hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hoá ở việt nam - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ PHẠM ĐÌNH VŨ HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ
PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ MINH NGHĨA
LUẬN VĂN ThS. KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
HÀ NỘI 2006
126

1.3.1. ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở PHÁP 41 127
1.3.2. ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG
QUỐC 43
1.3.3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 44
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÁC PHƯƠNG
PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG
QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM 46
2.1. CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 46
2.1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI THỰC HIỆN CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 46
2.1.1.1 VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG CỦA KHU VỰC KINH TẾ
NHÀ NƯỚC 46
2.1.1.2 TÁC DỤNG CỦA CỔ PHẦN HOÁ 48
2.1.2 KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 49
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÁC ĐỊNH GÍA TRỊ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ Ở VIỆT
NAM 56
2.2.1 QUY TRÌNH ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 56
2.2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH
NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (THEO CÁC VĂN
BẢN PHÁP QUY HIỆN HÀNH) 57
2.2.2.1. PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN 57
2.2.2.2. PHƯƠNG PHÁP DÒNG TIỀN CHIẾT KHẤU 60
2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ
TRỊ DOANH NGHIỆP ĐÃ SỬ DỤNG TRÊN CÁC VĂN BẢN PHÁP
QUY CỦA NHÀ NƯỚC THỜI GIAN QUA.(NGHỊ 63

3.2.1. CẦN PHẢI CÓ MỘT HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LÝ
HOÀN CHỈNH 85
3.2.2 CẦN PHẢI CÓ CÁC ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ CHO VIỆC TỔ
CHỨC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP PHỤC VỤ MỤC
ĐÍCH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 87
3.2.3. CẦN NÂNG CAO TÍNH CÔNG KHAI, MINH BẠCH THEO
NGUYÊN TẮC THỊ TRUỜNG 87
3.3. GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH
GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 88 129
3.3.1. NHẬN THỨC RÕ VÀ ĐÚNG VỀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
88
3.3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XÁC
ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HOÁ Ở
VIỆT NAM 89
3.3.2.1. HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN 89
3.3.2.2. HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP DÒNG TIỀN CHIẾT
KHẤU 96
3.3.2.3.MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHỤ TRỢ 109
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ
TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM 114
3.4.1. VỚI NHÀ NƯỚC 114
3.4.1.1. TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP
LÝ VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ CÁC VẤN ĐỀ
CÓ LIÊN QUAN 114
3.4.1.2. ĐƠN GIẢN HÓA THỦ TỤC TRONG QUY TRÌNH XÁC
ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 116
1
MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc đƣợc xem là một trong những giải
pháp chủ yếu có tính đột phá về chất, một chủ truơng đúng đắn của Đảng và
Nhà nƣớc trong tiến trình đổi mới cải cách DNNN, hội nhập và phát triển. Để
tiến trình cổ phần hoá DNNN đƣợc diễn ra nhanh, mạnh và vững chắc đòi hỏi
phải có sự phối kết hợp của nhiều yếu tố trong đó yếu tố xác định giá trị doanh
nghiệp giữ vị trí đặc biệt quan trọng.

- Ths. Trần Việt Đức, Ths. Nguyễn Quốc Hoàng; “Xác định giá trị doanh
nghiệp kết quả thực tế và những bài học kinh nghiệm” - Trung tâm thẩm định
giá Miền Nam; “ Hoàn thiện phƣơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp trong
cổ phần hoá và chuyển đổi DNNN ở Việt Nam”- Ths. Trần Việt Anh, Ths. Đào
Nguyên Hƣơng …Tuy nhiên vấn đề định giá doanh nghiệp là vấn đề luôn
mang tính thời sự và chƣa bao giờ cũ, việc hoàn thiện phƣơng pháp xác định
giá trị doanh nghiệp vẫn là một yêu cầu bức thiết đặt ra cho nƣớc ta trong quá
trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nƣớc hiện nay.
Mặt khác, ở mỗi giác độ khác nhau thì mỗi tác giả sẽ có những cách tiếp
cận vấn đề không giống nhau, từ đó sẽ hình thành nên những quan điểm khác
nhau về cùng một vấn đề. Vì thế, việc nghiên cứu, khảo sát để dần hoàn thiện
phƣơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp vẫn cần đƣợc tiếp tục.

3- Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
* Với định hƣớng đã nêu, luận văn theo đuổi các mục tiêu sau đây:
- Thông qua khảo sát thực tiễn về hoạt động xác định giá trị doanh
nghiệp, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phƣơng pháp xác định giá
trị doanh nghiệp vừa có tính khả thi, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt
Nam nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng định giá doanh nghiệp.
- Đƣa ra những khuyến nghị với Chính phủ nhằm bổ sung những điểm
chƣa phù hợp trong hệ thống các văn bản pháp lý về xác định giá trị doanh
nghiệp, đồng thời tạo môi trƣờng thuận lợi cho hoạt động xác định giá trị
DNNN trong quá trình CPH ở Việt Nam.
- Góp phần hoàn thiện hệ thống kiến thức về quản trị doanh nghiệp nói
chung và quản trị tài chính doanh nghiệp nói riêng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn có liên quan đến vấn đề
xác định giá trị doanh nghiệp.
Trên quan điểm hệ thống và toàn diện, luận văn nghiên cứu hoạt động
xác định giá trị doanh nghiệp trong mối quan hệ biện chứng với tổng thể các
hoạt động, các ngành kinh tế khác. 4

6- Những đóng góp của luận văn.
-Hệ thống hoá cơ sở lý luận có liên quan đến vấn đề xác định giá trị
doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh gía thực trạng hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp
trong giai đoạn hiện nay, từ đó chỉ rõ những ƣu, nhƣợc điểm của các phƣơng
pháp định giá đang đƣợc áp dụng ở Việt Nam.
- Làm rõ một số nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng định giá doanh
nghiệp, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phƣơng pháp xác định giá trị
doanh nghiệp nhà nƣớc trong tiến trình cổ phần hoá ở Việt Nam

7- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục
đính kèm, luận văn gôm 3 chƣơng sau:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp
nhà nước trong quá trình cổ phần hoá
- Chương 2: Thực trạng công tác xác định giá trị doanh nghiệp Nhà
nước trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam
- Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện phương pháp xác định
giá trị doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam.


thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Ở nƣớc Anh, ngay từ năm 1956 khi thành lập Uỷ ban đặc biệt về quốc
hữu hóa công nghiệp đã quy định DNNN phải có đủ 3 điều kiện sau: Một là,
hội đồng quản trị doanh nghiệp do Chính phủ bổ nhiệm; Hai là, Uỷ ban quốc
hữu hóa công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp; Ba là,
thu nhập của doanh nghiệp phần lớn không dựa vào sự cung cấp của quốc hội
hoặc cơ quan tài chính nhà nƣớc.
Ở nƣớc Pháp, DNNN đƣợc xác định là những doanh nghiệp thỏa mãn đủ
3 điều kiện: Một là, tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ đó
chính phủ xác lập đƣợc địa vị lãnh đạo của nhà nƣớc đối với doanh nghiệp; Hai
là, có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là địa vị của nó trong quá trình kinh tế
giống nhƣ các doanh nghiệp pháp nhân khác; Ba là, thực hiện các hoạt động
công thƣơng độc lập, quy định nó là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi chứ
không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ. 6
Các tổ chức quốc tế nhƣ Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ
quốc tế đã đƣa ra 3 đặc điểm chính của DNNN là: Một là, chính phủ là cổ đông
chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không thì chính phủ có thể thực hiện việc
kiểm soát những chính sách chung mà doanh nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm
hoặc cách chức ban quản lý doanh nghiệp; Hai là, doanh nghiệp có nhiệm vụ
sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các doanh
nghiệp tƣ nhân, DNNN khác. Ba là, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thu
chi trong hoạt động về sản xuất kinh doanh.
* Đặc điểm của DNNN:
Từ những nội dung trên, chúng ta có thể thấy DNNN có những điểm
chung là: Nhà nước sở hữu phần lớn vốn của doanh nghiệp, nhờ đó có thể gây
ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp;
Các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân; Nguồn

