1
ĐẠI QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Trần Thị Lý
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN MAY 40 HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH Hà Nội - Năm 2009
Hà Nội - Năm 2009
3 MC LC
DANH MC CC T VIT TT
i
DANH MC CC BNG BIU
ii
DANH MC CC BIU .
iii
M U
1
CHNG I: C S Lí LUN NGHIấN CU NNG CAO NNG
LC CNH TRANH SN PHM CA DOANH NGHIP SN XUT
CễNG NGHIP
6
1.1. NNG LC CNH TRANH V VAI TRế CA NNG CAO
NNG LC CNH TRANH SN PHM TRONG HOT NG
KINH DOANH CA DOANH NGHIP SN XUT CễNG NGHIP
6
1.1.1. Cỏc khỏi nhim c bn
6
1.1.2. Vai trũ ca nõng cao nng lc cnh tranh sn phm trong hot ng
kinh doanh ca doanh nghip
22
1.5. KINH NGHIM MT S CễNG TY V NNG CAO SC CNH
TRANH CA MT HNG MAY TRấN TH TRNG M V
NHNG BI HC KINH NGHIM CHO MT HNG MAY CA
CễNG TY C PHN MAY 40 HN.
24
1.5.1 Kinh nghim mt s cụng ty v nõng cao sc cnh tranh mt
hng may trờn th trng M.
24
1.5.2. Nhng bi hc kinh nghim cho cụng ty C phn may 40 H Ni
27
CHNG 2: PHN TCH THC TRNG NNG LC CNH TRANH
SN PHM JACKET CA CễNG TY C PHN MAY 40 H NI
XUT KHU SANG TH TRNG M
30
2.1 GII THIU KHI QUT V CễNG TY C PHN MAY 40 H
NI
30
2.1.1. Quá trình hình thành của công ty
30
2.1.2. Quá trình phát triển của công ty
30
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty
32
2.1.4. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty Cổ phần May 40
37
2.1.5. Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
39
2.1.6. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
41
62
2.4.2. Doanh thu xuất khẩu sản phẩm Jacket sang thị tr-ờng Mỹ
64
2.4.3. Lợi nhuận và khả năng tăng lợi nhuận của sản phẩm Jacket
66
2.5. PHN TCH CC NHN T NH HNG V THC HIN CC
GII PHP NHM NNG CAO NNG LC CNH TRANH SN
PHM JACKET CA CễNG TY C PHN MAY 40 H NI SANG
TH TRNG M
68
2.5.1. Phõn tớch cỏc nhõn t nh hng n nng lc cnh tranh sn
phm Jacket ca Cụng ty c phn May 40 H Ni
68
2.5.2. Mt s bin phỏp cụng ty s dng nhm nõng cao nng lc cnh
tranh ca sn phm
76
2.6. NHN XẫT TNG QUT NHT V THC HIN CC GII
PHP NHM NNG CAO NNG LC CNH TRANH NHểM
HNG JACKET CA CễNG TY C PHN MAY 40 H NI SANG
TH TRNG M
77
2.6.1. Những thành tựu
77
2.6.2. Những tồn tại
78
6
CHNG 3: MT S GII PHP NHM NNG CAO NNG LC
CNH TRANH CHO NHểM HNG JACKET CA CễNG TY CP
MAY 40 H NI SANG TH TRNG M
3.2.2.7. Phát huy nhân tố con ng-ời của công ty
97
3.2.2.8. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý
98
3.2.2.9. Xây dựng hệ thống thông tin quản trị (MIS)
98
3.3. MT S KIN NGH
100
3.3.1. Kiến nghị với Nhà n-ớc
100
3.3.1.1. Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý xuất khẩu
100
7
3.3.1.2. Đầu t- xây dựng các nhà máy chế biến nguyên phụ liệu
phục vụ ngành dệt may
100
3.3.2. Kiến nghị với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) và Hiệp
hội Dệt may Việt Nam (Vinatas)
101
3.3.2.1. Kiến nghị với Tập đoàn Dệt may Việt Nam
101
3.3.2.2. Kiến nghị với Hiệp hội Dệt may Việt Nam
101
PHN KT LUN
DANH MC TI LIU THAM KHO
PH LC
Bilateral Trade Agreement
Hiệp định thƣơng mại song
phƣơng Việt Nam – Hoa kỳ
2
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
3
CL
Chênh lệch
4
CP
Cổ phần
5
CPNCTT
Chi phí nhân công trực tiếp
6
CPNVLTT
Nguyên vật liệu trực tiếp
7
CPSXC
Chi phí sản xuất chung
8
DT
16
TSCĐ
Tài sản cố định
17
TSCP
Tỷ suất chi phí
18
TSLN
Tỷ suất lợi nhuận
19
TC-HC
Tổ chức-hành chính
20
VSCN
Vệ sinh công nghiệp
9
21
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thƣơng mại thế
giới
58
Bảng 2.8
Doanh thu xuất khẩu sản phẩm Jacket sang Mỹ của công
ty và đối thủ
63
Bảng 2.9
Lợi nhuận từ sản phẩm Jacket của công ty và đối thủ
66
Bảng 2.10
Cơ cấu vốn của công ty CP May 40 Hà Nội
71
Bảng 3.1
Các chỉ tiêu phát triển ngành dệt may Việt Nam đến
2015
84
Bảng 3.2
Các chỉ tiêu chủ yếu của công ty trong 2009-2011
86
10
ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
98
11
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cũng nhƣ nhiều nƣớc phát triển khác, ở giai đoạn đầu của quá trình
phát triển kinh tế, sản phẩm may của Việt Nam đang ngày càng trở thành sản
phẩm có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ góp
phần tạo công ăn việc làm cho một số lƣợng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu
của sản phẩm may còn chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nƣớc.
