BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HOÀNG VĂN PHONG
XỬ LÝ NƢỚC THẢI NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
BẰNG PHƢƠNG PHÁP SINH HỌC
Chuyên ngành: Hoá môi trƣờng
Mã số: 60.44.41
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Luận văn Thạc sỹ khoa học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Bảng HÀ NỘI – 2011
i
MỤC LỤC
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined.
Lời cảm ơn! Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
1.1. Hiện trạng và nhu cầu thực tiễn 1
1.2. Một số đặc điểm sinh học cua biển (Scylla serrata) 2
1.3. Tình hình sản xuất giống cua 4
1.4. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến sinh
trƣởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua 5
1.5. Tình hình sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản trên
thế giới 10
1.5.1. Khái niệm về chế phẩm vi sinh và cơ chế tác dụng 10
1.5.2. Tình hình nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh trong NTTS 13
3.2. Kết quả xử lý nƣớc thải bằng chế phẩm vi sinh 33
3.2.1. Biến động các yếu tố thuỷ lý 33
3.2.2. Kết quả xử lý chất hữu cơ trong nước thải bằng chế phẩm vi sinh 33
3.3. Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh trong trại sản xuất giống cua
xanh (Scylla serata) 39
3.3.1. Biến động các yếu tố môi trường thuỷ lý 39
3.3.2. Biến động amoni (NH
4
+
) và nitrite (NO
2
-
), nitrat (NO
3
-
) 40
3.3.3. Tỷ lệ sống của ấu trùng cua trong thí nghiệm 49
3.3.4. Tỷ lệ sống của Megalopa sang Cua bột 50
CHƢƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53
4.1.Kết luận 53
4.2. Đề xuất 54
CHƢƠNG V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Bảng 2.5. Lượng ức chế quá trình nitrat hoá 29
Bảng 3.1: Thông số chất lượng nước thải 32
Bảng 3.2: Biến động một số yếu tố môi trường trong bể thí nghiệm 33
Bảng 3.3: Kết quả phân tích NH
4
+
(mg/l) 34
Bảng 3.4: Kết quả phân tích NO
2
-
(mg/l) 35
Bảng 3.5: Kết quả phân tích NO
3
-
(mg/l) 36
Bảng 3.6: Kết quả phân tích BOD
5
(mgO
2
/l) 37
Bảng 3.7: Kết quả phân tích COD (mg/l) 38
Bảng 3.8: Kết quả theo dõi biến động NO
2
-
(mg/l) 40
Bảng 3.9: Kết quả theo dõi biến động NO
3
-
(mg/l) 42
Bảng 3.10: Kết quả theo dõi biến động NH
trong 5 ngày thử nghiệm 34
Hình 3.3: Biến động hàm lượng NO
2
-
trong 5 ngày thử nghiệm 35
Hình 3.4: Biến động hàm lượng NO
3
-
trong 5 ngày thử nghiệm 36
Hình 3.5: Biến động hàm lượng BOD trong 12 ngày thử nghiệm 37
Hình 3.6: Biến động hàm lượng COD trong 5 ngày thử nghiệm 38
Hình 3.7: Biến động các yếu tố môi trường trong bể ương 39
Hình 3.8: Biến động hàm lượng NO
2
-
trong bể ương 41
Hình 3.9: Biến động hàm lượng NO
3
-
trong bể ương 41
Hình 3.10: Biến động hàm lượng NH
4
+
trong bể ương 44
Hình 3.11: Biến động hàm lượng N tổng số trong bể ương 45
Hình 3.12: Biến động hàm lượng BOD
5
ở các bể thí nghiệm 46
Hình 3.13: Biến động hàm lượng COD theo tuần nuôi 47
Hình 3.14: Tỷ lệ sống qua mỗi giai đoạn của ấu trùng cua biển 49
mức độ ô nhiễm không quá nặng nề như các ngành sản xuất khác nhưng những chất
ô nhiễm lại là chất gây độc trực tiếp cho loài nuôi với nồng độ rất thấp, điển hình
nhất là amoniac, thành phần phân hủy từ chất thải. Xử lý nước thải vì vậy tập trung
vào xử lý amoni, cụ thể là chuyển hóa chúng thành dạng nitrat thông qua quá trình
nitrat hóa bằng con đường vi sinh vật [Woolard CR, Irvine RL .,1995; World
Bank 2001; Vredenbregt và ctv., 1997; Dincer và ctv., 1999] So với các loại nước
thải khác, tính chất đặc thù của nước nuôi thủy sản có nồng độ amoni thấp, độ muối 2
cao, thường chứa các chất ức chế (sử dụng trong khi nuôi, ví dụ kháng sinh) nhưng
yêu cầu mức độ làm sạch rất cao nếu nhằm mục đích tái sử dụng.
