•
Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1. Chương trình Ngữ văn THCS từ năm học 2001 – 2002 được thực hiệntheo
Quyếtđịnh 03/ 2002 – BGD&ĐT ngày 24 tháng 1 năm 2002
của Bộ Giáo dụcvà Đào tạo. Một trong những nguyên tắc nổi bật nhất trong
chương trình Ngữ văn đổi mới kì này là việc học tuõn theo nguyên
tắc tích hợp và tích cực. Với nguyên tắc này, việc biên soạn sách giáo khoa
Ngữ văn đã có những đổi mớiđáng kể. Đólà 3 phõn môn Văn, Tiếng việt, Tập
làm văn được học song song, đồng bộ, cùngchung một cuốn sách, chung
một bài học. Mỗi bài học đều gồm 3 phõn môn.
Tuy nhiên, trên thực tế việc dạyphõn môn Tập làm văn trướcđõy
cũng nhưhiện nay chưa được giáo viên và học sinh thực sự coi trọng như 2 phõn
môn Văn và Tiếng Việt.
Xảy ra tình trạng trên có nhiều nguyên nhõn. Có nguyên nhõn chủ quan
củagiáo viên. Trên thực tế, không ít giáo viên kiến thức tập làm văn
nhất là tập làmvăn nghị luận cũn rất hạn chế, lúng túng. Cũng có giáo viên
nhận thức chưa thậtđồng đều giữa việc dạy 3 phõn môn, thường chỉ nghiên cứu sõu
về các giờ giảngvăn bản, cung cấp kiến thức Tiếng Việt. Có nguyên nhõn
khách quan. Ví như tõm lý học sinh chỉ thích nghe giảng văn,
làm bài tập Tiếng Việt mà không thích họcvăn, làm bài tập làm văn…
Trên thực tế chúng ta lại thấy : kết quả của một học sinh đối với môn
Ngữvăn lạiđược đánh giá bằngđiểm bài viết tập làm văn thường kì. Trong 5
bài kiểmtra lấyđiểm hệ số 2 có tới 3 bài viết tập làm văn 2 tiết hoặcở lớp 7 có 4 bài
thìcũng có 2 bài viết tập làm văn 2 tiết. Hay khi thi học kì hoặc thi THPT
phần viếttập làm văn cũng chiếm từ 40% - 50% số lượng bài viết bởi kết cấu đề thi
vầnthường gặp : 20% trắc nghiệm, 80% tự luận : trong đó : 30% cõu hỏi ngắn,
viếtđoạn, 50% bài tập làm văn. Chớnh vì thế, nhiều em học sinh nghe giảng văn
chăm chú, say mê học văn nhưng bài viết Tập làm văn điểm lại không cao.
Tìm hiểu chung về Nghị luận chứng minh
Tìm hiểu chung về Nghị luận giải thích
8
Trình bày luận điểm
Yếu tố biểu cảm trong văn Nghị luận
Yếu tố miêu tả, tự sự trong văn Nghị luận
9
Phép phân tích, tổng hợp
Nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống
Nghị luận về tư tưởng, đạo lý
Nghị luận về tác phẩm truyện
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
10
Lập dàn ý bài nghị luận
Lập luận trong văn nghị luận
Các thao tác nghị luận
Viết đoạn văn nghị luận
11 Nghị luận xã hội
Phân tích đề, lập dàn ý
Thao tác lập luận phân tích
Nghị luận văn học
Thao tác lập luận so sánh
2Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
Thao tác lập luận bác bỏ
Thao tác lập luận bình luận
kiểu văn khác trong chương trình Ngữ văn.
3Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
- Học sinh tự nhận biết về văn Nghị luận qua các văn
bảnđã học.
- Học sinh biết sử dụng Nghị luận vào trong đời sống,
bài viết, các tác phẩmthơ văn sẽ phải làm.
III. Giới hạn của đề tài :
1. Đề tài sẽ trình bày những hiểu biết về văn Nghị luận qua quá trình
tỡmtòi tham khảo và hệ thống bài tập mà chúng tôi đã sử dụng. Do dung
lượng củamột sang kiến kinh nghiệm, chúng tôi
chỉ trình bày cụ thể một số dạng trong hệthống.
2. Đối tượng chớnh của đề tài là học sinh lớp 7.
