Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu với thời gian 02 năm, dưới sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, thầy
giáo hướng dẫn, bạn bè và đồng nghiệp tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học
với đề tài “Nghiên cứu áp dụng các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và
bệnh nghề nghiệp ở các làng nghề chế tác đá huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Môi trường - Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ, truyền đạt kiến thức làm nền
tảng cho tôi hoàn thành khoá học này.
Xin chân thành cảm ơn Viện Môi trường Nông nghiệp - Viện KHNNVN và
Tổng Công ty ĐTPT cao su Nghệ An - Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đã
tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian và công việc để tôi có thể tập trung nghiên cứu
hoàn thành luận văn đúng hạn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS. Vũ Thắng – phó bộ
môn Hoá Môi trường - Viện Môi trường Nông nghiệp - Viện KHNNVN đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn bác Nguyễn Quang Diệu (Trưởng ban quản lý làng
nghề) cùng với chính quyền địa phương, các chủ doanh nghiệp, công nhân viên…
làng nghề Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã đóng góp những ý kiến quý
báu và giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được nghiên cứu, khảo sát, thu thập
tài liệu trong thời gian thực hiện luận văn.
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được nguồn động viên
to lớn của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 11 năm 2011
Học viên
Phạm Viết Duy
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
Ô nhiễm môi trường làng nghề là nguyên nhân gây ra các bệnh, dịch cho
người dân đang lao động và sinh sống chính ở làng nghề. Một số kết quả điều tra
nghiên cứu đã cho thấy số người mắc bệnh chung tại các làng nghề cao gấp nhiều
lần so với những làng nghề thuần nông. Tuổi thọ trung bình của người dân tại các
làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
2
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Có khoảng 31% số người lao động tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp
[2].
Làm thế nào để bảo vệ sức khỏe cho người lao động và cộng đồng trong các
làng nghề là câu hỏi luôn được các cấp, các ngành đặt ra và quan tâm từ lâu. Cho
đến nay đã có nhiều chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu được triển khai và đã đề
xuất ra không ít giải pháp khoa học, công nghệ, y học để bảo vệ sức khỏe người lao
động trong nghành nghề nông thôn nói riêng và người lao động nói chung. Tuy
nhiên, TNLĐ và tỷ lệ BNN từ ngành nghề nông thôn vẫn đang gia tăng nhanh
chóng, điều này phản ánh việc áp dụng các giải pháp đã được nghiên cứu vào thực
tế vẫn còn hạn chế, đem lại hiệu quả chưa cao. Công tác giảm ô nhiễm môi trường
lao động, ngăn chặn TNLĐ và BNN, chăm sóc sức khoẻ người lao động dường như
thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền địa phương, người tổ chức sản xuất,
người lao động và giữa các Bộ, ban, ngành [3], [5].
Ninh Vân là một xã nằm ở phía Tây Nam huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình từ lâu
đã được biết tới với nghề làm đá mỹ nghệ với những sản phẩm nổi tiếng xuất hiện ở
khắp nơi và phục vụ khắp mọi miền đất nước như: Nhà thờ đá Phát Diệm, lăng thánh
vẫn còn tồn tại những vấn đề về ô nhiễm môi trường, TNLĐ và BNN.
Để cải thiện môi trường lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người
lao động đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn. Tôi triển khai thực hiện đề tài “Nghiên
cứu áp dụng các giải pháp giảm thiểu ô nhiểm môi trường và bệnh nghề nghiệp ở
các làng chế tác đá huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình”.
2. MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN
- Đề xuất được giải pháp có hiệu quả và khả thi để cải thiện môi trường lao
động và sức khỏe người dân ở các làng nghề chế tác đá huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
- Xây dựng được mô hình điểm và đề xuất phương án tổ chức áp dụng các giải
pháp cải thiện môi trường lao động và BNN cho người lao động trong làng nghề chế
tác đá ở Hoa Lư-Ninh Bình nói riêng cũng như các làng nghề chế tác đá ở Việt Nam
nói chung.
3. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc luận văn gồm những phần chính như sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương 2: Phạm vi, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
4
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
5
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
nước trên toàn cầu. Cũng theo WHO, nếu hàm lượng bụi này vượt quá 20
microgram/m3, sức khỏe con người sẽ bị ảnh hưởng, cụ thể là gây nên các bệnh về
đường hô hấp như ung thu phổi, nhiễm trùng đường hô hấp…
Ô nhiễm không khí tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, nơi công cộng
có mật độ phương tiện giao thông cao ở các thành phố lớn như các thành phố ở Ấn
Độ, Pakistan, Iran. Chẳng hạn, thành phố Lahore (Pakistan) có hàm lượng bụi trong
không khí là 200 microgram/m3. Đây là thành phố lớn thứ 2 ở Pakistan và là trung
tâm kinh tế của nước này; thành phố Kanpur (Ấn Độ) có hàm lượng bụi trong
không khí là 209 microgram/m3. Thành phố này tập trung khoảng 5 triệu dân, khói
bụi từ các nhà máy cộng với số dân đông chính là những nguyên nhân góp phần làm
ô nhiễm môi trường nơi đây; thành phố Yasouj (Iran) có hàm lượng bụi là 215
microgram/m3, là nơi tập trung nhiều nhà máy sản xuất đường, điện, than,lọc
dầu,… là những tác nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường ở thành phố này [20].
Ô nhiễm tiếng ồn được xem là một trong những mối nguy hiểm lớn đối với
sức khoẻ của con người, nguy hiểm không khác gì các hiện tượng ô nhiễm khác.
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì trong vòng 3 thập kỉ trở lại đây
nạn ô nhiễm tiếng ồn đang trở nên bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và
chất lượng sống của con người, nhất là ở các quốc gia đang phát triển [23].
Báo cáo mới đây của Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA) cho biết hơn 41
triệu người tại những thành phố có từ 250.000 dân trở lên ở 19 nước châu Âu đang
phải chịu tiếng ồn ở mức từ 55 dB trở lên. Đây là ngưỡng mà Tổ chức Y tế Thế giới
cho rằng có thể gây ra những tác động về sức khỏe như ảnh hưởng đến giấc ngủ,
định này. Ví dụ tại Anh có tới 5 bệnh viện phải chịu mức tiếng ồn trên 80 dBA, tại
ấn Độ mức độ tiếng ồn đối với các bệnh viện ở Madurai là 72 dBA (cao nhất) và 57
dBA (trung bình).
Để hạn chế mức độ ô nhiễm không khí và tiếng ồn nhiều nước trên thế giới
hiện đang áp dụng nhiều phương pháp mới [22]. Tại châu Âu, người ta đã đưa ra
nhiều đạo luật mang tính bắt buộc áp dụng cho các cơ sở sản xuất, phải trang bị đầy
đủ phương tiện phòng hộ, khám bệnh định kỳ cho người lao động để can thiệp sớm
những loại bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với ô nhiễm không khí và tiếng ồn lâu
ngày gây ra.
1.1.3. Kinh nghiệm quản lý về an toàn lao động và an toàn sức khoẻ nghề
nghiệp
1.1.3.1. Kinh nghiệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Một trong các ví dụ điển hình của ILO về quản lý an toàn lao động được thực
hiện tại một số quốc gia châu Á và khu vực Thái Bình Dương là chương trình cải
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
7
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
thiện điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (WISE – Working
Improvement in Small and Medium Enterprises). Chương trình WISE được bắt đầu
thực hiện tại Philippines từ năm 1994 đã đề xuất 6 nguyên tắc cơ bản sau đây để tạo
thuận lợi cho việc tham gia vào các hoạt động quản lý an toàn lao động:
(1) Xây dựng chương trình thực hành tại mỗi cơ sở;
(2) Tập trung vào các kết quả đã đạt được;
(3) Kết hợp điều kiện làm việc với các mục tiêu quản lý khác;
gang tay an toàn v.v...[1], [16].
Các cơ quan quản lý an toàn lao động của Thái Lan đã tổng kết 5 loại nguyên
nhân chính ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động có liên quan tới hành vi không
an toàn của người lao động và môi trường lao động tồi tệ như sau:
1. Không có chương trình kiểm tra liên tục về kiểm soát môi trường và kiểm
tra sức khoẻ tại những nơi làm việc có các yếu tố có hại;
2. Thiếu các dịch vụ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các cơ
quan chính phủ trong việc kiểm soát môi trường lao động và tiến hành kiểm tra y tế
cho người lao động;
3. Thiếu thông tin hoặc các ấn phẩm về quản lý an toàn lao động theo đặc thù
từng ngành nghề lao động;
4. Thiếu các nghiên cứu theo hướng phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, cũng như các nghiên cứu cải thiện môi trường lao động gắn với sức
khoẻ con người;
5. Sự kém hiểu biết của người lao động về vấn đề an toàn lao động do thiếu
kiến thức phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
Năm 1976, Thái Lan ban hành tiêu chuẩn an toàn trong xây dựng là bước
đầu tiên cho sự ban hành các luật lệ an toàn lao động khác. Năm 1998, đạo luật mới
về bảo hộ lao động được ban hành khi Thái Lan bước vào thời kỳ kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội quốc gia lần thứ 8 (1997-2001). Theo đạo luật này, Uỷ ban quốc
gia chịu trách nhiệm về quản lý an toàn lao động trong toàn quốc được thành lập.