Các yếu tố trên ức chế rất mạnh đến hiệu quả hoạt động xử lý của vi sinh vật
tự dưỡng (loại chuyển hóa amoni thành nitrat) vốn đã là chủng loại có tốc độ phát
triển chậm [Hunik và ctv 1993; Catalan-Sakairi và ctv 1997].
Khó khăn khác khi sử dụng công nghệ sinh học trong xử lý nước nuôi là sản
xuất theo thời vụ (vùng miền bắc), qui mô sản xuất nhỏ, chủng loại vật nuôi đa
dạng ngay trong một cơ sở sản xuất.
Những đặc điểm trên đây sẽ tác động đến hiệu quả sử dụng công nghệ xử lý
nước thải, dẫn đến: chi phí xây dựng và vận hành hệ thống xử lý cao, khó ổn định.
1.2. Một số đặc điểm sinh học cua biển (Scylla serrata)
Phân bố: Scylla serrata có sự phân bố rộng rãi nhất và là loài duy nhất cho đến
nay được ghi nhận ở vùng biển Ấn Độ, Tây Thái Bình Dương, biển Đỏ, vịnh
Rachard, Nam Phi, Đông và Tây Úc, biển Arafura, Darwin, Timor, Indonesia, biển
Thái Bình Dương, Fiji, Solomon Island, New Coledonia, Philippines, Okinawa
Japan, Đài Loan, biển Nam Trung Hoa, Singapore, Malaysia, Cambodia, Việt
Nam (Keenan và ctv. 1998). Scylla serrata phân bố phổ biến ở vùng vĩ độ cao nơi
có nhiệt độ thấp hơn vùng biển nước ta (Hoàng Đức Đạt. 1992).
Tập tính sống của cua biển
C - 30
0
C. Cua chịu đựng pH từ 7.5 - 9.2 và thích hợp nhất là 8.2 -
8.8. Cua thích sống nơi nước chảy nhẹ, dòng chảy thích hợp nhất trong khoảng
0.06m/s - 1.6m/s (Keenan and A. Blackshaw (Editors), 1999).
* Về sinh cảnh nơi cư trú: cua biển thích sống những nơi có nhiều thực vật
thuỷ sinh, những vùng bán ngập, có bờ để đào hang, tìm nơi trú ẩn, nhất là thời kỳ
lột xác. Vùng rừng ngập mặn cửa sông, ven biển là nơi có nhiều cua biển sinh sống
(Keenan et al. 1999)
Dinh dƣỡng
Cua biển là loài giáp xác ăn tạp, ăn cả thực vật và động vật, động vật tìm
thấy trong đáy bùn và có hiện tượng ăn thịt lẫn nhau khi thiếu thức ăn (Jayamanne,
S. C. and Jinadasa, J., 1991). Tính ăn của cua biển biến đổi theo từng giai đoạn phát
triển nhưng nhu cầu dinh dưỡng của chúng khá lớn. Giai đoạn ấu trùng Zoae, cua
thích ăn thực vật và động vật phù du. Đến giai đoạn Megalops chúng ăn được thức
ăn cỡ to hơn, giai đoạn này chúng có thể ăn thịt tôm, nhuyễn thể nghiền nát. Giai
đoạn cua con chuyển dần sang ăn tạp như rong tảo, giáp xác nhuyễn thể cá hay
ngay cả xác chết động vật. Giai đoạn trưởng thành cua ăn rong, tảo, cá, giáp xác, 4
nhuyễn thể và xác động vật chết. Trước và ngay sau khi lột xác cua ngừng ăn
((Jayamanne, S. C. and Jinadasa, J., 1991))
1.3. Tình hình sản xuất giống cua
Tình hình sản xuất giống cua thế giới
Năm 1983, Heasman, M.P. và Fielder D.R. đã thử nghiệm cho cua đẻ ở
phòng thí nghiệm và nuôi đại trà cua xanh (Scylla serrata) từ giai đoạn Zoea đến
cua bột, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Cần duy trì chất lượng nước bằng hệ
xanh nhưng kết quả còn hạn chế. 5
Năm 1998, Bộ Khoa Học Công Nghệ - Môi trường đã giao cho Trung tâm
nghiên cứu thuỷ sản III thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng
quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo loài cua xanh Scylla serrata”.