tiêu xã hội. Một hệ quả khác của quyền sở hữu nhà nƣớc là chủ thể sở hữu
không có mối liên hệ lợi ích bao nhiêu đối với sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp. Không những thế, các DNNN vẫn đƣợc hƣởng những ƣu đãi, có
đƣợc những thế mạnh từ phía nhà nƣớc hỗ trợ. Do đó, DNNN dễ dựa dẫm vào
nhà nƣớc, không nỗ lực tự vƣợt qua khó khăn. Điều này cũng dẫn đến sự kém
hiệu quả trong hoạt động của DNNN.
* Vai trò của DNNN:
Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở mỗi nƣớc trên thế giới đều do
những nguyên nhân kinh tế, xã hội nhất định chi phối. Do đó, vai trò của bộ
phận này đối với các nền kinh tế các nƣớc cũng khác nhau. Tuy mang những
đặc trƣng riêng nhƣng DNNN luôn có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế
của mỗi nƣớc, cụ thể là:
- Thứ nhất, DNNN là một trong những thực lực quan trọng của nền kinh
tế.
Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh, các nƣớc trên thế giới đều đã
duy trì, phát triển loại hình DNNN. Đây là một bộ phận đóng góp quan trọng
trong tổng thu nhập quốc dân và thu ngân sách nhà nƣớc ở mỗi quốc gia. Ở mỗi
quốc gia, trong mỗi thời kỳ khác nhau, vai trò này có những sự chuyển đổi
không giống nhau.
Thứ hai, DNNN là công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc thực hiện chức năng
điều tiết nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, do sự tác động của bàn tay vô hình đã tạo
ra nhiều khuyết tật cho nền kinh tế, lợi ích của các doanh nghiệp luôn khác
nhau và không phải luôn hoàn toàn thống nhất với lợi ích của toàn xã hội. Do 8
vậy, nếu không đƣợc điều chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp sẽ tự
vận động và phát triển theo từng xu hƣớng riêng vốn có của mình, điều đó sẽ
làm cho nền kinh tế phát triển theo hƣớng mất cân đối, dễ dẫn đến sự khủng


9
làm nền móng, làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc.

1.1.2- Sự cần thiết xác định giá trị doanh nghiệp
1.1.2.1. Giá trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1.1. Các khái niệm cơ bản
* Doanh nghiệp và giá trị của nó
Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế đồng thời cũng là một loại hàng
hoá cho dù nó có những nét đặc thù: nó sản xuất ra của cải và cung cấp dịch vụ.
Doanh nghiệp có điều lệ hoạt động mang tính pháp lý, nó cấu thành một địa vị
ƣu đãi cho việc cụ thể hoá các quan hệ kinh tế, xã hội. Việc đánh giá về mặt tài
chính có quan hệ tới doanh nghiệp nhƣ là vật trao đổi giữa ngƣời mua và ngƣời
bán dựa trên một thị trƣờng có tổ chức - Thị trƣờng chứng khoán. Giá trị của
doanh nghiệp ngoài việc đƣợc xác định dựa trên cơ sở những tài sản mà nó hiện
có còn tuỳ thuộc vào khả năng sinh lợi của nó trong tƣơng lai thông qua hoạt
động sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ. Một doanh nghiệp có thể có tài
sản hiện tại là rất nhỏ nhƣng ngƣời mua (các nhà đầu tƣ) vẫn có thể sẵn sàng trả
giá cao nếu doanh nghiệp đó có thể mang lại cho họ những khoản thu nhập hấp
dẫn trong tƣơng lai. Ngƣợc lại, một doanh nghiệp có thể có khối lƣợng tài sản
lớn ở hiện tại nhƣng cũng khó có thể gây sự chú ý tới các nhà đầu tƣ nếu triển
vọng hoạt động của nó trong tƣơng lai là u ám, trừ trƣờng hợp các nhà đầu tƣ
mua doanh nghiệp với mục đích “mua đi bán lại” nhằm hƣởng chênh lệch giá.
Việc đánh giá doanh nghiệp liên quan đến nhiều thời điểm khác nhau
của chính đời sống doanh nghiệp : từ ngày đầu thành lập cho tới ngày thanh lý,
giải thể, phá sản doanh nghiệp. Việc xác định giá trị doanh nghiệp thƣờng đƣợc
tiến hành vào thời điểm có sự chuyển nhƣợng quyền sở hữu của một doanh
nghiệp đang hoạt động. Trong một vài trƣờng hợp, việc đánh giá có thể chỉ liên
quan tới một bộ phận của doanh nghiệp với điều kiện bộ phận đó có thể đƣợc

