nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng vật liệu hấp thụ chọn lọc hơi hg từ than hoạt tính - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Cẩm Nhung
NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VÀ ĐẶC TRƯNG VẬT LIỆU HẤP PHỤ
CHỌN LỌC HƠI Hg TỪ THAN HOẠT TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Thị Cẩm Nhung


1.2.3. Công nghệ dùng tháp hấp phụ 16
1.3. Các loại vật liệu hấp phụ xử lý hơi thủy ngân 17
1.3.1. Các loại vật liệu từ than hoạt tính 18
1.3.2. Các vật liệu khác 25
Chương 2. THỰC NGHIỆM 36
2.1. Mục tiêu và nội dung thực nghiệm 36
2.2. Nguyên vật liệu, hóa chất 36
2.2.1. Nguyên vật liệu 36
2.2.2. Hóa chất 37
2.3. Thiết bị hấp phụ hơi thủy ngân 38
2.3.1. Cấu tạo thiết bị 38
2.3.2. Nguyên tắc vận hành 38
2.4. Biến tính than hoạt tính bằng các hợp chất chứa clorua 40
2.4.1. Biến tính than bằng dung dịch HCl 40
2.4.2. Biến tính than bằng dung dịch ZnCl
2
40
2.4.3. Biến tính than bằng dung dịch FeCl
3
40

iii

2.4.4. Biến tính than bằng dung dịch CuCl
2
41
2.5. Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ dòng khí mang đến nồng độ thủy ngân đầu
vào 41
2.6. Khảo sát các điều kiện biến tính than hoạt tính 42
2.6.1. Khảo sát hóa chất ngâm tẩm phù hợp 42

iv

3.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình biến tính than hoạt tính bằng
dung dịch CuCl
2
54
3.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch CuCl
2
đến khả năng hấp phụ hơi Hg của
than biến tính 54
3.3.2. Ảnh hưởng của pH đến quá trình biến tính than hoạt tính bằng dung dịch
CuCl
2
1,0M 56
3.3.3. Ảnh hưởng của thời gian ngâm tẩm đến quá trình biến tính than hoạt tính
bằng dung dịch CuCl
2
1,0M ở pH=3 57
3.4. Xác định dung lượng hấp phụ cực đại của vật liệu 58
3.5. Đặc trưng của vật liệu được xác định dựa trên dữ liệu phổ SEM, IR, BET và
EDS 60
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC v

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hằng số bền của phức chất [HgX

Bảng 3.3 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng các
dung dịch HCl ở các nồng độ khác nhau sau 4 giờ chạy phản ứng 51
Bảng 3.4 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng các
dung dịch ZnCl
2
ở các nồng độ khác nhau sau 4 giờ chạy phản ứng 52
Bảng 3.5 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng các
dung dịch CuCl
2
ở các nồng độ khác nhau sau 4 giờ chạy phản ứng 52
Bảng 3.6 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng các
dung dịch FeCl
3
ở các nồng độ khác nhau sau 4 giờ chạy phản ứng 53
Bảng 3.7 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
ở các nồng độ khác nhau sau thời gian chạy phản ứng 4 giờ 55

vi

Bảng 3.8 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
1,0M ở các pH khác nhau sau 4 giờ chạy phản ứng 56
Bảng 3.9 Dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
1,0M, pH=3 ở các thời gian ngâm tẩm khác nhau sau 4 giờ chạy phản
ứng 57

Hình 2.1b Thiết bị hấp phụ hơi thủy ngân thực nghiệm 39
Hình 3.1 Biểu đồ về dung lượng hấp phụ hơi thủy ngân của các vật liệu 54
Hình 3.2 Biểu đồ về dung lượng hấp phụ của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
ở các nồng độ khác nhau 55
Hình 3.3 Biểu đồ về dung lượng hấp phụ của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
1,0M ở các pH khác nhau 56
Hình 3.4 Biểu đồ về dung lượng hấp phụ của than hoạt tính biến tính bằng dung
dịch CuCl
2
1,0M, pH=3, ở các thời gian ngâm tẩm khác nhau 58
Hình 3.5 Đường hấp phụ của than hoạt tính biến tính bằng dung dịch CuCl
2
1,0M,
pH=3, 7 giờ 59
Hình 3.6 Ảnh SEM của than hoạt tính 60
Hình 3.7 Ảnh SEM của than hoạt tính biến tính bằng dung dịch CuCl
2
1,0M, pH=3,
7 giờ 61
Hình 3.8 Phổ hồng ngoại của than hoạt tính 61
Hình 3.9 Phổ hồng ngoại của than hoạt tính biến tính bằng dung dịch CuCl
2
1,0M,
pH=3, 7 giờ 62
Hình 3.10 Phổ EDS của than hoạt tính 64


