ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN PHẠM VIẾT DUY
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP Ở CÁC LÀNG CHẾ TÁC ĐÁ
HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM VIẾT DUY
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 9
1.1.1. Khai thác và chế tác đá 9
1.1.2. Vấn đề ô nhiễm không khí và tiếng ồn 9
1.1.3. Kinh nghiệm quản lý về an toàn lao động và an toàn sức khoẻ
nghề nghiệp 11
1.2. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM 16
1.2.1. Khái niệm và lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam 16
1.2.2. Vấn đề về môi trƣờng làng nghề 18
1.2.3. Vấn đề về bệnh nghề nghiệp làng nghề 21
1.2.4. Các giải pháp KHCN giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng và bệnh
nghề nghiệp làng nghề 24
1.3. TỔNG QUAN VỀ NGHỀ KHAI THÁC VÀ CHẾ TÁC ĐÁ 26
1.3.1. Tình hình khai thác và chế tác đá trong nƣớc 26
1.3.2. Làng nghề đá Hoa Lƣ – Ninh Bình 27
CHƢƠNG 2: PHẠM VI, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 32
2.1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 32
2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 32
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 32
2.3.1. Đánh giá thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trƣờng và sức khỏe
cộng đồng trong khu vực làng nghề nghiên cứu 32
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 2 Phạm Viết Duy
2.3.2. Xây dựng mô hình cải thiện môi trƣờng lao động, phòng ngừa tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho ngƣời lao động tại làng nghề khai
thác và chế tác đá ở Ninh Vân 32
2.3.3. Mở rộng việc áp dụng mô hình cho các cơ sở sản xuất trong huyện
3.2.4. Hạn chế của mô hình 73
3.3. MỞ RỘNG VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH CHO CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT
TRONG HUYỆN HOA LƢ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô
NHIỄM MÔI TRƢỜNG, BNN PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ HIỆN NAY 73
3.3.1. Mở rộng áp dụng mô hình cho các cơ sở sản xuất trong toàn huyện
Hoa Lƣ 73
3.3.2. Các giải pháp đề xuất 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
KẾT LUẬN 79
KHUYẾN NGHỊ 81
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 4 Phạm Viết Duy
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Công nhân làm việc trong điều kiện tạm bợ, không có mái che 37
Hình 3.2: Dây điện chằng chịt và bể nƣớc tự tạo ở nơi làm việc 38
Hình 3.3: Công nhân làm việc không có trang thiết bị bảo hộ lao động 40
Hình 3.4: Cơ cấu hệ thống tổ chức, quản lý hành chính xã Ninh Vân 42
Hình 3.5: Cơ cấu hệ thống quản lý môi trƣờng ở xã Ninh Vân 43
Hình 3.6: Công nhân làm việc trong môi trƣờng bụi trắng xóa 45
Hình 3.7: Hình ảnh các buổi tập huấn 62
Hình 3.8: Máy cắt đá trƣớc và sau khi lắp thêm hệ thống hút bụi 65
Hình 3.9: Hệ thống phun hơi nƣớc trong nhà xƣởng 65
Hình 3.10: Tạo mái che cho nhà xƣởng 66
Hình 3.11: Trao các trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân cho ngƣời lao động
67 Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 6 Phạm Viết Duy
MỞ ĐẦU
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 7 Phạm Viết Duy
Có khoảng 31% số ngƣời lao động tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp
[2].