Cũng trong thời gian này, Trường Đại Học Cần Thơ cũng nghiên cứu sinh
sản nhân tạo thành công giống cua xanh Scylla serrata và bước đầu thử nghiệm
nuôi cua thương phẩm từ nguồn giống nhân tạo (Trương Quốc Thái - Nguyễn Cơ
Thạch 2000).
Qua nhiều lần thí nghiệm tỷ lệ sống từ 10 – 15% từ Zoea
1 đến Cua 1 trong
các bể composite hình trụ nón 30 – 500l. Ở quy mô sản xuất thử nghiệm trong bể
có thể tích 1 – 4m
3
tỷ lệ sống đạt 2 – 5% từ Zoea
1 đến Cua 1 (Trương Trọng Nghĩa
và Trần Ngọc Hải 2002). Đến năm 2003, quy trình đã bước đầu hình thành và
được áp dụng rộng rãi trên cả nước.
1.4. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến sinh
trƣởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua
Ấu trùng cua đòi hỏi chất lượng nước sạch, không có tác nhân gây bệnh (vi
khuẩn, ký sinh trùng ). Nước biển khi đưa vào bể ương phải được lọc qua lưới
kích cỡ 1 micromet và sau đó khử trùng bằng Clo diệt khuẩn và trung hoà bởi
Sodium thiosulphate (Mann et al 1999b; Parado-Estepa và Quinitio năm 1998;
Quinitio et al, 2001; Williams et al, 1998;. Williams et al , 1999b;). Một số nghiên
trùng phát triển ở 25 - 30°C, nhiệt độ trong phạm vi 29 - 30°C rút ngắn thời gian
phát triển (Đạt, 1999b; Li et al, 1999; Mann et al, 2001; Quinitio et al. , năm 1999;
Quinitio et al, 2001; Djunaidah et al, 1998) Ấu trùng rất nhạy cảm với những thay
đổi đột ngột về nhiệt độ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu dễ bị tổn thương khi biên
độ dao động lớn.
Độ mặn
Độ mặn có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sống và phát triển của ấu trùng
cua biển. Ở giai đoạn Zoae, độ mặn ở mức 28 - 30
0
/
00
đảm bảo sinh trưởng và phát
triển tốt nhất cho ấu trùng, giai đoạn Megalope độ mặn giảm dần từ 30
0
/
00
đến
20
0
/
00
(Baylon và Failaman.,2001; Quinitio et al, 2001.)
Ánh sáng
Giai đoạn Z1 và Z2 ấu trùng tính hướng quang mạnh mẽ và tập trung vào nơi
có ánh sáng. Trong giai đoạn sau của phát triển (Z3 - Me), nhu cầu về cường độ
ánh sáng cao hơn (1800 - 4000 lux) (Mann et al, 2001). Tỷ lệ sống của ấu trùng
thấp khi không có đủ ánh sáng cần thiết, cường độ ánh sáng yếu (50 lux), đặc biệt
sau giai đoạn Z3. Ánh sáng tự nhiên rất cần thiết cho sự phát triển ấu trùng
(Takeuchi và cộng sự, 2000; Williams et al, 1998).