năm, khoảng 1/3 lượng này có nguồn gốc từ các nhà máy than nhiệt điện của Mỹ,
than của Trung Quốc có hàm lượng thủy ngân cao nên thông qua hoạt động của các
nhà máy than nhiệt điện có thể phát thải đến khoảng 1/2 lượng thủy ngân này. Các
hoạt động khác như: các lò đốt rác thải nguy hại, các lò đốt rác thải bệnh viện, các
cơ sở luyện kim và luyện thép… cũng phát thải một lượng lớn thủy ngân. Do đó,
việc kiểm soát tốt thủy ngân ngay tại nguồn phát thải là một vấn đề cấp thiết. Các
biện pháp để kiểm soát phát thải thủy ngân, đặc biệt là kiểm soát hơi thủy ngân đã
được nghiên cứu và ứng dụng trong phạm vi phòng thí nghiệm cũng như trên thực
tế. Trong quá trình này, nhiều loại vật liệu đã được nghiên cứu và ứng dụng về khả
năng hấp phụ hơi thủy ngân để loại bỏ nó khỏi dòng khí thải của các nhà máy. Than
hoạt tính là một trong những loại vật liệu đã được nghiên cứu nhiều do có khả năng
bắt giữ tốt hơi thủy ngân với chi phí phù hợp. Nhược điểm của than hoạt tính là
thủy ngân đã được hấp phụ có thể phát tán lại môi trường khi các điều kiện xử lý
thay đổi. Do vậy, người ta thường biến tính bề mặt than hoạt tính nhằm tăng cường
2

khả năng liên kết, lưu giữ thủy ngân trên than hoạt tính. Có nhiều phương pháp xử
lý bề mặt than, trong đó gắn kết với các hợp chất halogenua được ứng dụng nhiều.
Trong đề tài “Nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng vật liệu hấp phụ chọn lọc
hơi Hg từ than hoạt tính”, chúng tôi sử dụng nguồn than hoạt tính có sẵn trong
nước (Than hoạt tính Trà Bắc – Trà Vinh) và tiến hành ngâm tẩm với các hợp chất
clorua để thu được vật liệu có khả năng hấp phụ tốt hơi thủy ngân. Từ thực tế đó,
đánh giá vật liệu để xem xét chi phí khi sử dụng vật liệu cho các quá trình xử lý hơi
thủy ngân trong nước.

electron nên electron hóa trị của nó chỉ là các electron s và chúng có các trạng thái
oxy hóa là 0, +1, +2, trong đó với trạng thái oxy hóa +1 thủy ngân nằm ở dạng ion
2
2
Hg
(-Hg-Hg-). Xác suất tạo thành hai trạng thái oxy hóa +1 và +2 là gần tương
đương nhau về mặt nhiệt động học, nhưng người ta hay tìm thấy các hợp chất trong
đó thủy ngân có số oxy hóa là +2.

Hình 1.1 Thủy ngân kim loại ở nhiệt độ
phòng

Hình 1.2 Khoáng Cinnabar chứa thủy
ngân
a) Tính chất vật lý [6]
Thủy ngân là kim loại màu trắng bạc (Hình 1.1), nhưng trong không khí ẩm
chúng dần dần bị bao phủ bởi màng oxit nên mất ánh kim. Trong thiên nhiên, thủy
ngân có 7 đồng vị bền, trong đó
200
Hg chiếm 23,3% và
202
Hg chiếm 29,6%. Thủy
ngân là chất lỏng ở nhiệt độ thường, đồng thời là kim loại nặng ở trạng thái lỏng (có
4

tỷ khối lớn, d=13,55 g/cm
3
) nên được dùng trong nhiệt kế, áp kế, phù kế và bơm
chân không cao.
Thủy ngân kim loại có đặc điểm: mềm, nhiệt độ nóng chảy thấp -38,86˚C,

3
, H
2
SO
4

đặc.
   