Làm thế nào để bảo vệ sức khỏe cho ngƣời lao động và cộng đồng trong các
làng nghề là câu hỏi luôn đƣợc các cấp, các ngành đặt ra và quan tâm từ lâu. Cho
đến nay đã có nhiều chƣơng trình, dự án, đề tài nghiên cứu đƣợc triển khai và đã đề
xuất ra không ít giải pháp khoa học, công nghệ, y học để bảo vệ sức khỏe ngƣời lao
động trong nghành nghề nông thôn nói riêng và ngƣời lao động nói chung. Tuy
nhiên, TNLĐ và tỷ lệ BNN từ ngành nghề nông thôn vẫn đang gia tăng nhanh
chóng, điều này phản ánh việc áp dụng các giải pháp đã đƣợc nghiên cứu vào thực
tế vẫn còn hạn chế, đem lại hiệu quả chƣa cao. Công tác giảm ô nhiễm môi trƣờng
lao động, ngăn chặn TNLĐ và BNN, chăm sóc sức khoẻ ngƣời lao động dƣờng nhƣ
thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phƣơng, ngƣời tổ chức sản xuất,
ngƣời lao động và giữa các Bộ, ban, ngành [3], [5].
Ninh Vân là một xã nằm ở phía Tây Nam huyện Hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình từ lâu
đã đƣợc biết tới với nghề làm đá mỹ nghệ với những sản phẩm nổi tiếng xuất hiện ở
khắp nơi và phục vụ khắp mọi miền đất nƣớc nhƣ: Nhà thờ đá Phát Diệm, lăng thánh
mẫu Liễu Hạnh - Nam Định, tƣợng đài Nghĩa trang Trƣờng Sơn, tƣợng đài TNXP chống
Mỹ cứu nƣớc ở Quảng Trị, 500 pho tƣợng La Hán trong chùa Bái Đính, Ninh Bình…
[6], [11]
Với các sản phẩm đá phong phú và đa dạng (nhƣ chậu cảnh, bể cảnh, tƣợng nghệ
thuật, tƣợng tôn giáo, các bức phù điêu cột đá, cổng đá, văn bia, lăng mộ tôn tạo di tích
lịch sử, văn hóa danh lam thắng cảnh, đình chùa, miếu phủ…) Nghề đá đã mang lại cho
Ninh Vân một diện mạo mới nhƣng phía sau sự giàu có ấy là tình trạng ô nhiễm môi
trƣờng đã đến hồi báo động.
Bên cạnh đóng góp vào sự phát triển về kinh tế, sự phát triển nhanh của làng
nghề chế tác đá mỹ nghệ cũng kéo theo suy giảm sức khỏe ngƣời dân. Thời gian
gần đây, số ca mắc viêm phổi, viêm phế quản và các bệnh ngoài da tăng đột biến.
Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, làng nghề cứ phát triển tự phát nhƣ hiện
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 9 Phạm Viết Duy
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Khai thác và chế tác đá
Việc khai thác và chế tác đá đã đƣợc biết đến từ thời xa xƣa. Vào khoảng 3
triệu năm trƣớc, thời kỳ đồ đá bắt đầu, là một thời gian tiền sử dài trong đó con
ngƣời sử dụng đá để chế tạo nhiều đồ vật từ nhiều kiểu đá khác nhau. Ví dụ, đá lửa
và đá phiến silic đƣợc mài sắc (hay đƣợc đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí,
trong khi đá basalt và đá sa thạch đƣợc dùng làm công cụ.
Về sau con ngƣời ngày càng cải tiến và sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi
để đẽo đá từ nguyên liệu thô tạo ra các đồ vật bằng đá với cách thức chế tác khác
nhau, với sức sáng tạo ngày càng đa dạng, phong phú. Kỹ thuật đƣợc sử dụng có thể
là phun hay thổi các chất màu lên đá. Việc này đƣợc thực hiện bởi những nghệ nhân
chế tác ra những sản phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới: từ những công cụ đơn giản
cho đến hình khắc trên đá và tranh vẽ trên đá có thể đƣợc tìm thấy trên bất kỳ loại
đá nào và có thể đƣợc phát hiện ở nhiều nơi trên trái đất, gồm cả châu Á
(Bhimbetka, Ấn Độ, Trung Quốc,…), Bắc Mỹ (Thung lũng chết ở công viên quốc
gia), Bắc Mỹ (Cumbe Mayo, Peru,…), và châu Âu (Finnmark, Na Uy),…[18], [20]
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nghề khai thác và
chế tác đá đã tiếp cận với nhiều thiết bị hiện đại, tuy nhiên kèm theo đó là sự gia
tăng của ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm không khí và tiếng
ồn, ảnh hƣởng đến sức khoẻ của ngƣời lao động và cộng đồng. Đến nay, trên thế
giới đã có những nghiên cứu và áp dụng nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm
triệu ngƣời tại những thành phố có từ 250.000 dân trở lên ở 19 nƣớc châu Âu đang
phải chịu tiếng ồn ở mức từ 55 dB trở lên. Đây là ngƣỡng mà Tổ chức Y tế Thế giới
cho rằng có thể gây ra những tác động về sức khỏe nhƣ ảnh hƣởng đến giấc ngủ,
tim mạch, sức khỏe tinh thần và việc học hành.