Mở rộng hoạt động kinh doanh sang thị trƣờng nƣớc ngoài là điều hết
sức cần thiết trong bối cảnh hội nhập hiện nay, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều
thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp trong ngành dệt may- một ngành có tốc độ phát triển nhanh
chóng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của nƣớc nhà. Các
doanh nghiệp dệt may phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt khốc liệt. Để
đứng vững trên thị trƣờng và trong công cuộc chạy đua này, nắm bắt đúng
thời cơ nâng cao năng lực cạnh là nhân tố hết sức quan trọng giúp doanh
nghiệp thành công. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng, Chƣơng
trình phát triển liên hiệp quốc (2008) trong cuốn “Nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia” nêu rõ cần “phát triển nhanh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt
may, da giầy, giấy và các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Đầu tƣ hiện đại hoá
sự phát triển của công ty
2. Tình hình nghiên cứu
13
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sản phẩm may của công ty nhƣ:
“Đổi mới phương thức gia công xuất khẩu của công ty trong điều kiện hội
nhập quốc tế”- Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân do JICA tài trợ (2000-
2002); Dự án “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm may của công ty”
do Viện Chiến lƣợc Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ) thực hiện năm 1998;
Đề án “Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ƣơng (Bộ Kế
hoạch và Đầu tƣ) thực hiện năm 2008; Đề tài cấp Bộ “Thị trường hàng dệt
may thế giới và khả năng xuất khẩu của Việt Nam” – Viện Nghiên cứu
Thƣơng mại năm 2001; Báo cáo dự án nhánh “Nghiên cứu khả năng cạnh
tranh nhóm hàng dệt may tại một số doanh nghiệp” Viện Nghiên cứu Chiến
lƣợc & Chính sách công nghiệp - Bộ công nghiệp năm 2008.
Các nghiên cứu nêu trên nhằm phục vụ những mục đích chung và mang
tính tổng hợp nhƣ nghiên cứu năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt và sản
phẩm may hoặc đề cập đến thị trƣờng hàng dệt may thế giới hoặc khả năng
cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu và phân tích
năng lực cạnh tranh sản phẩm của Công ty Cổ phần May 40 Hà Nội cũng nhƣ
đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm may
trong điều kiện tự do hoá thƣơng mại là phù hợp yêu cầu thực tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh sản
phẩm lĩnh vực may mặc;
- Phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới năng lực
cạnh tranh sản phẩm của Công ty Cổ phần May 40. Đánh giá thực trạng năng
lực cạnh tranh sản phẩm của công ty, qua đó chỉ ra những ƣu điểm, tồn tại và
nguyên nhân của những tồn tại.
15
tồn tại, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với Công ty qua
việc tạo lập, phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong
ngành may mặc.
Đề xuất một số phƣơng hƣớng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh sản phẩm trong lĩnh vực may mặc, qua đó, góp phần nâng cao
hiệu quả kinh doanh của công ty trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn đƣợc chia ra làm 3 chƣơng:
Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Chương 2. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh cho nhóm hàng
JACKET của Công ty Cổ phần May 40 xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho
nhóm hàng JACKET của Công ty Cổ phần May 40 sang thị trƣờng Mỹ.
16
cạnh tranh giữa ngƣời mua với nhau khi cung nhỏ hơn cầu.