Có nhiều tổ chức của chính phủ có trách nhiệm quản lý an toàn lao động,
trong đó các cơ quan quan trọng nhất nằm trong Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội,
Bộ Y tế và Bộ Công nghiệp. Năm 1998, Vụ Bảo hộ lao động và Phúc lợi xã hội
(DLPW) thuộc Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội đã đưa vào sử dụng hệ thống quản
lý an toàn lao động đã được xây dựng và hoàn thiện để áp dụng ở các địa điểm làm
việc khác nhau. Bên cạnh đó, nhiều quy phạm đã được các Bộ ban hành, tuy nhiên,
các quy phạm này không bao trùm tất cả các ngành nghề, đặc biệt là không chú
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
sức khỏe. Bên cạnh đó, xem xét lại tình trạng ban đầu cũng có ích như là sự giới
thiệu tiếp theo của việc thiết lập OHSAS 18001 và là cơ sở cho việc chuẩn bị sự
thay đổi tác động của an toàn và sức khỏe. Về cơ bản mục đích và nội dung của việc
xem xét lại tình trạng ban đầu của OHSAS 18001 tương tự của ISO 14001. Nó bao
gồm 5 mục đích: kiểm tra tiểu sử của doanh nghiệp, hiện trạng đầu tư, nghiên cứu
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
10
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
hệ thống quản lý đang thực hiện, phát hiện và đánh giá rủi ro, thực hiện yêu cầu luật
pháp. Trong đó việc phát hiện rủi ro cần nhiều nhân lực tham gia. Phương pháp phổ
biến nhất để phát hiện rủi ro đối với một cơ sở sản xuất là phân tích an toàn trong
công việc, phân tích kết quả và phương thức của việc hỏng hóc, nghiên cứu mối
nguy hiểm và khả năng có thể xảy ra rủi ro.
Tuy vậy, kết quả kiểm tra việc thực hiện hệ thống an toàn lao động ở các nhà
máy thuộc khối công nghiệp của Đài Loan cho thấy tỷ lệ thực hiện hệ thống này ở
các cơ sở vẫn còn thấp.
1.1.3.4. Dự án CLEAN-3D ở Hàn Quốc
Từ tháng 11 năm 2001, Cục An toàn Vệ sinh Lao động Hàn Quốc đã phối
hợp với Bộ Lao động để thực hiện Dự án CLEAN-3D cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ nhằm giúp họ tạo lập nơi làm việc an toàn thoải mái bằng việc loại bỏ những
yếu tố nguy hiểm và độc hại [16], [17], [21]. (3D là viết tắt của các từ Nguy hiểm –
Danger, Bẩn thỉu – Dirtiness, và Khó khăn – Difficulty). Dự án này nhằm mục tiêu
loại bỏ các vấn đề liên quan đến nguy hiểm, bẩn gây ô nhiễm, và khó khăn trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo lập sự an toàn và thoải mái khi làm việc. Sơ đồ
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
-
Trợ giúp việc hướng dẫn chăm lo sức khoẻ.