Theo số liệu thống kê mới nhất của WHO thì tại châu Âu, 40% dân số khu
vực này đang bị phơi ra môi trƣờng ô nhiễm tiếng ồn. Mức ồn hiện đã vƣợt trên 55
decibels (dBA), 25% dân số hàng ngày nghe tiếng ồn trên 65 dBA, có tới 30% dân
số châu Âu phải ngủ trong môi trƣờng có tiếng ồn vƣợt trên 55 dBA, đây là mức ồn
có thể làm gián đoạn giấc ngủ. Theo Cơ quan an toàn giao thông và Môi trƣờng của
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 11 Phạm Viết Duy
Liên Minh châu âu thì có từ 44% dân số châu âu (khoảng 200 triệu ngƣời) phải sống
chung với tiếng ồn có nguy cơ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ [19].
Bộ Môi trƣờng Mỹ (EPA) cảnh báo để hạn chế bệnh điếc, mọi ngƣời không
nên tiếp xúc với môi trƣờng có độ ồn lớn hơn 70 dBA trong khoảng thời gian 24 giờ
liên tục. Ngoài ra, nếu làm việc liên tục trong môi trƣờng có độ ồn trên 55 dBA
(ngoài trời) và 45 dBA (trong nhà) trong thời gian dài liên tục cũng sẽ gây ảnh
hƣởng đến sức nghe.
Bộ Môi trƣờng Đức (GFEA) gần đây đã hoàn thành nhiều nghiên cứu và
phát hiện thấy mối nguy hại của tiếng ồn đối với sức khoẻ, nhƣ giảm thính lực, làm
tăng stress, tăng huyết áp Cũng theo GFEA, tiếng ồn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Một
trong những hiện tƣợng thƣờng thấy là ù tai và dần dẫn đến mất sức nghe và quá lâu
nên đã bị điếc, sức khoẻ của họ bị ảnh hƣởng rất nhiều, những bệnh viện đặt gần nơi
phát ra tiếng ồn thì mức độ gây nguy hiểm cũng không lƣờng hết. Theo quy định
của WHO, mức ồn đối với các bệnh viện không đƣợc vƣợt quá 30 dBA (ban ngày)
và 40 dBA (ban đêm). Nhƣng trong thực tế một số bệnh viện đã vƣợt quá mức quy
định này. Ví dụ tại Anh có tới 5 bệnh viện phải chịu mức tiếng ồn trên 80 dBA, tại
ấn Độ mức độ tiếng ồn đối với các bệnh viện ở Madurai là 72 dBA (cao nhất) và 57
thành chính: (1) chính sách, (2) tổ chức, (3) kế hoạch và thực hiện, (4) đánh giá, và
(5) hoạt động cải thiện. Nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề về ILO-OSH 2001 đã
đƣợc tổ chức tại Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam nhằm áp dụng ILO-
OSH 2001 vào bối cảnh thực tế của từng quốc gia [16].
