Fisher, phó chủ tịch IMF tuyên bố: "Tôi không
đồng ý về điều cho rằng việc đồng tiền ở châu Á bị phá giá nặng nề trong những tháng vừa
qua là do IMF gây ra... Nếu không có sự trợ giúp của IMF... thì những đồng tiền này đã còn
mất giá hơn nữa. Để lật ngược tình thế, các nước này phải làm sao để nội tệ tăng giá trị
khiến người ta chuộng hơn, và điều đó có nghĩa là phải tạm thời nâng cao lãi suất, mặc dầu
điều này sẽ đưa tới nhiều khó khăn cho các ngân hàng và các công ty yếu".
Năm 1997, IMF liên tục cảnh báo Malaysia đề phòng hậu quả của kiểm soát vốn,
thậm chí phải đối mặt với việc vốn bị rút ra nhanh chóng. Nhưng hiện nay, khi dòng vốn
ngoại đổ vào Việt Nam quá nhiều IMF cũng lo ngại khi đưa ra những biện pháp kiểm soát
vốn phù hợp cho Việt Nam. Điều này cho thấy IMF đang ngày càng tiến gần đến quan
điểm của Stiglitz.

+ Trước tiên, việc hạn chế dòng vốn chảy ra nước ngoài sẽ giúp ngân hàng trung ương
cắt giảm được sự sụt giảm trong dự trữ ngoại tệ và duy trì ổn định tỷ giá hối đoái.
+ Thứ hai, việc ngăn không cho phép vốn chảy ra nước ngoài sẽ làm cho chính phủ
duy trì được lãi suất thấp, có nghĩa là, để khôi phục lại quyền lực trong chính sách tiền tệ là
điều rất quan trọng cho việc phục hồi của nền kinh tế. Mặc dù vẫn còn tồn tại những chi phí
di động vốn không hoàn hảo. Tính không lỏng trên thị trường sẽ làm giảm sự tin cậy của
các quốc gia này đối với các nước chủ nợ nước ngoài. Thêm nữa, nếu dòng vốn đầu tư bị
giới hạn, thì sau đó gánh nặng về điều chỉnh trong các thị trường tài sản phụ thuộc nhiều
hơn về giá cả. Do đó, giá tài sản có thể trở nên bất ổn định.
2. Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn ở Việt Nam hiện nay :
2.1 Sơ lược về luồng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam:
15
Những tranh luận về quan điểm kiểm soát vốn
Từ năm 2001 dòng vốn FDI có xu hướng phục hồi chậm và bắt đầu từ năm 2004
đến nay dòng vốn FDI lại bắt đầu tăng trở lại.
- Vốn đăng ký năm 2001 là 2,592 tỷ USD, bằng 128% năm 2000.
- Hai năm tiếp theo vốn đăng ký giảm sút, năm 2002 là 1,621 tỷ USD, bằng 62,5%
năm 2001.
- Năm 2003 là 1,914 tỷ USD, xấp xỉ năm 2000.
- Vốn đăng ký năm 2005 là 6,8 tỷ USD, bằng 261% năm 2001.
- Đến năm 2006, vốn FDI đã tăng ngoạn mục và đạt 10 tỷ USD, tức tăng 149,1% so
với năm 2005. Nguyên nhân của dòng vốn FDI tăng mạnh tại Việt Nam là do Việt Nam
chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO với
những điều kiện thuận lợi cho thu hút FDI như: cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, giảm
thuế suất thuế nhập khẩu, giảm bảo hộ và xoá bỏ phân biệt đối xử quốc gia.
- Năm 2007 là 13 tỷ USD, thế nhưng số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư) vừa được công bố cho thấy, 12 tháng qua, cả nước đã thu hút được 20,3 tỷ USD
vốn đầu tư đăng ký bao gồm cả cấp mới và tăng vốn, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước, vượt
56% kế hoạch dự kiến.
Tổng vốn thực hiện cũng đạt kết quả khả quan là 4,6 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status