1. Tạo dựng nơi làm việc sạch sẽ: Đói tượng chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ đang giải quyết vấn đề liên quan đến công tác an toàn lao động hoặc
môi trường làm việc yếu kém;
2. Trợ giúp kỹ thuật an toàn lao động: Đói tượng là doanh nghiệp vừa và nhỏ
đã để xảy ra tai nạn lao động trong vòng hai năm qua hoặc doanh nghiệp trong
ngành mà lao động thường xuyên phải tiếp xúc với các chất hóa học nguy hiểm và
độc hại. Nhóm công tác trợ giúp kỹ thuật có trách nhiệm giúp đỡ doanh nghiệp xoá
bỏ các yếu tố 3D và cải thiện môi trường làm việc nghèo nàn thông qua việc đi
thăm cơ sở sản xuất ít nhất 4 lần một năm;
3. Trợ giúp công tác tự kiểm tra: Các cơ quan chức năng thông qua các loại
thiết bị cần thiết nhất định kiểm tra công tác an toàn lao động tại các cơ sở sau đó
hướng dẫn các cơ sở tự sử dụng các loại thiết bị này để thường xuyên kiểm tra cong
tác an toàn lao động trong bản thân doanh nghiệp;
4. Trợ giúp các bên hợp đồng phụ có đối tượng là các doanh nghiệp lớn ký
hợp đồng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
5. Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe áp dụng cho các doanh nghiệp loại nhỏ có
quy mô sử dụng thường xuyên dưới 10 lao động hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đã phát hiện hoặc nghi ngờ có bệnh nghề nghiệp.
Thành công của Dự án CLEAN-3D tại Hàn Quốc là tăng số lượng việc làm
đồng thời giảm tai nạn lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, dự
án góp phần tạo nên môi trường trong sạch, an toàn và thuận tiện cho mọi người và
mọi lao động tại nơi làm việc.
1.2. TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM
triệu nhân công, phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước. Trên cả nước, làng
nghề phân phố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng khoảng 800 làng (chiếm
67,3%), miền Trung 20,5% và miền Nam 12,2%. Các tỉnh có số lượng làng nghề
đông bao gồm: Hà Tây cũ có 280 làng, Thái Bình có 18 làng, Thanh Hoá có 127 làng,
Nam Định có 90 làng, Hải Dương có 65 làng [16].
Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh
tế thị trường, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Quá trình công nghiệp
hóa cùng với việc phát triển ngành nghề nông thôn đã làm tăng mức thu nhập bình
quân của người dân, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến.
Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát
triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu
vực nông thôn.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
13
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
1.2.2. Vấn đề về môi trường làng nghề
Bên cạnh mặt tích cực và những đóng góp lớn cho nền kinh tế - xã hội thì sự
phát triển của hoạt động sản xuất làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt về
vấn đề ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân và ngày càng
trở thành vấn đề bức xúc.
1.2.2.1. Môi trường không khí tại các làng nghề
* Đặc trưng khí thải và ô nhiễm không khí tại các làng nghề:
Khí thải ở các làng nghề thường chứa nhiều thành phần các chất ô nhiễm
không khí như: bụi, CO2, CO, SO2, NOx, chất hữu cơ bay hơi. Ngoài ra, các khí độc
Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá, ô nhiễm không
khí diễn ra phổ biến và mức độ ngày càng nghiêm trọng. Đối với các làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng, chất lượng không khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt
nhiên liệu đã sinh ra các khí SO2, CO, CO2, NO và nhiều loại chất thải nguy hại
khác [8]. Trong khi đó, ở các làng nghề khai thác đá, bụi phát sinh từ quá trình khai
thác và chế tác đá là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm không khí ở đây. Kết
quả khảo sát ở khu vực làng nghề cho thấy hàm lượng bụi vượt TCVN từ 3 – 8 lần,
hàm lượng SO2 có nơi vượt đến 6,5 lần [2].
1.2.2.2. Môi trường nước mặt và nước ngầm tại các làng nghề
* Đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề
Ô nhiễm môi trường nước với các chất thải độc hại khó phân huỷ đang là
một vấn nạn nóng bỏng tại các làng nghề. Khối lượng và đặc trưng nước thải sản
xuất ở các làng nghề phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ và nguyên liệu dùng trong
sản xuất. Một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng, nhôm,….trong nước
thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như các hóa chất, axit, muối kim loại, xyanua và
các kim loại nặng như Hg, Pb, Cr, Zn, Cu,…. vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Nước thải từ các làng nghề ươm tơ, dệt nhuộm có BOD5, COD và độ màu rất cao
(vượt tiêu chuẩn 2-5 lần), gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt [8].
Đối với các làng nghề chế biến lương thực và thực phẩm, nước thải rất giàu
chất hữu cơ, các chỉ tiêu: BOD, COD, SS đều lớn hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn,
phát sinh rất nhiều các chất ô nhiễm thứ cấp dạng khí: CH4, H2S, NH3… và là môi
trường thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển [4].
