Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
ĐẶNG CÔNG HÒA ĐỔI MỚI CÔNG TÁC BỔ NHIỆM
VÀ LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ QUẢN LÝ CÁC TRƢỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN TAM DƢƠNG,
TỈNH VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH. NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Đổi mới công tác bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ quản lý
các trường trung học cơ sở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” được thục
hiện từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 8 năm 2014.
Tôi xin cam đoan:
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông
tin đã được chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn theo đúng
quy định.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và
chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Những đóng góp mới của luận văn 4
9. Cấu trúc luận văn 5
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỔ NHIỆM VÀ LUÂN
CHUYỂN CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 7
1.2.1. Quản lý 7
1.2.2. Tổ chức 9
1.2.3. Cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ quản lý 15
1.2.4. Chất lượng đội ngũ CBQL 18
1.2.5. Bổ nhiệm CBQL 21
1.2.6. Luân chuyển cán bộ quản lý 22
1.3. Trường THCS và CBQL trường THCS 23
THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 56
2.4.1. Bổ nhiệm CBQL trường THCS 56
2.4.2. Luân chuyển cán bộ quản lý trường THCS 62
2.4.3. Nhận xét chung và bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức bổ
nhiệm và luân chuyển CBQL trường THCS 66
Kết luận chương 2 69 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chƣơng 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BỔ NHIỆM VÀ LUÂN
CHUYỂN CBQL NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI
NGŨ CBQL TRƢỜNG THCS HUYỆN TAM DƢƠNG, TỈNH
VĨNH PHÚC 70
3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo việc đề xuất các biện pháp 70
3.1.1. Bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ phải đạt mục đích nâng cao chất
lượng đội ngũ CBQL trường THCS 70
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 71
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính nhất quán 72
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.2. Một số biện pháp tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển CBQL các trường THCS 73
3.2.1. Vận hành tốt cơ chế lãnh đạo, quản lý đội ngũ CBQL trường THCS 73
3.2.2. Quy hoạch và bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ CBQL trường THCS 76
3.2.3. Xây dựng kế hoạch bổ nhiệm và luân chuyển CBQL trường THCS
trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt 81
3.2.4. Phát huy dân chủ trong bổ nhiệm và luân chuyển CBQL trường THCS 84
3.2.5. Tăng cường bồi dưỡng và tự bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường
THCS đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay 87
3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
3.4. Điều kiện thực hiện các biện pháp nêu trên 91
tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 50
Bảng 2.5. Độ tuổi và giới tính của đội ngũ CBQL trường THCS huyện
Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 52
Bảng 2.6. Thâm niên quản lý của đội ngũ CBQL các trường THCS
huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 53
Bảng 2.7. Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBQL các trường THCS
huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 54
Bảng 2.8. Trình độ nghiệp vụ quản lý của CBQL các trường THCS
huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 55
Bảng 2.9. Kết quả tổ chức bổ nhiệm đội ngũ CBQL các trường THCS
huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2009 đến nay 58
Bảng 2.10. Kết quả luân chuyển CBQL các trường THCS huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2009 đến nay 63
Bảng 3.1. Kết quả kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp 93
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện
Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng và hoàn thiện cơ quan tổ chức xây dựng đảng
lên vị trí hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Người quan niệm tổ chức và
cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là nguyên nhân của thành công hay thất
bại trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối
làm việc” Người viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành
công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [13].
Kế thừa và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn
quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, cán bộ được xác định là nhân tố quyết
định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất
trạng giáo điều trong tư duy, đẩy lùi cách nhìn cũ, kìm hãm sự phát triển. Luân
chuyển nhằm đổi mới toàn diện phong cách làm việc, tinh thần trách nhiệm
trước công việc, tính tiên phong gương mẫu trước quần chúng của cán bộ.
Tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ càng có ý nghĩa hơn đối với
CBQL trường trung học cơ sở (THCS) khi họ là người chịu trách nhiệm quản
lý toàn bộ hoạt động của nhà trường nhằm phát triển mục tiêu giáo dục THCS.