nghiệp đó mang lại trong tƣơng lai.
*Giá trị lợi thế thƣơng mại (goodwill)
Khi giá trị cuối cùng hay giá tiền khác với giá trị tài sản hữu hình đã
đƣợc kiểm kê thì chính là vì còn phải kể đến sự đánh giá các yếu tố vô hình.
Các yếu tố vô hình này tập trung lại thành khái niệm “Lợi thế thƣơng mại”.
Theo đó, doanh nghiệp là một tổng thể vô cùng phức tạp của các yếu tố góp
phần tạo nên sự thành công mà không có cách nào kiểm kê, đánh giá từng yếu
tố một cách rõ ràng và riêng biệt. 11
Giá trị của các yếu tố vô hình thƣờng đƣợc xác định nhƣ là hiệu số giữa
giá trị kiểm kê và giá trị kinh tế, hoặc nhƣ là việc vốn hoá một phần lợi nhuận.
1.1.2.1.2. Khái niệm giá trị doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp đƣợc coi nhƣ một loại hàng
hoá, nó cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Tuy nhiên doanh
nghiệp lại là một loại hàng hoá đặc biệt vì doanh nghiệp là một hệ thống phức
tạp của nhiều yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố đó. Có những
yếu tố vật chất nhƣ các tài sản hữu hình song cũng có những yếu tố phi vật chất
nhƣ tài sản vô hình. Giá trị của các yếu tố cấu thành tài sản của doanh nghiệp
lại luôn thay đổi theo thời gian. Nhìn chung, giá trị doanh nghiệp bao gồm 3 bộ
phận chính: Giá trị tài sản hữu hình của doanh nghiệp; giá trị quyền sử dụng
đất; giá trị lợi thế thƣơng mại.
Mặc dù đƣợc coi nhƣ một loại hàng hoá nhƣng không phải bất cứ ai có
tiền cũng có thể mua đƣợc doanh nghiệp, bởi lẽ doanh nghiệp không phải là
một hàng hoá thông thƣờng mà là một hệ thống phức tạp của nhiều yếu tố cấu
thành và có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Vì vậy, việc xác định giá trị và giá trị
trao đổi của nó phức tạp hơn nhiều so với các hàng hoá khác. Khi nhìn nhận giá
trị doanh nghiệp dƣới góc độ này, cần chú ý tới một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Doanh nghiệp là một tổ chức, một thực thể hoạt động chứ

các khoản lợi nhuận kỳ vọng trong tƣơng lai. Chính vì vậy, giá trị của một
doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các khoản thu nhập kỳ vọng và độ lớn
của giá trị doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào độ lớn của các khoản thu nhập kỳ
vọng đó.
Từ các nhận xét trên, có thể thấy rằng: Doanh nghiệp là một hàng hoá
đặc biệt, vì vậy giá trị của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền của các khoản
thu nhập mà doanh nghiệp đó mang lại cho các nhà đầu tƣ trong suốt quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở các tài sản hiện có của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Xác định gía trị doanh nghiệp là gì?
Để có một quan điểm đầy đủ và chính thức về xác định giá trị doanh
nghiệp cần đƣa ra một số nhận định cơ bản sau đây:
+ Thứ nhất: Giá trị doanh nghiệp là một khái niệm cơ bản khác với giá
bán của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Giá trị của doanh nghiệp đƣợc đo bằng
độ lớn của các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể đem lại cho các nhà đầu
tƣ. Giá bán thực tế của doanh nghiệp là mức giá đƣợc hình thành trên thị
trƣờng, có thể có khoảng cách rất xa so với đánh giá của các chuyên gia kinh tế
và các nhà đầu tƣ. Giá mua bán của doanh nghiệp còn chịu sự tác động của các 13
yếu tố về cung cầu “hàng hoá doanh nghiệp” , cung cầu về chứng khoán và
cung cầu về tiền tệ trên thị trƣờng.
+ Thứ hai: Giá trị doanh nghiệp luôn tồn tại ngay cả khi không có sự
mua bán, chuyển nhƣợng hay chuyển đổi hình thức sở hữu. Giá trị doanh
nghiệp không chỉ đơn giản là một khái niệm đƣợc các nhà đầu tƣ, các chuyên
gia sử dụng trong việc đánh giá tổng thể các khoản thu nhập mà doanh nghiệp
có thể mang lại mà còn bao gồm cả các tài sản hữu hình và vô hình mà doanh
nghiệp hiện có. Để xác định giá trị doanh nghiệp thƣờng đòi hỏi phải có các
chuyên gia trong lĩnh vực thẩm định giá trị. Đó là một điều kiện cần thiết để
đảm bảo tính trung thực, vô tƣ, khách quan, hạn chế sự chi phối của yếu tố thị