Tại các làng nghề tái chế phế liệu, nước thải chứa nhiều chất độc hại như kim
loại nặng (Zn, Fe, Cr, Ni,….), dầu mỡ công nghiệp, ngoài ra còn tạo ra muối Hg,
xyanua, oxit kim loại và các tạp chất khác.
Tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ, hàm lượng COD và BOD5 trong nước
thải thường vượt TCVN từ 2-5 lần và từ 5,5-8,5 lần.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
phố Hà Nội sau khi mở rộng đã lên tới 207,3 m3/ngày (tương đương với khoảng 90
tấn/ngày) chưa tính chất thải rắn chăn nuôi gia súc, gia cầm [2].
* Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ:
Chất thải rắn ở nhóm làng nghề này giàu chất hữu cơ, hầu hết chưa được
quan tâm xử lý, xả thải bừa bãi vào môi trường. Các làng nghề này thải ra khối
lượng lớn chất thải rắn (bã thải có độ ẩm rất cao và chiếm tới 50% nguyên liệu, chủ
yếu là xơ khoảng 10% và tinh bột khoảng 4-5%). Chẳng hạn, sản lượng 52.000 tấn
tinh bột/năm, làng nghề Dương Liễu hàng năm phát sinh tới 105.768 tấn bã thải [2].
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
16
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Loại hình giết mổ gia súc, gia cầm cũng tạo ra một lượng chất thải rắn đáng kể.
Chất thải rắn loại này ngoài phân còn chứa một lượng không nhỏ mỡ động vật rất
chậm phân huỷ.
* Các làng nghề tái chế phế liệu:
Ở nhóm làng nghề này, chất thải rắn có thành phần phức tạp, khó phân huỷ.
Làng nghề tái chế kim loại, nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm: bavia, bụi kim
loại, phoi, rỉ sắt, lượng phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày [2].
Làng nghề tái chế giấy, nhựa thải ra các chất thải rắn bao gồm: nhãn mác, bột
giấy, băng ghim, băng dán, tạp chất không tái sinh được,…
* Các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da:
Các làng nghề ươm tơ, dệt vải, chất thải rắn bao gồm bụi bông, vải vụn từ se
sợi, dệt, cắt may; bã kén từ ươm tơ, kéo sợi, xỉ than, bao bì, thùng đựng hoá chất,
nguyên liệu,...Các làng nghề may gia công, da giầy tạo ra chất thải rắn như vải vụn,
Một số nghiên cứu tại một số làng nghề ở Hà Nội cũng cho thấy giữa các khu
vực làng nghề và không làm nghề, tỷ lệ mắc bệnh của các đối tượng khu vực làng
nghề cao hơn hẳn so với khu vực làng thuần nông.
Ở các làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệp cũng như tỷ lệ người
mắc bệnh nghề nghiệp là không giống nhau [8].
Trong một nghiên cứu của Viện BHLĐ năm 2005, trong số các bệnh, mắc
nhiều nhất là các bệnh về đường hô hấp (viêm họng: 30,56%, viêm phế quản: 25%),
sau đó là các bệnh cơ xương khớp (đau khớp xương: 15,28%, đau dây thần kinh:
9,72%), thấp hơn là các bệnh về mắt (11,11%), bệnh về tiêu hoá, bệnh về da…[14].
Theo một khảo sát mới đây của Bộ Lao động thương binh xã hội, thì có
khoảng 31% số người lao động tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề
nghiệp, trong đó chủ yếu là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt
(29,7%), bệnh điếc tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%) [2].
1.2.3.1. Bệnh nghề nghiệp tại các làng nghề tái chế phế liệu
Tình trạng bệnh nghề nghiệp tại hầu hết các làng nghề tái chế phế liệu đang
ngày càng gia tăng, các bệnh phổ biến như: Bệnh hô hấp, bệnh ngoài da, thần kinh
và đặc biệt là bệnh ung thư.
Có 4 loại bệnh có tỷ lệ mắc cao tại nhóm làng nghề tái chế kim loại là bệnh
phổi thông thường, bệnh tiêu hóa, mắt và phụ khoa, ung thư phổi (0,35-1%) và lao
phổi (0,4-0,6%) [7].
1.2.3.2. Bệnh nghề nghiệp tại làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn
nuôi và giết mổ
Yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe phố biến tại các làng nghề này là bức xạ
nhiệt, vi sinh vật gây bệnh, hóa chất, hơi khí độc, nước thải và chất thải rắn. Các
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
18
Phạm Viết Duy
Công nghệ Môi trường (8-12/2002), tại làng nghề Đông Tân - Thanh Hóa, làng nghề
Kiện Khê - Hà Nam, tỷ lệ mắc bệnh do nghề nghiệp là hơn 50% [2].