Đội ngũ CBQL trường THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc được bổ
nhiệm từ giáo viên, đa số có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn đạt
chuẩn, song để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác hiện nay, chất lượng đội
ngũ CBQL trường THCS còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả công tác
còn hạn chế. Một bộ phận CBQL trường THCS còn tư tưởng trông chờ, ỷ nại,
tư duy chậm đổi mới, lối làm việc dựa theo kinh nghiệm chủ quan, thiếu năng
động, sáng tạo; Ngoài ra, áp lực từ phía phụ huynh học sinh đòi hỏi chất lượng
giảng dạy của các nhà trường ngày càng cao, tình trạng cục bộ địa phương
Những yếu tố này đã tác động rất lớn đến CBQL và làm ảnh hưởng đến chất
lượng giáo dục chung của nhà trường.
Như vậy, cùng với các biện pháp khác như đánh giá, quy hoạch và đào tạo
bồi dưỡng… thì bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ là những biện pháp tích cực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3
trong việc thực hiện chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Từ các vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài:
“Đổi mới công tác bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ quản lý các trường trung
học cơ sở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” làm luận văn nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp tổ chức bổ nhiệm và luân
chuyển cán bộ nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường
THCS của huyện trong giai đoạn hiện nay.
bản, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của các cấp quản lý giáo dục (QLGD),
các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra
Xây dựng và sử dụng các mẫu điều tra, thu thập các số liệu về việc đánh
giá thực trạng, hiệu quả và ý kiến của CBQL các phòng giáo dục, các trường
THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc về tổ chức bổ nhiệm, luân chuyển
CBQL trường THCS.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Tiếp cận và xem xét về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường
THCS của huyện nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Qua thực tiễn chỉ đạo và quản lý giáo dục.
7.3. Nhóm phương pháp bổ trợ
7.3.1. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của một số lãnh đạo địa phương, ngành về các biện
pháp tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ CBQL các trường THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
7.3.2. Phương pháp thống kê toán học
Áp dụng để xử lý số liệu và phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu.
8. Những đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng được hệ thống lý luận tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển
CBQL trường THCS.
- Chỉ ra thực trạng việc tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển CBQL các
trường THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5
- Đề ra được các biện pháp tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển CBQL nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường THCS huyện Tam Dương, tỉnh
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỔ NHIỆM VÀ LUÂN CHUYỂN
CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tổ chức bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ nói chung và CBQL giáo dục
nói riêng trong những năm gần đây luôn là vấn đề mang tính thời sự của công
tác tổ chức cán bộ - một mặt quan trọng của khoa học quản lý.
Bổ nhiệm và luân chuyển là những thuật ngữ rất quen thuộc của đối với
các nhà lãnh đạo và quản lý. Trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và đặc
biệt trong công tác tổ chức cán bộ từ trung ương đến các địa phương, ngành
thuật ngữ này thường được nói đến.
Đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học viết về đề tài nâng cao năng lực
hoặc chất lượng đội ngũ CBQL các trường trung học cơ sở (THCS), trường tiểu
học như:
“Thực trạng và các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ
CBQL trường THCS tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Công Duật;
“Biện pháp tổ chức bổ nhiệm lại và luân chuyển cán bộ nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học tỉnh Phú Yên” của tác giả
Phí Thị Sen;
“Một số biện pháp năng cao kỹ năng quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng
trường tiểu học tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Đào Văn Thảo
Các luận văn này đi sâu vào việc nghiên cứu năng lực quản lý, chất lượng
đội ngũ CBQL và đưa ra các giải pháp như quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý, bổ nhiệm lại, nhằm nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng
quản lý và chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục ở các trường THCS, tiểu học
trên địa bàn của một huyện, một tỉnh cụ thể. Các luận văn kể trên chưa tập
trung đi sâu vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác tổ chức cán bộ, đặc
biệt là việc bổ nhiệm CBQL, một trong những biện pháp quan trọng góp phần
nâng cao năng lực quản lý và chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
Quản lý theo định nghĩa của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc là
"tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức".
Từ những dấu hiệu bản chất chung nhất của các định nghĩa trên, chúng ta
có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ
hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi
trường. Có thể nói quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động và là
một loại lao động đặc biệt, gắn với quá trình lao động tập thể và là kết quả của
sự phân công xã hội. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ
bản thân nhu cầu của mọi xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại. Quản lý là
một tất yếu lịch sử.