   
3 3 2 2
2
3 3 2
2
4 2 2 1
3 8 3 2 4 2
đ
l
Hg HNO Hg NO NO H O
Hg HNO Hg NO NO H O
   
   

5

Nếu trong phản ứng các phản ứng này mà người ta sử dụng dư thủy ngân thì sản
phẩm của phản ứng có chứa thủy ngân (I) (ở dạng Hg
2
2+
).
   

2
I
2
kém bền với nhiệt, còn các
halogenua còn lại có thể thăng hoa mà không bị phân hủy.
Khi tác dụng với dung dịch NH
3
, Hg
2
Cl
2
tạo nên một sản phẩm ít tan màu
đen bao gồm kết tủa HgNH
2
Cl màu trắng trộn lẫn với các hạt Hg rất bé màu đen, nó
có tên là calomen nghĩa là có màu đen đẹp (calos là đẹp, melos là đen theo tiếng Hy
Lạp). Trong điện hóa học, người ta dùng Hg
2
Cl
2
để điều chế điện cực calomen, đây
là loại điện cực so sánh được dùng khá phổ biến. Điện cực đó làm bằng thủy ngân,
bên trên có phủ một lớp bột nhão gồm có calomen và thủy ngân, tiếp xúc với dung
dịch KCl bão hòa. Ở 25ºC điện cực này có giá trị thế khử chuẩn là 0,246 V.
 Thủy ngân (II) oxit (HgO)
HgO là chất ở dạng tinh thể tà phương, hạt rất nhỏ có màu vàng, hạt to hơn
có màu đỏ. Nó rất ít tan trong nước, dễ tan trong dung dịch axit nhưng không tan
trong dung dịch kiềm mạnh. Khi nó tác dụng với dung dịch NH
3
tạo nên hợp chất ít

4
] trong kiềm).
 
 
4 3 2 2 2
2 3 . 7 2 5
nâu
K HgI KOH NH Hg NI H O KI H O     

HgO tồn tại ở dạng khoáng vật hiếm Montroidite, dùng để điều chế các hợp
chất khác của thủy ngân, chế sơn vỏ tàu biển, thuốc mỡ và pin thủy ngân.
6

 Muối của thủy ngân (II)
Sơ đồ thế oxy hóa khử:

Từ giản đồ ta thấy muối của thủy ngân (II) có tính oxy hóa mạnh, tác dụng
với nhiều chất khử, giai đoạn đầu cho muối của thủy ngân (I) sau đó mới biến thành
thủy ngân (0).
Thủy ngân (II) sunfua (HgS) là chất dạng tinh thể có màu đỏ hoặc đen. Thủy
ngân (II) suafua màu đỏ tồn tại ở dạng khoáng vật Cinnabar có màu đỏ (Hình 1.2).
Còn khi nghiền lưu huỳnh với thủy ngân hoặc sục khí H
2
S vào dung dịch muối thủy
ngân (II) chúng ta thu được thủy ngân (II) sunfua màu đen.
 Phức chất của thủy ngân (II) [1, 6]
Ion Hg
2+
tạo nên nhiều phức chất bền, phức có dạng [HgX
4

4
]
2-
[Hg(SCN)
4
]
2-
[Hg(NH
3
)
4
]
2+
Hằng
số
bền,
K
b

1,66x10
15

4,4x10
21

1,5x10
30

9,3x10
38

Hg
2
NI.H
2
O theo phương trình (5).
7

* Muối phức amoni tetratioxianatmecurat ((NH
4
)
2
[Hg(SCN)
4
]) được dùng
để phát hiện ion Cu
2+
và ion Co
2+
khi có mặt của ion Zn
2+
lần lượt tạo các kết tủa
màu tím thẫm và màu chàm thẫm, theo các phản ứng sau:

2+
+ 
2+
+ 2




2+
+ 2





4

2






4

. 