Thời gian cần ánh sáng cho ấu trùng từ 12 đến 18 giờ (Nghia et al., 2001b),
+ H
2
O HOCl + Cl
-
+ H
+
MT kiềm
HOCl H
+
+ OCl
-
MT axit
OCl
-
(O) + Cl
-
Oxy nguyên tử là chất oxy hoá mạnh, có thể ảnh hưởng đến mang tôm, cua
ngay cả khi hàm lượng Clo thấp. 8
Với pH = 6 thì 96% Clo hoà tan tồn tại dưới dạng HOCl. Với pH=9 thì 97%
HOCl bị hấp thụ. Clo dưới dạng HOCl độc hơn OCl
-
Trong hệ thống nuôi và sản xuất giống có nhiều chất hữu cơ sẽ xảy ra phản
ứng kết hợp của Clo dư thừa với NH
3
, chuyển thành Cloramine:
được tạo thành trong nước do các chất thải của nhà máy hoá
chất, sự phân giải các chất hữu cơ trong nước và sản phẩm trao đồi chất của sinh
vật nói chung, tôm cua nuôi nói riêng.
Bảng 1: So sánh tỷ lệ % NH
3
khác nhau trong nước ngọt và nước lợ nhiệt độ 24
0
C
pH
Tỷ lệ % của ammonia
Nước ngọt
Nước lợ có độ mặn (‰)
18-22
23-27
28-31
7,6
2,05
1,86
1,74
1,70
8,0
4,99
4,54
4,25
4,16
8,4
11,65
10,70
10,0
9,83
trì dưới 1 mg/l trong bể ương ấu trùng Zoae 1 của cua S. serrata (Quinitio và
Parado-Estepa, 2001).
Nitrite-NO
2
-
Nitrite được sinh ra trong quá trình chuyển hoá từ đạm ammoni nhờ các vi
khuẩn Nitơ (Nitrobacter):
NH
4
+
+ O
2
NO
2
-
+ H
-
+ H
2
O
NO
2
+ O
2
NO
3
-
Nếu môi trường thiếu oxy thì quá trình chuyển hoá đạm chỉ đến nitrite (NO
2
về chế phẩm vi sinh trong thời gian gần đây nhưng phần lớn dựa trên các nghiên
cứu thực nghiệm. Hiện có xu hướng dùng vi sinh vật hay dẫn xuất của chúng trong
nuôi trồng thủy sản để khống chế dịch bệnh, cải thiện dinh dưỡng vật nuôi và cải
thiện chất lượng nước và bùn đáy. Vai trò và cơ chế tác động của chế phẩm vi sinh
và giá trị “thật” của nó cũng chưa được đánh giá đầy đủ, phần lớn cơ chế được suy
diễn dựa trên các nghiên cứu trên người và động vật. Trong nuôi trồng thuỷ sản vì
thế cần rất nhiều nghiên cứu để tìm ra cơ chế tác động đúng đắn.
1.5.1. Khái niệm về chế phẩm vi sinh và cơ chế tác dụng
Các khái niệm về chế phẩm vi sinh: Hiện có nhiều loại chế phẩm vi sinh khác nhau
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản và tên gọi của chúng cũng phân loại không hoàn
toàn chính xác. Thuật ngữ ”probiotics” được dùng khá phổ biến nhưng nhiều
trường hợp vẫn chưa chính xác. Các khái niệm và tên gọi về việc các sản phẩm
chứa vi sinh vật được gọi tên khác nhau tùy vào chức năng hoặc là tác dụng của
chúng.
a) Probiotics: Fuller (1989) định nghĩa là thức ăn bổ sung có bản chất vi sinh vật
sống có tác động có lợi đối với vật chủ nhờ cải thiện sự cân bằng hệ vi sinh trong
ruột của chúng.