gia tăng một cách nhanh chóng tiềm lực tài chính, tăng cƣờng khả năng tồn tại
và phát triển trong môi trƣờng tự do cạnh tranh đối với các doanh nghiệp. Để
thực hiện các giao dịch đó, đòi hỏi phải có sự đánh giá trên một phạm vi rộng
lớn các yếu tố tác động tới doanh nghiệp, trong đó giá trị doanh nghiệp là một
yếu tố có tính quyết định, là căn cứ trực tiếp để các bên thoả thuận với nhau
trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp.
- Giá trị doanh nghiệp là căn cứ để đƣa ra các quyết định về sản xuất
kinh doanh, đầu tƣ.
- Giá trị doanh nghiệp phản ánh hình ảnh của doanh nghiệp trên thị
trƣờng, thu hút các nhà đầu tƣ.
- Giá trị của doanh nghiệp là cơ sở để đánh giá năng lực lãnh đạo của
ngƣời đứng đầu doanh nghiệp. Nội dung cốt lõi của quản trị tài chính doanh
nghiệp là tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp càng lớn
càng chứng tỏ năng lực lãnh đạo của các nhà quản trị là tốt và ngƣợc lại. Vì
vậy, việc xác định giá trị doanh nghiệp một cách thƣờng xuyên, định kỳ sẽ là cơ
sở quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động quản trị doanh nghiệp nói chung
và quản trị tài chính nói chung trong các doanh nghiệp.
- Giá trị doanh nghiệp cung cấp thông tin cho Nhà nƣớc trong quá trình
hoạch định chính sách điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Từ tất cả những nhận định đó có thể kết luận xác định giá trị doanh
nghiệp là một nhu cầu cấp bách và thƣờng xuyên. Đó vừa là những yêu cầu có
tính chất tình huống trong đời sống kinh tế nói chung, cũng vừa là đòi hỏi có
tính chất thƣờng nhật trong hoạt động sản xuất kinh doanh đối với các doanh
nghiệp nói riêng. Xác định giá trị doanh nghiệp chính là những đòi hỏi, là mối
quan tâm của ba loại chủ thể khác nhau đó là Nhà nƣớc, nhà đầu tƣ và nhà quản
trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, xác định giá trị doanh nghiệp là một vấn đề không 15
đơn giản xét trên cả phƣơng diện lý luận và thực tiễn của nƣớc ta cũng nhƣ trên

cách là một hàng hoá, giá trị doanh nghiệp cũng tuân theo quy luật này. Tuy 16
nhiên cần nhấn mạnh rằng điều này chỉ hoàn toàn đúng trong điều kiện môi
trƣờng kinh tế ổn định, nền kinh tế nói chung và ngành kinh tế nói riêng đạt
trạng thái cân bằng, có sự phù hợp giữa cung và cầu.
1.1.2.4.2. Xác định giá trị doanh nghiệp phải trên cơ sở quy luật cung
cầu
Trong thực tế, thị trƣờng không ở trạng thái cân bằng tức là khi có sự dƣ
cung và dƣ cầu thì không thể chỉ dựa vào lƣợng lao động xã hội kết tinh trong
hàng hoá để xác định giá cả của nó. Lúc này, giá cả của hàng hoá tách rời giá trị
của nó. Rõ ràng là bất kỳ khi nào cung lớn hơn cầu thì hàng hoá dù có giá trị
cao cũng phải hạ thấp giá bán mới có thể bán đƣợc. Ngƣợc lại khi cầu lớn hơn
cung thì hàng hoá dù có giá trị xã hội thấp cũng có thể bán với giá cao hơn.
Mặc dù là một hàng hoá đặc biệt, song giá trị của doanh nghiệp cũng chịu sự
điều tiết của quy luật cung cầu.
Trong quá trình thiết lập giá trị doanh nghiệp có thể thấy rằng các hiện
tƣợng của quy luật cung cầu không biểu hiện thật rõ rệt và sôi động nhƣ các
hàng hoá thông thƣờng khác. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng những yếu tố
đó có ảnh hƣởng tới giá trị của doanh nghiệp mà ta đang xem xét.
1.1.2.4.3. Xác định giá trị doanh nghiệp phải tính đến quy luật lợi nhuận
Có thể nói, toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trƣờng đều chịu sự chi phối của quy luật lợi nhuận. Tối đa
hoá lợi nhuận là quy luật hàng đầu của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
và là động lực chính cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Khi quyết định mua một doanh nghiệp, lợi ích của nhà đầu tƣ không chỉ
là để sở hữu giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp mà quan trọng hơn
chính là nhằm sở hữu khả năng thu đƣợc lợi nhuận trong tƣơng lai mà doanh
nghiệp mang lại. Khả năng này không chỉ phụ thuộc vào mức độ sinh lợi trong