1.1.3.2. Hệ thống quản lý an toàn lao động ở Thái Lan
Phần lớn các cơ sở sản xuất tại Thái Lan có quy mô vừa và nhỏ. Số doanh
nghiệp có ít hơn 100 lao động xấp xỉ 300.000, chiếm 97% tổng số các cơ sở sản
xuất trong toàn quốc, sử dụng khoảng 48% số ngƣời lao động.
Tại Thái Lan, môi trƣờng lao động tồi, điều kiện làm việc không an toàn
cộng với hành vi không an toàn của ngƣời lao động dẫn đến tỷ lệ tai nạn lao động
cao. Thống kê chính thức cho thấy khoảng 80% trƣờng hợp tai nạn và bệnh nghề
nghiệp gây ra bởi hành vi không an toàn của công nhân, 18% gây ra bởi điều kiện
làm việc không an toàn, phần còn lại do lỗi của các phƣơng tiện khác. Ngƣời lao
động không nhận thức đƣợc tầm quan trọng của sự tự chăm sóc sức khoẻ cho bản
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 13 Phạm Viết Duy
thân. Họ thƣờng không chịu mang phƣơng tiện bảo vệ cá nhân nhƣ: mũ, giày, ủng,
gang tay an toàn v.v [1], [16].
Các cơ quan quản lý an toàn lao động của Thái Lan đã tổng kết 5 loại nguyên
nhân chính ảnh hƣởng tới sức khoẻ ngƣời lao động có liên quan tới hành vi không
an toàn của ngƣời lao động và môi trƣờng lao động tồi tệ nhƣ sau:
1. Không có chƣơng trình kiểm tra liên tục về kiểm soát môi trƣờng và kiểm
tra sức khoẻ tại những nơi làm việc có các yếu tố có hại;
2. Thiếu các dịch vụ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các cơ
quan chính phủ trong việc kiểm soát môi trƣờng lao động và tiến hành kiểm tra y tế
cho ngƣời lao động;
3. Thiếu thông tin hoặc các ấn phẩm về quản lý an toàn lao động theo đặc thù
từng ngành nghề lao động;
khỏe nghề nghiệp (OHSAS 18001) từ nhiều năm nay. Hệ thống này mang lại lợi ích
chủ yếu cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nhƣ cải thiện
hình ảnh của doanh nghiệp, giảm chi phí bảo hiểm, đạt đƣợc hiệu quả trong việc
kiểm soát rủi ro và cơ chế cải thiện điều kiện làm việc đƣợc thực hiện một cách
thƣờng xuyên [16], [24].
Hiệu quả tích cực của OHSAS 18001 là giúp các doanh nghiệp phân tích và
đánh giá điểm chính của mối nguy hại và thiết lập cơ cấu phòng ngừa trong quá
trình làm việc. Điểm mấu chốt của cơ cấu phòng ngừa thành công hay không phụ
thuộc vào việc liệu các doanh nghiệp có thể hợp nhất một cách hiệu quả các vấn đề
an toàn và sức khoẻ, chính sách kinh doanh và việc quản lý quá trình hoạt động.
Nếu cơ cấu phòng ngừa đạt hiệu quả tốt, nó không chỉ giảm chi phí bảo hiểm và tai
nạn mà còn giảm nguy cơ gây tai nạn.
Xem xét tình trạng ban đầu về an toàn và sức khỏe là sự chuẩn bị nắm đƣợc
thực trạng của vấn đề an toàn và sức khỏe trong doanh nghiệp và việc thu thập
thông tin liên quan khi doanh nghiệp dự định thành lập hệ thống quản lý an toàn và
sức khỏe. Bên cạnh đó, xem xét lại tình trạng ban đầu cũng có ích nhƣ là sự giới
thiệu tiếp theo của việc thiết lập OHSAS 18001 và là cơ sở cho việc chuẩn bị sự
thay đổi tác động của an toàn và sức khỏe. Về cơ bản mục đích và nội dung của việc
xem xét lại tình trạng ban đầu của OHSAS 18001 tƣơng tự của ISO 14001. Nó bao
gồm 5 mục đích: kiểm tra tiểu sử của doanh nghiệp, hiện trạng đầu tƣ, nghiên cứu
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 15 Phạm Viết Duy
hệ thống quản lý đang thực hiện, phát hiện và đánh giá rủi ro, thực hiện yêu cầu luật
pháp. Trong đó việc phát hiện rủi ro cần nhiều nhân lực tham gia. Phƣơng pháp phổ
biến nhất để phát hiện rủi ro đối với một cơ sở sản xuất là phân tích an toàn trong
công việc, phân tích kết quả và phƣơng thức của việc hỏng hóc, nghiên cứu mối
nguy hiểm và khả năng có thể xảy ra rủi ro.