4



7



+ Etyl clorua thủy ngân:
ClHgHC 
52

Các hợp chất cơ thủy ngân thường dùng để ngâm hạt giống và khi trồng chúng thì
các hợp chất này sẽ được phân tán rộng trên mặt đất. Từ đó thủy ngân được chuyển
đến thực vật, động vật và cuối cùng chuyển vào chuỗi thức ăn của người.
Như vậy, thủy ngân xâm nhập vào môi trường chủ yếu do các hoạt động của
con người. Thủy ngân được rửa trôi vào các nguồn nước, và nó được tích tụ dần
trong các lớp trầm tích dưới đáy nước. Đồng thời, nhờ cân bằng động giữa hấp phụ
và giải hấp, một lượng thủy ngân lại đi vào nước. Do vậy, sự nhiễm bẩn thủy ngân
trong môi trường nước mang tính thường xuyên và lâu dài. Hằng năm, nguồn thủy
ngân tự nhiên bổ sung vào đại dương khoảng 5000 tấn; và cũng một lượng thủy
ngân như vậy, thông qua các hoạt động của con người được đưa vào môi trường.
Thủy ngân là một kim loại gây độc mạnh. Vào những năm 1953-1960, tại
Nhật Bản có khoảng 111 trường hợp bị nhiễm độc nặng do ăn phải cá có nhiễm
thủy ngân ở vịnh Minamata. Nước thải của nhà máy hóa chất Minamata thải vào
vịnh và làm cá sống ở vịnh này bị nhiễm độc, trong cơ thể chúng chứa tới 27 – 102
ppm thủy ngân (dưới dạng metyl thủy ngân). Năm 1972, khoảng 450 nông dân Irac
đã chết do ăn phải loại lúa mạch bị nhiễm thủy ngân do nông dân sử dụng thuốc trừ
sâu có thủy ngân và còn tồn dư trong lúa mạch.
a) Độc tính của thủy ngân phụ thuộc vào dạng tồn tại của nó
* Thủy ngân kim loại ở trạng thái lỏng thì tương đối trơ và không độc. Nếu
chúng ta nuốt phải thủy ngân kim loại lỏng vào bụng thì nó lại được thải ra ngoài,
không gây độc hại.
* Thủy ngân kim loại ở trạng thái hơi thì rất độc. Khi chúng ta hít phải hơi
thủy ngân, nó sẽ được dẫn truyền lên não nhờ máu và gây phá hủy nghiêm trọng đối
với hệ thần kinh trung ương. Ngoài ra, nó cũng là nguyên ngân của các bệnh: ung
thư, rối loạn hô hấp, vô sinh.


2
+ 
2+





2

+ 2
+


8


Enzym hoạt động Enzym thụ động
Tuy nhiên, ion Hg
2+
không thể chui qua màng tế bào sinh học nên nó không thể
thâm nhập vào các tế bào sinh học.
Còn ion metyl thủy ngân (II) [(CH
3
Hg)
+
] thì cực kỳ độc; nó dễ tan vào các
mô mỡ, các thành phần chất béo của các màng bao quanh dây thần kinh và phần béo
của não tủy, sau đó đi vào hệ thần kinh và bắt đầu phá hủy. Đồng thời metyl thủy

+
. Trong
môi trường axit trung bình, dimetyl thủy ngân sẽ chuyển thành ion metyl thủy ngân
tan trong nước.
Như vậy, hai dạng tồn tại của thủy ngân gây độc mạnh: thủy ngân nguyên tố
dạng hơi và ion thủy ngân (II) (ở dạng ion metyl thủy ngân). Nồng độ tối đa cho
10