b) Bio-remediation: Là chế phẩm cải tạo môi trường được dùng như là một giải
pháp công nghệ sinh học để xử lý các sự cố như tràn dầu, chất thải sinh
hoạt,…bằng cách cấy các vi sinh vật từ ngoài vào để giảm các chất hữu cơ. Trong
ao nuôi thủy sản thì “bio-remediation” là chế phẩm có tác dụng làm giảm các chất
thải hữu cơ để không gây ô nhiễm môi trường qua sử dụng các sinh vật kích thước
nhỏ và lớn (Thomas và ctv., 1992). 11
c) Bio-control: Là chế phẩm ức chế tác nhân gây bệnh, là một biện pháp khống chế
sinh học bằng cách dùng các sinh vật này để khống chế các sinh vật khác, hay nói
khác đi là dùng các sinh vật đối kháng trong số các sinh vật (Maeda và ctv., 1997).
trong cùng một hệ sinh thái thì sẽ có sự cạnh tranh về dinh dưỡng và năng lượng. 12
Cạnh tranh trong giới vi sinh vật chủ yếu là xảy ra ở nhóm dị dưỡng như cạnh tranh
các chất hữu cơ mà chủ yếu là nguồn carbon và năng lượng. Rico-Mora (1998) đã
cho một dòng vi khuẩn được chọn lọc có khả năng phát triển trên môi trường nghèo
hữu cơ. Tác giả cấy vi khuẩn này vào bể nuôi tảo khuê cùng với Vibrio
alginolyticus thì vi khuẩn Vibrio này không phát triển và thử nghiệm in-vitro không
thấy có sự ức chế. Do đó chứng tỏ vi khuẩn được chọn lọc cạnh tranh lấn át Vibrio
trong điều kiện nghèo hữu cơ. Do vậy những dòng vi khuẩn chọn lọc sẽ có ưu thế
trong việc cạnh tranh năng lượng và dinh dưỡng.
c) Cạnh tranh nơi cư trú: Cạnh tranh chỗ bám trong ruột của vật chủ có ảnh hưởng
rất quan trọng đến sức khoẻ của vật chủ. Việc bám dính được vào lớp màng nhầy
của ruột là rất cần thiết để vi khuẩn thiết lập quần thể trong hệ ruột của cá (Olsson
et al., 1992, Westerdahl et al., 1991). Khả năng bám dính lên thành ruột là tiêu
chuẩn lựa chọn đầu tiên của vi khuẩn hữu ích. Sự bám dính trên màng ruột có thể là
chuyên biệt (các điểm hay các phân tử tiếp nhận), không chuyên biệt (dựa trên các
yếu tố hóa lý).
d) Tương tác với thực vật thủy sinh: Theo các nghiên cứu gần đây một số dòng vi
khuẩn có khả năng tiêu diệt một số loài tảo, đặc biệt là tảo gây ra hồng triều
(Fukami et al., 1997). Những dòng vi khuẩn này có thể không tốt đối với ương ấu
trùng bằng nước xanh, tuy nhiên sẽ có lợi khi tảo phát triển quá mức trong ao nuôi.
Nhiều dòng vi khuẩn khác có khả năng kích thích sự phát triển của tảo (Fukami et
al., 1997).
e) Cải thiện chất lượng nước: Cải thiện chất lượng nước là một cơ chế tác động của
“vi sinh vật hữu ích” trong thủy sản khi đưa vi sinh vật hữu ích vào nước giúp cải
thiện chất lượng nước mà không có tác động trực tiếp lên cơ thể vật nuôi, thường
liên quan đến các nhóm Bacillus (Verschuere et al., 2000). Nhóm vi khuẩn Gram
Nagami công bố kết quả theo dõi các dòng vi khuẩn có hoạt tính ức chế Vibrio và
cải thiện tốc độ sinh trưởng của ấu trùng tôm, cá. Kết quả cho thấy mật độ vi khuẩn
Vibrio spp. gây ra tổn thất lớn trong sản xuất ấu trùng đã giảm đi nhiều, tỷ lệ sống
của ấu trùng cao hơn so với khi không bổ sung các dòng vi khuẩn trên. Tác giả cho
rằng khi bổ sung các dòng vi khuẩn này sẽ kìm hãm tốc độ sinh trưởng của Vibrio
spp., nấm và các loài sinh vật là tác nhân gây bệnh khác. Từ kết quả nghiên cứu tác
giả cho thấy khả năng sử dụng vi khuẩn và nguyên sinh động vật trong việc kiểm
soát hệ sinh thái ao nuôi để duy trì môi trường ao nuôi tốt hơn và tăng sản lượng
thu hoạch.