Tuy vậy, kết quả kiểm tra việc thực hiện hệ thống an toàn lao động ở các nhà
môi trƣờng làm việc yếu kém;
2. Trợ giúp kỹ thuật an toàn lao động: Đói tƣợng là doanh nghiệp vừa và nhỏ
đã để xảy ra tai nạn lao động trong vòng hai năm qua hoặc doanh nghiệp trong
ngành mà lao động thƣờng xuyên phải tiếp xúc với các chất hóa học nguy hiểm và
độc hại. Nhóm công tác trợ giúp kỹ thuật có trách nhiệm giúp đỡ doanh nghiệp xoá
bỏ các yếu tố 3D và cải thiện môi trƣờng làm việc nghèo nàn thông qua việc đi
thăm cơ sở sản xuất ít nhất 4 lần một năm;
3. Trợ giúp công tác tự kiểm tra: Các cơ quan chức năng thông qua các loại
thiết bị cần thiết nhất định kiểm tra công tác an toàn lao động tại các cơ sở sau đó
hƣớng dẫn các cơ sở tự sử dụng các loại thiết bị này để thƣờng xuyên kiểm tra cong
tác an toàn lao động trong bản thân doanh nghiệp;
4. Trợ giúp các bên hợp đồng phụ có đối tƣợng là các doanh nghiệp lớn ký
hợp đồng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
5. Hƣớng dẫn chăm sóc sức khỏe áp dụng cho các doanh nghiệp loại nhỏ có
quy mô sử dụng thƣờng xuyên dƣới 10 lao động hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đã phát hiện hoặc nghi ngờ có bệnh nghề nghiệp.
Thành công của Dự án CLEAN-3D tại Hàn Quốc là tăng số lƣợng việc làm
đồng thời giảm tai nạn lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, dự
án góp phần tạo nên môi trƣờng trong sạch, an toàn và thuận tiện cho mọi ngƣời và
mọi lao động tại nơi làm việc.
1.2. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm và lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam
Khái niệm về làng nghề Việt Nam:
Làng nghề Việt Nam là một thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cƣ dân,
chủ yếu ở các vùng ngoại vi thành phố và nông thôn Việt Nam, có chung truyền
thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại. Làng nghề thƣờng mang
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 17 Phạm Viết Duy
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 18 Phạm Viết Duy
1.2.2. Vấn đề về môi trƣờng làng nghề
Bên cạnh mặt tích cực và những đóng góp lớn cho nền kinh tế - xã hội thì sự
phát triển của hoạt động sản xuất làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt về
vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, tác động trực tiếp tới sức khỏe ngƣời dân và ngày càng
trở thành vấn đề bức xúc.
1.2.2.1. Môi trường không khí tại các làng nghề
* Đặc trưng khí thải và ô nhiễm không khí tại các làng nghề:
Khí thải ở các làng nghề thƣờng chứa nhiều thành phần các chất ô nhiễm
không khí nhƣ: bụi, CO
2
, CO, SO
2
, NO
x
, chất hữu cơ bay hơi. Ngoài ra, các khí độc
hại còn đƣợc sinh ra trong quá trình phân huỷ yếm khí các hợp chất hữu cơ có trong
nƣớc thải và các chất hữu cơ dạng rắn, đó là các khí: H
2
S, NH
3
, CH
4
[4], [9].