Ở nƣớc ta trong quá trình đổi mới nền kinh tế, đã có sự thay đổi về tƣ
duy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh và độc quyền. Cạnh tranh
vừa là môi trƣờng, vừa là động lực trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong văn
kiện của Đại hội X của Đảng cũng đã ghi rõ: “cơ chế thị trƣờng đòi hỏi phải
hình thành một môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh
tranh vì lợi ích phát triển đất nƣớc, chứ không phải làm phá sản hàng loạt,
lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau” [23, tr.69]
Thuật ngữ “cạnh tranh” đƣợc dùng ở đây là cách gọi của cụm từ “cạnh
tranh kinh tế” (Economics Competition)- một dạng của cạnh tranh trong kinh
tế thị trƣờng.
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản
xuất và trao đổi sản phẩm. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác
động của các quy luật thị trƣờng, nhƣ quy luật giá trị, quy luật cung- cầu.
Do cách tiếp cận khác nhau, nên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau
về cạnh tranh. Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể
thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ
thể của nền kinh tế thị trƣờng cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa. Đó là
sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành đƣợc những điều kiện thuận lợi nhất
để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch về phía mình. Cạnh tranh còn là phƣơng
thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị
trƣờng. Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế- xã hội của các chế độ
xã hội. Tính chất cạnh tranh bị chi phối bởi bản chất kinh tế- xã hội của các
chế độ xã hội đó. Với quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh đƣợc hiểu: “Cạnh
tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi
18
biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông
thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện
sản xuất, thị trường có lợi nhất” [18, tr.46].
các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị trƣờng tại cùng thời điểm [18,
tr.120]
Theo nghĩa rộng, năng lực cạnh tranh sản phẩm, ngoài những yếu tố
gắn với năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa hẹp, còn phải xem các yếu
tố khác nhƣ các điều kiện sản xuất kinh doanh, các điều kiện gắn với tiêu thụ
sản phẩm, các công cụ và biện pháp mà các chủ thể dùng có hiệu quả trong
cạnh tranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cùng
các thuận lợi khác cho mình [18, tr.120].
Với cách đặt vấn đề trên có thể hiểu khái quát năng lực cạnh tranh sản
phẩm theo nghĩa rộng là:
Tổng thể các yếu tố gắn trực tiếp với sản phẩm cùng với các điều kiện,
công cụ và biện pháp cấu thành năng lực cạnh tranh đƣợc chủ thể dùng trong
ganh đua với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, giành khách hàng và đem lại
nhiều lợi ích cho chủ thể tham gia cạnh tranh.
Có thể khái quát nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm qua 14 chữ:
chất lƣợng; thông tin; nhanh; mới; nhiều; linh hoạt; lòng tin; nổi tiếng;
thúc đẩy (khoa học kỹ thuật và quản lý); liên doanh; độc đáo; mạo hiểm;
và bán chịu để thắng trong cạnh tranh [18, tr.127].
1.1.1.3. Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác
động vào quá trình sản xuất và lƣu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vƣợt
trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chƣa có năng
20
lực cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính
trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trƣờng tiêu thụ (nếu sản phẩm đã
có năng lực cạnh tranh nhƣng năng lực cạnh tranh còn yếu). Nói cách khác:
nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động
nhằm khắc phục những tồn tại đƣợc coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh
của sản phẩm đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so
triền là một nền kinh tế có sức cạnh tranh lớn. Có năng lực cạnh tranh lớn
giúp nền kinh tế quốc dân phát huy đƣợc nội lực của toàn bộ các tế bào.
Vì vậy, có thể đƣa ra nhận xét rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm của
doanh nghiệp có ý nghĩa sống còn và tác động tƣơng hỗ với chính doanh
nghiệp và với cả toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh làm cho giá cả sản phẩm giảm. Trên thị
trƣờng không chỉ có một nhà cung cấp sản phẩm mà có nhiều nhà cung cấp
sản phẩm. Với cùng một loại sản phẩm hoặc cùng chủng loại sản phẩm với
các mẫu mã, chất lƣợng, tính năng, công dụng nhƣ nhau, doanh nghiệp nào
bán ra với giá rẻ hơn các đối thủ thì sẽ chiếm lĩnh đƣợc khách hàng. Bởi vì
ngƣời tiêu dùng luôn tìm đến nơi có sản phẩm chất lƣợng tốt, giá rẻ để mua.
Và ngƣợc lại, doanh nghiệp nào bán sản phẩm với giá cao sẽ bán chậm hoặc
sẽ không bán đƣợc sản phẩm. Vì vậy, để bán đƣợc sản phẩm các doanh
nghiệp thƣờng cạnh tranh với nhau và đẩy giá sản phẩm giảm xuống. Do vậy,
các doanh nghiệp cần phải tối ƣu các yếu tố đầu vào để giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm, từ đó định ra giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh trạnh.