1.2.1 Phương pháp tài sản (Giá trị tài sản ròng)
Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp cũng là một loại hàng hoá.
Vì vậy để phát huy đƣợc giá trị sử dụng của mình (tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh) đòi hỏi bản thân doanh nghiệp cũng phải bao gồm những tài sản
cấu thành nên nó. Số lƣợng tài sản thực trong doanh nghiệp có thể nhiều hay ít
tuỳ thuộc vào quy mô, đặc điểm của từng doanh nghiệp, song có thể chắc chắn
một điều rằng doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động khi không có một lƣợng tài
sản có thực nhất định. Các tài sản này chủ yếu đƣợc hình thành bằng 3 nguồn
đó là vốn chủ sở hữu, nợ vay và các khoản chiếm dụng. Cơ cấu nguồn hình
thành tài sản là sự khẳng định và thừa nhận về mặt pháp lý các quyền sở hữu và
lợi ích của các nhà đầu tƣ đối với số tài sản đó. 18
Có thể nói, giá trị của doanh nghiệp chính là tổng giá trị của các tài sản
hữu hình và vô hình cấu thành nên doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, về mặt pháp lý,
ngƣời chủ sở hữu chỉ có thể bán những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
trong tổng số các tài sản cấu thành nên doanh nghiệp mà họ đang sử dụng.
Chính vì vậy, để có thể thực hiện một giao dịch mua bán doanh nghiệp trên thị
trƣờng, ngƣời ta phải tiến hành xác định giá trị ròng (net value) của các tài sản
hiện có trong doanh nghiệp đó.
Trên quan điểm đó, giá trị doanh nghiệp đƣợc xác định nhƣ sau:

V
o
= V
T
- V
N


từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể. Sau cùng, giá trị tài sản ròng của
doanh nghiệp sẽ đƣợc tính bằng cách lấy tổng giá trị của các tài sản đã đƣợc
xác định theo giá thị trƣờng trừ đi các khoản nợ phản ánh bên nguồn vốn của
bảng cân đối kế toán và khoản tiền thuế tính trên giá trị tăng thêm của số tài sản
đƣợc đánh giá lại tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

- Ƣu, nhƣợc điểm của phƣơng pháp.
Ƣu điểm:
+ Phƣơng pháp giá trị tài sản ròng đã chỉ ra giá trị của những tài sản cụ
thể cấu thành giá trị doanh nghiệp. Có thể nói, giá trị của các tài sản đó là một
căn cứ cụ thể, có tính pháp lý rõ ràng nhất về khoản thu nhập mà ngƣời mua
chắc chắn sẽ nhận đƣợc khi sở hữu doanh nghiệp. Nó nói lên rằng, số tiền mà
ngƣời mua bỏ ra luôn luôn đƣợc đảm bảo bằng một lƣợng tài sản có thật, đồng
thời số tài sản đó cũng chính là khoản thu nhập tối thiểu mà ngƣời sở hữu
doanh nghiệp sẽ nhận đƣợc. Đó cũng chính là mức giá thấp nhất, là cơ sở đầu
tiên để các bên có liên quan đƣa ra trong quá trình giao dịch và đàm phán về giá
bán doanh nghiệp.
+ Đối với những doanh nghiệp nhỏ mà số lƣợng tài sản không nhiều,
việc định giá tài sản không đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp, giá trị các yếu tố
vô hình là không đáng kể, các doanh nghiệp có chiến lƣợc kinh doanh không rõ
ràng, thiếu căn cứ xác định các khoản thu nhập trong tƣơng lai thì giá trị doanh
nghiệp đƣợc xác định theo phƣơng pháp tài sản sẽ trở thành một tiêu chuẩn cơ
bản và thích hợp nhất để các bên xích lại gần nhau trong quá trình đàm phán.

Nhƣợc điểm: Bên cạnh những ƣu điểm nổi bật trên đây thì phƣơng pháp
tài sản cũng bộc lộ không ít những nhƣợc điểm, cụ thể là:
+ Phƣơng pháp này đánh giá doanh nghiệp trong một trạng thái tĩnh.
Doanh nghiệp không đƣợc coi nhƣ một thực thể đang tồn tại và còn có thể hoàn
chỉnh và phát triển. Từ đó, nó không phù hợp với một tầm nhìn chiến lƣợc về
doanh nghiệp. Trong khi đó, mục đích của ngƣời mua doanh nghiệp là nhằm sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status