Môi trƣờng khu vực sản xuất ở các làng nghề tái chế ngoài ô nhiễm không
khí do đốt nhiên liệu, thể hiện ở các thông số ô nhiễm nhƣ bụi, CO
2
, CO, SO
[2].
Đối với các làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren, ô nhiễm không khí
thƣờng chỉ xảy ra tại một số làng nghề chế tác đá và sản xuất mây tre đan. Môi
trƣờng không khí xung quanh khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá bị ô nhiễm
nghiêm trọng do bụi đá và tiếng ồn. Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ chế tác đá còn
chứa một lƣợng không nhỏ SiO
2
(0,56 – 1,91% tại làng nghề đá Non Nƣớc – Đà
Nẵng) rất có hại cho sức khỏe. Trong khi đó, tại làng nghề sản xuất mây tre đan,
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 19 Phạm Viết Duy
không khí thƣờng bị ô nhiễm bởi SO
2
phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho
các sản phẩm mây tre đan.
Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá, ô nhiễm không
khí diễn ra phổ biến và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Đối với các làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng, chất lƣợng không khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt
nhiên liệu đã sinh ra các khí SO
2
, CO, CO
2
, NO và nhiều loại chất thải nguy hại
khác [8]. Trong khi đó, ở các làng nghề khai thác đá, bụi phát sinh từ quá trình khai
thác và chế tác đá là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm không khí ở đây. Kết
quả khảo sát ở khu vực làng nghề cho thấy hàm lƣợng bụi vƣợt TCVN từ 3 – 8 lần,
hàm lƣợng SO
2
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 20 Phạm Viết Duy
* Đặc trưng ô nhiễm nước mặt ở các làng nghề
Nƣớc mặt ở các sông hồ địa phƣơng, đặc biệt là tại các làng nghề trong lƣu
vực sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu ở phía Bắc và hệ thống sông Đồng Nai ở phía
Nam bị ô nhiễm do chịu tác động trực tiếp của nƣớc thải sản xuất, có nơi đã đến
mức báo động.
Các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, nƣớc
mặt bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, đang ở mức báo động, nhiều nơi có COD,
BOD
5
, NH
4
, Coliform vƣợt TCVN hàng chục đến hàng trăm lần. Nƣớc mặt ở
các làng nghề dệt nhuộm, ƣơm tơ và thuộc da cũng bị ô nhiễm hữu cơ nặng với
COD vƣợt TCVN 2-3 lần, BOD
5
1,5-2,5 lần.
Các làng nghề thủ công mỹ nghệ, nƣớc mặt bị ô nhiễm cao, đặc biệt đối với
làng nghề mây tre đan có độ ô nhiễm hữu cơ cao, hàm lƣợng COD, BOD
5
,
NH
4
,
Coliform, độ màu đều tăng cao, vƣợt TCVN nhiều lần.
1.2.2.3. Môi trường đất tại các làng nghề
* Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da:
Các làng nghề ƣơm tơ, dệt vải, chất thải rắn bao gồm bụi bông, vải vụn từ se
sợi, dệt, cắt may; bã kén từ ƣơm tơ, kéo sợi, xỉ than, bao bì, thùng đựng hoá chất,
nguyên liệu, Các làng nghề may gia công, da giầy tạo ra chất thải rắn nhƣ vải vụn,
da vụn gồm da tự nhiên, giả da, cao su, chất dẻo, với lƣợng thải lên tới 2-5
tấn/ngày [2].
* Các làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Ở các làng nghề này, chất thải rắn không nhiều và hầu hết chất thải rắn ở đây
đƣợc tận dụng làm nhiên liệu trong sinh hoạt hàng ngày ở các hộ gia đình.