Nhờ có nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm mà nhu cầu của ngƣời
tiêu dùng ngày càng đƣợc đáp ứng và thỏa mãn. Do trên thị trƣờng có nhiều
22
nhà sản xuất, doanh nghiệp cung cấp nhiều sản phẩm với chủng loại, mẫu mã
khác nhau nên nó kích thích nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và đáp ứng ngày
càng đầy đủ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng đƣợc quyền chọn
mua những sản phẩm chất lƣợng tốt, giá rẻ, đáp ứng đƣợc nhu cầu của mình.
Hơn nữa, để tạo ra những sản phẩm có chất lƣợng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng
nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và tăng tính cạnh tranh với đối thủ, các doanh
nghiệp phải thay đổi dây truyền sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật,
công nghệ mới vào sản xuất. Ngƣời sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ
là thứ thoả mãn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Sản phẩm là bất cứ thứ gì có
thể đem ra chào bán ở thị trƣờng, tạo ra sự chú ý và đƣợc tiêu dùng nhằm thỏa
mãn một nhu cầu, mong muốn của một đối tƣợng nào đó [18, tr.16].
Hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp đƣa ra bán trên thị
trƣờng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống marketing hỗn
hợp ở doanh nghiệp. Xác định đúng sản phẩm có ảnh hƣởng lớn đến khả năng
tiêu thụ và khai thác cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Để mô tả sản phẩm,
doanh nghiệp có thể lựa chọn cách tiếp cận khác nhau:
- Tiếp cận sản phẩm theo truyền thống – từ góc độ sản xuất: Sản phẩm
của doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp sản xuất lẫn doanh nghiệp thƣơng mại
đƣợc hiểu và mô tả thông qua hình thức biểu hiện bằng vật chất, hiện vật của
hàng hoá [18, tr.101]
Ví dụ: - Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ô tô là ô tô
- Sản phẩm của doanh nghiệp thƣơng mại buôn bán ô tô là ô tô
Với cách tiếp cận này thƣờng dẫn đến quan niệm về sản phẩm của
doanh nghiệp, chỉ liên quan đến “hàng hoá hiện vật” hay “hàng hoá cứng” mà
doanh nghiệp đang sản xuất hay kinh doanh. Các khía cạnh khác có liên quan
nhƣ dịch vụ, bao bì, phƣơng thức thanh toán trong quá trình tiêu thụ không
24
đƣợc xác định là những “bộ phận” cấu thành sản phẩm mà xem nhƣ là các
yếu tố bổ sung cần thiết ngoài sản phẩm. Thực chất của việc mô tả này là xác
định sản phẩm theo công năng cơ bản có thể thoả mãn một nhu cầu cơ bản
nào đó của con ngƣời và không/chƣa tính đến những yếu tố liên quan thoả
mãn các nhu cầu bổ sung xoay quanh việc thoả mãn nhu cầu cơ bản nào đó
- Tiếp cận sản phẩm theo quan điểm marketing – từ góc độ ngƣời tiêu
thụ [18, tr.105].
Tiếp cận và mô tả sản phẩm từ cách nhìn của ngƣời tiêu thụ là một tiến
bộ, là một bƣớc hoàn thiện hơn trong việc mô tả sản phẩm của doanh nghiệp
khi doanh nghiệp muốn tăng cƣờng khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tiêu thụ
khả năng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Từ góc độ khách hàng, các
doanh nghiệp có thể đƣa ra các “sản phẩm mới” của mình một cách đa dạng
và hiệu quả hơn. Một sản phẩm cải tiến cũng có thể đƣợc xem là sản phẩm
mới. Trong trƣờng hợp này, sản phẩm mới bao gồm cả những sản phẩm hiện
tại nhƣng đã đƣợc hoàn thiện thêm về các chi tiết, bộ phận của nó, có thêm
công năng mới hoặc bao bì mới, hoặc nhãn hiệu mới, hình ảnh mới hoặc có
thêm cách thức phục vụ mới Về vấn đề này, ý kiến của Kotler rất có ý
nghĩa: “Một sự khác biệt dù rất nhỏ về dịch vụ cũng có thể tạo ra sự khác biệt
lớn về sản phẩm trong điều kiện có nhiều sản phẩm tƣơng tự cùng đƣợc đƣa
ra bán ở trên thị trƣờng” [27, tr.89]
Để có khả năng đổi mới đƣợc sản phẩm và đảm bảo có đƣợc hiệu quả
trong kinh doanh khi đƣa sản phẩm mới ra thị trƣờng, doanh nghiệp phải thực
hiện một cách có hệ thống các bƣớc triển khai cơ bản và theo dõi, điều chỉnh
có phƣơng pháp các hoạt động của mình theo đà phát triển chung của sản
phẩm trên thị trƣờng nhƣ:
+ Nghiên cứu và đề xuất ý tƣởng về sản phẩm