phép của ion thủy ngân (II) theo WHO trong nước uống là 1,0 µg/l, với nước nuôi
thủy sản là 0,5 µg/l.
1.1.3. Các nguồn phát thải thủy ngân
Hàm lượng thủy ngân phát thải vào sinh quyển ngày càng tăng, vừa do các
quá trình tự nhiên, vừa do các hoạt động của con người. Theo ước tính, từ các hoạt
động của mình con người đã phát thải khoảng 1000 – 6000 tấn thủy ngân hằng năm,
trong đó có khoảng 30-55% thủy ngân phát thải vào khí quyển trên phạm vi toàn
cầu. Năm 2004, phát thải thủy ngân ở Mỹ là 158 tấn/năm, còn ở Canada con số này
là 7,84 tấn/năm, [27, 33, 34, 52, 79].
Thủy ngân phát thải vào khí quyển chủ yếu từ quá trình than nhiệt điện; sản
xuất và xử lý bóng đèn huỳnh quang; sản xuất màn hình LCD của máy vi tính; quá
trình đốt chất thải rắn đô thị và bệnh viện; và từ nhiều quá trình công nghệ khác có
sử dụng thủy ngân (như làm catot trong quá trình sản xuất khí clo từ điện phân muối
ăn; sử dụng trong thiết bị ngắt và đo dòng điện; làm xúc tác; thuốc chống nấm mốc;
sản xuất pin…), [51, 72].
a) Các nhà máy than nhiệt điện
Năm 1999, theo thống kê của EPA (Environmental Protection Agency),
lượng thủy ngân phát thải vào không khí ở Mỹ qua các hoạt động (Hình 1.3): nhà
máy than nhiệt điện chiếm 31,0%, lò đốt chất thải nguy hại là 4,0%, lò đốt chất thải
bệnh viện là 11,0%, lò đốt chất thải đô thị là 18,5%, quá trình sản xuất khí clo là
5,6%, quá trình sản xuất xi măng là 3,0%, và các quá trình khác là 27,0%, [30, 71].
Trong mọi sinh hoạt hằng ngày, chúng ta sử dụng điện như một nhu cầu thiết

1,96 tấn thủy ngân, chiếm khoảng 25% tổng phát thải tại Canada từ các hoạt động
của con người, [23]. Hàm lượng thủy ngân trong than khoảng 0,1 – 0,15 mg/kg; khi
quá trình đốt than diễn ra, người ta đã xác định được hàm lượng thủy ngân trong khí
thải là 1 – 20 µg/m
3
(trong khí thải, thủy ngân tồn tại ở 3 dạng chính là: dạng
nguyên tố, dạng oxy hóa và dạng các hạt liên kết), [34, 75].
Đa số các mỏ than ở Châu Âu không còn trữ lượng dồi dào nữa nên hầu hết
các quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Ý đã dần chuyển sang việc dùng nguồn năng
lượng hạch nhân và do vậy nguồn than nhiệt điện chỉ còn chiếm từ 30 đến 40% nhu
12

cầu quốc gia. Ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, than nhiệt
điện vẫn còn chiếm đa số, nhưng các nước này đang có khuynh hướng sử dụng
nguồn thủy điện và hạch nhân. Riêng tại Việt Nam, thủy điện chiếm 60% và than
nhiệt điện chiếm 34% nhu cầu quốc gia. Theo thống kê năm 2002, Việt Nam đã tạo
ra 34,5 tỷ kWh từ than nhiệt điện, có trữ lượng than là 165 triệu tấn trong đó đại đa
số là than anthracite cho năng lượng và hiệu quả kinh tế cao. Theo ước tính vào năm
2030 toàn thế giới sẽ sử dụng khoảng 1440 GW, [9].
b) Bóng đèn compact
Các loại đèn huỳnh quang (đèn tuýt, đèn cao áp, đèn compact – Hình 1.4)
ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động của con người vì nó là nguồn
cung cấp ánh sáng hiệu quả và đặc biệt là tiết kiệm điện năng. Hiện nay ở Mỹ, 90%
lượng đèn huỳnh quang được sử dụng trong các hoạt động thương mại và công
nghiệp. Trong điều kiện thông thường, mỗi bóng đèn hoạt động khoảng từ 3 đến 4
năm, thiết kế vận hành cho thấy nó hoạt động khoảng 20000 giờ nhưng trên thực tế
nó chỉ hoạt động được 15000 giờ. Như vậy, với chính sách tiết kiệm điện năng cũng
như nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng, số lượng bóng đèn compact được sản xuất
ra ngày càng nhiều. Các tính toán cho thấy hằng năm người ta thường thay thế
khoảng 20% số bóng đèn sử dụng (không còn khả năng sử dụng). Trong những năm