IV. Nội dung và cách trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm :
1. Nêu những kiến thức cơ bản về văn Nghị luận cóđưa ví dụ và phõn
tíchminh hoạ (qua thực tế giảng dạy).
2. Trình bày một số dạng bài mà chúng tôi đã sử dụng hiệu quả. Sau
mỗi bàitập, chúng tôi có trình bàyđịnh hướng, cách giải quyết.
3. Ứng dụng : Dạy trong giảng bài, giao bài tập về nhà, bài tập bổ trợ, nõng
cao.B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Những kiến thức và kinh nghiệm dạy văn Nghị luận :
1. Khái niệm văn Nghị luận :
“Nghị” theo cách giải thích nghĩa của yếu tố Hán Việt (sách Ngữ văn lớp7),
là “việc” nhưnghị sự, hội nghị (Hội họp để bàn việc)
các phương tiện thông tin đại chúng.
- Văn bản nghị luận hội nghị : Báo cáo chớnh trị,
báo cáo tham luận nhữngvấn đề chớnh trị, xó hội, lịch sử,
văn hoá, tư tưởng…
Trong nhà trường, luận vốn là một kiểu bài làm văn, ngày nay gọi là văn
nghị luận. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 2 có viết :
Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người
nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm
rõ ràng, có lý lẽ dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng, quan điểm của bài văn
nghị luận xác lập phải hướng tới giải quyết vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có
ý nghĩa.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản : nếu tự sự là kể lại việc; miêu
tảlàtái hiện sự vật, hiện tượng; biểu cảm là bộc lộ cảm xỳc;
thì nghị luận là bày tỏquan điểm của mình trước một vấn đề nàođó.
2. Đặc điểm của văn bản nghị luận :
5Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
Trong chương trình Ngữ văn lớp 7, học hai kiểu bài : Kĩ năng chung về văn
nghị luận(học sinh được học 3 tiết : Giới thiệu chung về văn nghị luận;
Đặcđiểmcủa văn nghị luận; Phương pháp làm bài văn nghị luận)
và Nghị luận chứng minh, giải thích. Đối với các bài cung cấp kĩ năng chung,
cần chúý nhữngđiểm sau :
a. Nắm chắc các kiến thức, khái niệm :
Đõy không phải là yêu cầu riêng của văn nghị luận đối với người giáo viên.
Có hiểu chắc kiến thức, khái niệm người giáo viên mới cóđược tư duy
mạch lạc đểhướng dẫn các em từng bước tỡm hiểu kiến thức.
Đối với một khái niệm khó, trừtượng như văn nghị luận, điều này càng đòi hỏi cao
giáo viên phải xõy dựng một hệ thống cõu hỏi mạch lạc, dễ hiểu để dẫndắt họcsinh
tỡm hiểu
9Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
chỉ là một cõu) mà không gộp thành mộtđoạn ?
(Nhấn mạnh và khuyến khíchđộng viên từng đối tượng, nhất là phụ nữ…).
- Lập luận trong văn nghị luận phải đạt yêu
cầu như thế nào ? (Chặt chẽ, khoa học).
c. Tích hợp :
Trong khi dạy có thểđan xen những cõu hỏi liên quan tới những văn
bảnđãhọc. Từđó, giúp học sinh hiểu them về các văn bản nghị luận trong
sách giáo khoa.
II. Yêu cầu của hệ thống bài tập :
Trờn cơ sở của những kiến thức trọng tõm của văn nghị luận giáo viên
thiếtkế hệ thống bài tập luyện.
Hệ thống bài tập phải đáp ứng yêu cầu cụ thể : các bài tập phải đi từ dễ đến
khó, từđơn giản đến phức tạp; có bài tập học sinh chỉ cần nắmđược khái niệm,
cóbài tập phải sáng tạo, có bài tập học sinh phải vận dụng nhiều kĩ năng
khác nhauđã học trong các kiểu văn trước.
Theo chúng tôi, phần văn nghị luận có các dạng bài tập sau :
- Nhận diện văn bản nghị luận.
- Bài tập phõn biệt.
- Bài tậpáp dụng.
- Bài tập sáng tạo.