Năm 1993, Smith và Davey báo cáo về một loài vi khuẩn Pseudomonas
dòng phát sáng có tác động ức chế cạnh tranh tới tốc độ sinh trưởng của A.
salmonicida - là một tác nhân gây bệnh cá. Các kết quả nghiên cứu cho thấy loại vi 14
khuẩn này còn có khả năng kìm hãm tốc độ sinh trưỏng của A. salmonicida trong
môi trường nuôi. Khi tiến hành thử nghiệm về ngưỡng chịu đựng của cá hồi Đại
Tây Dương đối với loài vi khuẩn trên cho thấy tần xuất lây nhiễm gây ra do stress
đã giảm giữa nhóm cá được tắm trong dung dịch có chứa Pseudomonas phát sáng
so với lô đối chứng,
Austin và ctv. (1995) báo cáo về dòng chế phẩm sinh học của Vibrio
alginolyticus không gây ra bất kỳ tác động có hại nào lên cá hồi. Bằng việc sử dụng
phương pháp cấy chéo, loại chế phẩm này cho thấy khả năng ức chế các tác nhân
gây bệnh cá. Khi bổ sung vi khuẩn đã được làm lạnh khô vào môi trường có một số
loài vi khuẩn gây bệnh như V. ordalii, V. angilarum, A. Samonicida và Y. ruckeri,
cho thấy số lượng các tế bào vi khuẩn nuôi cấy luôn giảm nhanh so với đối chứng.
Hiện nay, việc thử nghiệm chế phẩm sinh học dòng Vibrio đang được khuyến khích
và có tiềm năng lớn trong việc áp dụng vào nuôi trồng thủy sản như một phương
pháp kiểm soát dịch bệnh,
lên tới 1,67 mg/l. Đồng thời khi so sánh sử dụng
thức ăn bổ sung cho tôm sú (Penaeus monodon) ở giai đoạn Post Larvae là chủng
Bacillus S11 và Artemia, tác giả cũng nhận thấy tôm sử dụng chế phẩm Bacillus
S11 có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn. Sau hai tuần sử dụng Bacillus
S11 làm thức ăn bổ sung cho tôm sú thấy tỷ lệ sống đạt 89%, ao không sử dụng chỉ
đạt 85%. Khi tôm sú (Penaeus monodon) bị nhiễm vi khuẩn Vibrio harveyi, sử
dụng chế phẩm sinh học cho tỷ lệ sống là 40% so với 13% không sử dụng chế
phẩm.
Gullian và ctv. (2002) phân lập được 80 chủng vi khuẩn có trong gan tụy của
tôm tự nhiên khoẻ mạnh (30g/con) ở Manglaralto-Ecuador. Kết quả xác định ba
chủng vi khuẩn Vibrio P62, Vibrio P63 và Bacillus P64 có tác dụng ức chế chống
lại vi khuẩn Vibrio harveyi (S2). Tỷ lệ ức chế chống lại Vibrio harveyi đạt được các
giống P62, P63 và P64 là 54%, 19% và 34%. Wang và ctv. (2005) nghiên cứu xác
định hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm sinh học trong các ao nuôi tôm thẻ chân
trắng Penaeus tại Hải Nam, Trung Quốc. Kết quả cho thấy các chế phẩm sinh học
có thể cải thiện mật độ vi khuẩn có lợi, làm giảm nồng độ nitơ và phốt pho, và tăng
sản lượng tôm. Mật độ vi khuẩn Bacillus sp., vi khuẩn nitrat hoá, và vi khuẩn
khoáng hóa protein được tìm thấy là cao hơn đáng kể trong ao được thí nghiệm so
với ao đối chứng (P <0,05). Trong ao đối chứng, mật độ Vibrios trung bình lên đến
2,09 × 10
3
cfu / ml, trong khi đó chỉ là 4,37 x 10
2
cfu/mL trong ao thí nghiệm (P
<0,05). Sử dụng chế phẩm sinh học cũng tăng lên đáng kể hàm lượng hòa tan ôxy
(P <0,05) và giảm hàm lượng phốt pho, nitơ vô cơ tổng số và COD (nhu cầu ôxy
hóa học) (P <0,05). Năng suất trung bình 8.215 ± 265 kg / ha thu được trong ao
được thí nghiệm với tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) 1,13 ± 0,05 và tỷ lệ sống của
tôm 81,00 ± 6,25%; trong khi ao đối chứng đạt 4.985 ± 503 kg / ha, FCR 1,35 ±
0,12 và tỷ lệ sống 48,67 ± 3,51%. Kết quả đã chỉ ra rằng việc bổ sung các chế phẩm
17
CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, phạm vi, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu.