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
19
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo kết quả điều tra của Trung tâm Y tế Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), với hơn
1.200 người lao động ở làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, tỷ lệ người dân làm nghề
bị mắc bệnh cao hơn khá nhiều so với khu vực dân cư lân cận không tham gia nghề.
Theo số liệu của UBND TP. Đà Nẵng, đến năm 2010, ước tính làng đá mỹ
nghệ Non Nước có khoảng 20% trong số 5.000 công nhân lao động bị bệnh phổi do
hít bụi đá, và việc dùng axit tưới lên đá để làm mềm đá và sau đó dùng giấy nhám
đánh bóng bằng tay khiến axit ăn mòn da tay là không thể tránh khỏi.
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề không những làm gia tăng bệnh nghề
nghiệp mà còn gây tổn thất đối với nền kinh tế và làm nảy sinh xung đột môi trường
giữa các làng nghề, vì vậy cần có các giải pháp KHCN giảm thiểu ô nhiễm môi
trường và bệnh nghề nghiệp làng nghề nói chung và chế tác đá nói riêng.
1.2.4. Các giải pháp KHCN giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bệnh nghề
nghiệp làng nghề
Phát triển bền vững là quan điểm chung đối với mọi sự phát triển ở nước ta,
trong đó có làng nghề, đã được khẳng định trong chủ trương, đường lối phát triển
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Báo cáo môi trường quốc gia 2008 [2], [18], đã nêu ra 6 nhóm giải pháp chủ
yếu để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề, bao gồm:
(1) Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về BVMT
(6) Một số giải pháp hạn chế và nghiêm cấm.
+ Hạn chế phát triển mới, hạn chế mở rộng các cơ sở sản xuất tái chế chất thải
(nhựa, kim loại, giấy, cao su), dệt nhuộm và thuộc da thủ công trong các làng nghề.
+ Nghiêm cấm sử dụng trong làng nghề những phương pháp sản xuất thủ
công và thiết bị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
+ Nghiêm cấm tiến hành trong làng nghề các hoạt động sử dụng quặng có
tính phóng xạ, tái chế chất thải nguy hại.
Nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, các cấp quản lý môi trường
Trung ương cần tập trung triển khai các giải pháp thuộc nhóm (1); các địa phương
chú trọng thực hiện các giải pháp thuộc nhóm (2), (3) và (4); các bộ, ngành tập
trung thực hiện, áp dụng các giải pháp thuộc nhóm (5) và (6).
Trước thực trạng gia tăng BNN tại các làng nghề đã có nhiều nghiên cứu đưa
ra các giải pháp nhằm giảm thiểu BNN như: Sản xuất sạch hơn, VSATLĐ, mở các
lớp tập huấn về VSATLĐ…tuy nhiên các giải pháp chưa được áp dụng đồng bộ nên
hiệu quả còn nhiều hạn chế.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
21
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
1.3. TỔNG QUAN VỀ NGHỀ KHAI THÁC VÀ CHẾ TÁC ĐÁ
1.3.1. Tình hình khai thác và chế tác đá trong nước
Thời kỳ đồ đá đã lùi xa vào quá khứ nhường chỗ cho thời kỳ đồ điện tử, thế
nhưng ngày nay trong mỗi gia đình người dân đất Việt vẫn còn không ít những vật
dụng bằng đá tồn tại song hành cùng thời gian.Từ xa xưa, nghề khai thác và chế tác
các sản phẩm dân dụng, mỹ nghệ từ đá đã phát triển khá mạnh, ban đầu cũng chỉ
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
hoa của các làng nghề truyền thống kết hợp với công nghệ hiện đại, các làng nghề
chế tác đá mới cũng đã xuất hiện trên khắp mọi miền của đất nước như: làng đá
Long Châu (Chương Mỹ, Hà Nội), Đại Lộc (Quảng Nam), Suối Giàng (Văn Chấn,
Yên Bái), Hải Lựu (Sông Lô, Vĩnh Phúc),…cũng như nhiều công ty đá mỹ nghệ
khác: công ty TNHH đá mỹ nghệ Thái Bình, Công ty TNHH xây dựng Đồng Tiến
(thị xã Quảng Trị), Công ty TNHH Thái Thùy Linh (Chương Mỹ, Hà Nội),…
Nghề đá phát triển, thu nhập bình quân của người dân làm nghề tạc đá ngày
càng ổn định và khấm khá hơn.