* Các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá:
Tại các làng nghề này, chất thải rắn chủ yếu là đá vụn, vỉa đá nhỏ. Đây là
những loại chất rắn khó phân hủy, lƣợng thải lớn, chứa nhiều bụi đá với hàm lƣợng
SiO
2
cao. Tiếng ồn ở các làng nghề này là rất lớn vƣợt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều
lần. Ngoài ra còn có các giẻ lau các dung môi, hoá chất xử lý màu, dầu mỡ của các
động cơ, máy móc cũng gây ô nhiễm môi trƣờng nhiêm trọng.
1.2.3. Vấn đề về bệnh nghề nghiệp làng nghề
Báo cáo về hiện trạng môi trƣờng của Bộ TN-MT nêu rõ: Thời gian gần đây
tại nhiều làng nghề, tỷ lệ ngƣời mắc bệnh (đặc biệt là nhóm ngƣời trong độ tuổi lao
động) đang có xu hƣớng gia tăng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình
của ngƣời dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học 22 Phạm Viết Duy
trung bình toàn quốc và so với làng không làm nghề tuổi thọ này cũng thấp hơn từ 5-10
năm [2], [17].
Theo thống kê tại tỉnh Hà Nam, so sánh giữa 7 làng nghề và 7 làng không
làm nghề, tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da, tiêu chảy, hô hấp và đau mắt tại 7 làng nghề
mắc các bệnh phổ biến: phụ khoa 13-38%, tiêu hoá 8-30%, viêm da 4,5-23%, hô
hấp 6-18%, đau mắt 9-15% [4].
1.2.3.3. Bệnh nghề nghiệp tại làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da
Bệnh nghề nghiệp tại các làng nghề dệt nhuộm, ƣơm tơ đƣợc gây nên bởi các
yếu tố nhƣ: tiếng ồn, bụi, bụi bong, hóa chất, hơi khí độc, nƣớc thải chứa Javen và
các loại hóa chất độc. Theo một kết quả điều tra tại 4 làng nghề dệt lụa cho thấy
ngƣời lao động có tỷ lệ mắc bệnh hô hấp là 5,5%; đau lƣng là 13%; giảm thị lực là
15,8%; bệnh về tai chiếm 9,5% trên tổng số ngƣời đến khám chữa bệnh tại trạm y tế
của địa phƣơng [2]. Trong số những bệnh cấp tính thì bệnh đau đầu, mất ngủ, suy
nhƣợc thần kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (46%) và trong số những bệnh mãn tính thì
bệnh xƣơng khớp cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (gần 30%).
1.2.3.4. Bệnh nghề nghiệp tại làng nghề thủ công, mỹ nghệ
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ do sử dụng các nguyên liệu sơn, dầu,
aceton, xylen, toluene, benzene,…nên đã gây ra các bệnh phổ biến nhƣ: Bệnh hô
hấp, bệnh ngoài da, ung thƣ [2].
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ƣơng năm 2006, tỷ
lệ ngƣời sống trong khu vực làng nghề mắc bệnh hoặc xuất hiện các triệu chứng
bệnh cao hơn so với những ngƣời thuần nông (88,1% so với 52,2%) [2].
1.2.3.5. Bệnh nghề nghiệp tại làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác
đá
Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây
dựng, ngƣời dân phải trực tiếp sống trong môi trƣờng có nồng độ bụi, tiếng ồn lớn,
các khí độc cao nên tỷ lệ mắc bệnh về đƣờng hô hấp, bệnh về da rất cao. Một số bệnh
điển hình tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá nhƣ bệnh tai
mũi họng, bệnh hô hấp, bệnh mắt, bệnh thần kinh mệt mỏi, rối loạn tâm thần. Tỷ lệ
mắc bệnh tại các làng nghề này rất cao. Theo số liệu điều tra của Viện Khoa học và
Công nghệ Môi trƣờng (8-12/2002), tại làng nghề Đông Tân - Thanh Hóa, làng nghề
Kiện Khê - Hà Nam, tỷ lệ mắc bệnh do nghề nghiệp là hơn 50% [2].