III. Các bài tập cụ thể :
1. Bài tập 1 : Bài tập trắc nghiệm :
Hệ thống bài tập trắc nghiệmđược triển khai dưới nhiều dạng :
- Đoạn văn d làđoạn văn miêu tả vì sự việc mỗi lầnông tắm (thực ra
là tắmcho ông) được tác giả miêu tả lại, tái hiện lại rất sinh động. Bằng những quan
sátthực tế vừa hóm hỉnh, kết hợp với một tình cảm trõn trọng, một tấm lòng chõn
thực, tác giả đó tạo nên trước mắt ta “một bức tranh dõn gian vừa vui
vừa cảmđộng” như có nhà văn đã nhận xét.
5. Bài tập 5: Bài tập áp dụng kiến thức để học sinh có thể tỡm luậnđiểm, luận cứ,
lập luận :
Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lựng… không do dự vẩn vơ.
…Có chiếc gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho chậm tới cái giây
nằm phơi trên mặt đất……Có chiếc như sợ hãi, ngần ngại, rụt rè, còn cất mình muốn bay trở lại
cành…
18
môn áp dụng toàn khối thì tình trạngđãthay đổi hẳn.
- Học sinh thấy hứng thú hơn và hiểu rừ hơn.
- Học sinh nhận biết văn nghị luận dễ dàng,
có những cái rấtđơn giản trong
thực tế ví dụ như một lời khẳngđịnh của mình cũng có thể
coi là nghịluận…
- Đặc biệt là kết quảđược thể hiện qua kiểm tra tôi đã khảo
sát. Tỷ lệ cụ thểnhư sau :
Năm học 2007 – 2008 :
Tỷ lệ
Thời gian, lớp
Dưới
TB
Trung
bình
Khá Giỏi Ghi chú
Khi chưa áp dụng
7A 27.3% 45.4% 27.3% 0% Thời gian
kiểm tra
tháng 3/
2008
7D 6.25% 25% 56.25% 12.5%
Khi đó áp dụng
7A 12.1% 36.4% 45.5% 6%
7D 0% 15.6% 59.4% 25%
Năm học 2009 – 2010 :
Tỷ lệ
Thời gian, lớp
Dưới
1. Chương trình Tập làm văn nghị luận lớp 7 nhằm đạt yêu cầu cung cấp
những nội dung cơ bản nhất về văn nghị luận bao gồm : Khái niệm, đặc điểm,
phương pháp làm bài nghị luận. Ngoài ra, dạy văn nghị luận ở lớp 7 nói riêng,
trong nhà trường nói chung, giáo viên còn phải rèn cho các em nghị luận trong
cuộc sống, biết bày tỏ quan điểm, bảo vệ quan điểm dựa trên những lý lẽ, chứng cớ
thuyết phục, biết tổ chức sắp xếp nội dung trình bày… mà thực chất là những hiểu
biết của các em trong cuộc sống. Nghị luận sẽ giúp các em có bản lĩnh, tự tin trong
học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
2. Cũng không ít các ý kiến cho rằng : dạy văn nghị luận ở lớp 7 là sớm và
khó đối với học sinh. Tuy nhiên với tôi, mặc dù cũng mới giảng dạy nhưng năm
nào cũng được phân công dạy văn lớp 6 và lớp 7 nên khi giảng bài “Đặc điểm văn
nghị luận” (Ngữ văn 7 - Tập 2) tại hai trường THCS Yên Sở (đơn vị công tác cũ)
và trường THCS Tây Mỗ (đơn vị công tác hiện nay). Với những phương pháp nêu
trên, tôi thấy kết quả các em học sinh nắm tương đối rõ về văn nghị luận ở những
khái niệm ban đầu, học sinh thấy được cái hay, cái đẹp, cái cần thiết của yếu tố
nghị luận trong văn chương và trong cuộc sống, các em đã bắt đầu thích tranh luận,
thích bảo vệ ý kiến riêng của mình tuy ý kiến đó mới chỉ dừng ở mức độ những
đánh giá, những nhận xét.Sau đó lạiđượcáp dụng hệ thống bài tập nên họcsinh
hiểu hơn rất nhiều về văn nghị luận trong đời sống cũng như trong các văn
bản phần văn họcđược học.
25Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ
Và tôi cũng rút ra được một điều : muốn dạy tốt phần Tập làm văn nghị luận
với đối tượng học sinh lớp 7, người giáo viên phải nắm chắc kiến thức, trình bày
kiến thức một cách mạch lạc, lô – gớc, cô đọng nhất đúng như bản chất của nghị
luận. Phải tìm
Nguyễn Thuý HườngTHCS Tây Mỗ