1.2.1. Công nghệ tinh chế nguyên liệu đầu vào
Tinh chế than trước khi bắt đầu quá trình đốt là một lựa chọn để loại bỏ thủy
ngân ngay từ đầu vào. Khi dùng các tháp sục bọt, bể kết tụ, bể quay…, than được
loại bỏ dần thủy ngân cùng với một số nguyên tố vô cơ khác. Neme và cộng sự
14

nhận thấy, than đá của vùng Trung Tây sau khi được làm sạch bằng cách này đã loại
bỏ khoảng 0 – 26% thủy ngân. Lutrell và các cộng sự cũng thấy với cách làm đó,
hiệu suất loại bỏ thủy ngân đạt đến hơn 47%. Smit và các cộng sự khi dùng các tháp
sục bọt để rửa than đã thu được than sạch với lượng thủy ngân giảm khoảng 40 –
57%; khi họ dùng các bể kết tụ khối phù hợp, đã loại bỏ được khoảng 63 – 82%
thủy ngân. Nhiệt phân than và khí hóa than cũng được áp dụng để loại bỏ thủy ngân
khỏi than, trong đó khí hóa than cho hiệu quả tinh chế cao, [11, 17 – 19, 28, 49, 55,
57, 68, 70]
Tuy nhiên, công nghệ tinh chế than chỉ loại bỏ khoảng 70% thủy ngân khỏi
than và còn tùy thuộc vào từng loại than mà hiệu suất loại bỏ thủy ngân có thể thấp
hơn. Như vậy, than sau khi làm sạch thực hiện quá trình đốt than vẫn gây phát thải
thủy ngân, và người ta vẫn phải dùng thêm các công nghệ khác để bắt giữ thủy
ngân. Đồng thời, chi phí cho quá trình làm sạch than lại cao nên công nghệ này
không được sử dụng nhiều ở các nhà máy than nhiệt điện.
1.2.2. Công nghệ dùng tháp hấp thụ
Với công nghệ dùng tháp hấp thụ, người ta có thể dùng các tháp rửa khí thải
dạng khô và dạng ướt, [14, 31, 40, 42, 47, 56, 65, 67, 82].
Trong các tháp rửa khí thải dạng khô (phun các chất hấp thụ dạng khô),
người ta thường phun các hạt Ca(OH)
2
ẩm vào dòng khí thải và SO
2
được bắt giữ ở
dạng muối canxi sunfit hoặc canxi sunfat. Các tháp này hoạt động ở nhiệt độ thấp

O
7
, K
2
S
2
O
8
, NaClO
4
, NaClO
3
, Cl
2
, HgCl
2

15

Nene và Rane đã nghiên cứu sự hấp thụ của Hg
0
trong dung dịch NaClO và
HClO, trong đó HClO gây ảnh hưởng mạnh hơn NaClO. Sự loại bỏ Hg
0
bởi dung
dịch NaClO được tăng cường nhờ sự có mặt của NaClO
2
hoặc KClO
2
, và KClO gây

Hiệu suất loại bỏ thủy ngân (%)
10,1
34,5
53,1
Nồng độ của NaClO
2
(mmol/L)
1,0
5,0
10,0
Khi khảo sát ảnh hưởng của pH đến hiệu suất loại bỏ thủy ngân theo nồng độ
của NaClO
2
trong thời gian thực hiện sự hấp thụ là 60 phút, tốc độ dòng khí thổi
vào hệ là 1,0 lít/phút, kết quả cho bởi Bảng 1.3.
Bảng 1.3 Ảnh hưởng của pH đến sự loại bỏ hơi thủy ngân
Nồng độ của NaClO
2

(mmol/L)
Hiệu suất loại bỏ thủy ngân theo các pH khác nhau (%)
pH=2,99
pH=6,34
pH=11,12
5,0
85,5
60,3
4
10,0
89,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status