Tuy nhiên, để trở thành một làng nghề có quy mô lớn, phát triển theo hướng
bền vững và đủ sức vươn ra thị trường trong và ngoài nước, nghề đá cần có sự hỗ
trợ nhiều mặt từ chính quyền địa phương và các ngành chức năng ở tỉnh và huyện.
Trong đó, các giải pháp về quy hoạch, thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, cải tiến
mẫu mã, công nghệ, môi trường, an toàn vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp,…là
những yếu tố cần xem xét và thực thi một cách đồng bộ với những bước đi thích
hợp. Được như vậy, nghề khai thác và sản xuất các sản phẩm từ đá sẽ góp phần đắc
lực vào công tác giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông
thôn ở địa phương.
1.3.2. Làng nghề đá Hoa Lư – Ninh Bình
1.3.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Huyện Hoa Lư có vị trí bao bọc phía bắc và tây với thành phố Ninh Bình,
phía bắc giáp huyện Gia Viễn, phía tây giáp thị xã Tam Điệp, phía nam giáp huyện
Yên Mô, phía đông giáp huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và thành phố Ninh Bình.
Hoa Lư có diện tích tự nhiên 139,7 km² và dân số 103,9 nghìn người (2003).
11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Trường Yên, Ninh Hòa, Ninh Giang,
Ninh Mỹ, Ninh Khang, Ninh Xuân, Ninh Vân, Ninh Hải, Ninh An, Ninh Thắng và
thị trấn Thiên Tôn [11], [12], [13].
Về sông ngòi, huyện Hoa Lư giáp với 2 con sông lớn là sông Đáy và sông
Hoàng Long ở phía bắc, sông Sào Khê và sông Chanh chảy dọc huyện nối sông
1.264 ha, dân số 10.197 người (tính đến tháng 10/2011). Phía Bắc giáp xã Ninh Hải,
Ninh Thắng; Phía Nam giáp thị xã Tam Điệp; Phía Đông giáp xã Ninh An và huyện
Yên Mô; Phía Tây giáp thị xã Tam Điệp. Nghề nghiệp chính của người dân nơi đây
là làm nông nghiệp, khai thác chế biến đá vật liệu xây dựng và đá mỹ nghệ, bên
cạnh đó còn có một số gia đình làm thêu ren, buôn bán nhỏ và vận tải cơ khí phục
vụ sản xuất. Là xã miền núi có giao thông thuận lợi, lại nằm ngay sát quốc lộ 1A
nên hoạt động sản xuất, giao thương của xã có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển kinh tế - xã hội. Cách đây khoảng 400 năm, Ninh Vân đã có nghề khai thác và
Luận văn Thạc sĩ Khoa học
24
Phạm Viết Duy
Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội
chế tác đá mỹ nghệ, hiện nay xã Ninh Vân đã có 5/13 thôn được công nhận là làng
nghề truyền thống lâu đời ở Ninh Bình. [11],[13].
Được thiên nhiên ưu đãi với diện tích núi đá hơn 400 ha, nghề làm đá truyền
thống ở Ninh Vân ngày càng phát triển. Hàng năm, một khối lượng lớn đá xây dựng
được cung cấp thường xuyên cho các nơi. Ngoài ra, với tài nghệ và đôi bàn tay khéo
léo, người dân nơi đây còn là những nghệ nhân chế tác đá mỹ nghệ, sản phẩm đá
Ninh Vân xuất hiện ở khắp nơi như một biểu tượng của tài năng con người có thể
biến những khối đá thô sơ thành những sản phẩm nghệ thuật của nhân loại. Trước
đây thực dân Pháp cũng khai thác đá xây dựng và đá mỹ nghệ thủ công để làm cầu,
đường và xây công sở. Rất nhiều công trình nổi tiếng xây dựng từ thời Pháp thuộc
có sự tham gia của nghệ nhân làng đá Ninh Vân như: kho bạc Nam Định, mố cầu
Long Biên, nhà thờ đá Phát Diệm, lăng thánh mẫu Liễu Hạnh, phủ Giày Nam Định.
Ngày nay sản phẩm đá được dùng để xây dựng cụm tượng đài Bà mẹ Tổ quốc ở TP