- Nước thải từ trại sản xuất giống nhân tạo cua biển (Scylla serata).
- Chế phẩm sinh học: chế phẩm Lymnozym
Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu được triển khai tại Trạm nghiên cứu thuỷ sản nước lợ -
Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc trong hệ thống sản xuất giống nhân
tạo cua xanh.
Địa điểm nghiên cứu:
Trạm nghiên cứu Thủy sản Nước lợ Hải Thành – Dương Kinh – Hải Phòng.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 4/2011 đến 9/2011.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.2.1. Phương pháp tiếp cận
Đánh giá chất lượng nước thải từ các trại sản xuất giống hải sản
Thông qua thu mẫu nước thải từ các trại sản xuất giống hải sản khu vực Hải
Phòng, tiến hành phân tích các thông số môi trường để đánh giá chất lượng nước
thải.
Thử nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý nước thải trại sản xuất giống
cua xanh trên bể kính.
Trên cơ sở phân tích tác dụng của các loại chế phẩm sinh học sử dụng trong
trại sản xuất giống thuỷ sản, lựa chọn loại chế phẩm vi sinh phù hợp để thực
nghiệm trong bể kính. Đánh giá hiệu quả xử lý môi trường của chế phẩm, kết quả
Trại sản xuất giống hải sản Bàng La – Đồ Sơn
18/4/2011
BL
Trại sản xuất giống hải sản Trung Hiếu – Đồ Sơn
18/4/2011
TH
Trại sản xuất giống Thái Thiên – Dương Kinh
18/4/2011
TT
+ Bảo quản mẫu: Mẫu được bảo quản trong chai
+ Các chỉ tiêu phân tích: pH, S‰, t
0
, NH
4
+
- N, NO
2
-
, NO
3
-
, BOD
5
, COD, Nts, Pts.
Thí nghiệm xử lý nƣớc thải trại sản xuất giống hải sản bằng phƣơng
pháp vi sinh trên quy mô bể kính.
- Địa điểm: Trạm Nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản Nước lợ - Dương Kinh –
Hải Phòng.
- Thời gian thí nghiệm: 05 ngày.
+ Thí nghiệm trong các bể kính có dung tích 40 lít (40 x 40 x 60) gồm có 04 bể
(03 bể sử dụng chế phẩm vi sinh Lymnozyme và 01 bể đối chứng không sử dụng
chế phẩm vi sinh).
+ Các bể thí nghiệm có hệ thống sục khí bằng đá bọt (01 viên/bể) nhằm duy trì
hàm lượng ôxy hoà tan > 5mg/l
- Quản lý chăm sóc thí nghiệm:
+ Chế phẩm sinh học Lymnozyme được hoà vào nước sạch trong thời gian 24h
trước khi sử dụng.
+ Thu và phân tích mẫu: Định kỳ 24h tiến hành thu mẫu 1 lần. Các chỉ tiêu
phân tích: pH, S
0
/
00
, t
0
, NH
4
+
- N, NO
2
-
, NO
3
-
, BOD
5
, COD, Nts, Pts.
Thực nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý nƣớc trại sản xuất giống
cua biển quy mô sản xuất.
Bố trí thí nghiệm