Như vậy quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của
con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ nó
chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua quá trình quản lý
nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
Nói về chức năng quản lý, các công trình nghiên cứu khoa học quản lý vẫn
còn những ý kiến chưa thống nhất trong khi sử dụng thuật ngữ “chức năng
quản lý”, song về cơ bản đã đồng nhất quản lý có 4 chức năng cơ bản: Kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Bốn khâu này liên quan mật thiết với
nhau và tạo thành một quá trình hoạt động tuần hoàn gọi là chu trình quản lý.
Trong chu trình đó tuy các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau nhưng
thực tế lại thực hiện đan xen nhau, khi thực hiện chức năng này bao giờ cũng
thực hiện đồng bộ các chức năng khác trong chu trình quản lý (trong chức năng
tổ chức có cả chức năng kế hoạch hoá, chỉ đạo và kiểm tra).
giác quan trọng nhất của con người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Cho đến nay, tuỳ thuộc góc độ nhìn nhận khác nhau mà người ta đưa ra
những những định nghĩa khác nhau về tổ chức:
Dưới góc độ xã hội học, người ta hiểu tổ chức là những thực thể xã hội phối
hợp với nhau có mục đích, là những hệ thống xã hội được cơ cấu theo mục tiêu.
Dưới góc độ kinh tế, người ta lại hiểu tổ chức là như là công cụ của các
nhà quản lý doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ.
Dưới góc độ tâm lý xã hội, tổ chức được hiểu là một nhóm có tổ chức của
các cá nhân hoặc là những hệ thống tương tác xử lý các thông tin và đưa ra
quyết định.
Theo lý thuyết hệ thống thì tổ chức là những hệ thống được tạo bởi những
nhân tố lệ thuộc chung với nhau, được vận hành theo mục tiêu, trong một giới
hạn và trạng thái cân bằng.
Có thể nhận thấy rằng tổ chức luôn phản ảnh hình ảnh của xã hội, là sợi
dây liên kết, gắn bó con người, các thành viên lại với nhau thành các nhóm, các
bộ phận xã hội tồn tại và hoạt động trên cơ sở mục tiêu chung, có sự quy định
của pháp luật.
Mác Vebơ (Max Weber 1864-1920), người sáng lập ra thuyết tổ chức đã
đề ra mô hình tổ chức để quản lý các doanh nghiệp lớn. Những yếu tố chủ yếu
trong mô hình tổ chức là sự phân công lao động rõ ràng, sắp xếp vị trí từng
người trong tổ chức, qui định nội qui và thủ tục quản lý, lựa chọn người một
cách nghiêm ngặt cùng với chế độ lương, thưởng, đề bạt hợp lý.
Sestơ Banat (Chester Barnard 1886-1961), sáng lập ra lý thuyết về tổ chức
lại đề ra 3 yếu tố hợp thành của một tổ chức, đó là sự sẵn sàng hợp tác, có mục
đích chung và có thông tin, đồng thời nghiên cứu những vấn đề khoa học quản
lý trong tổ chức như ra quyết định, lãnh đạo, đạo đức nội dung sâu sắc của
thuyết này là sự phản ánh các lực lượng tinh vi và phức tạp hình thành nên hoạt
bản này có quan hệ mật thiết với nhau và chúng ta tạo dựng một tổ chức từ
những con người và bố trí họ vào những công việc nhất định để rồi điều khiển,
kiểm tra hoạt động của họ. Đề tài này sẽ đi sâu vào nội dung thứ hai của công
tác tổ chức, đó là bố trí, sắp xếp và sử dụng con người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
Công tác tổ chức (hoạt động tổ chức) có thể hiểu là hoạt động nhằm thiết
lập, vận hành một tập thể, một tổ chức thông qua việc bố trí, sắp đặt con người
cũng như tác động đến nhu cầu, lợi ích tổ chức, ý chí, năng lực hoạt động thực
tiễn của con người nhằm hướng vào mục đích chung.
Khái quát lại, tổ chức là cấu trúc của những người kết lại thành nhóm hoạt
động theo lý tưởng, mục tiêu xác định có tính chất bền vững lâu dài mà từng thành
viên khi hoạt động riêng lẻ thì không thực hiện được lý tưởng, mục tiêu đó.
Có thể nói tổ chức và công tác tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt. Các
nhà nghiên cứu cho rằng 70% công việc quản lý con người thất bại là do công
tác tổ chức kém. Lênin đã khẳng định vai trò của tổ chức: “Trong công cuộc
giành chính quyền về tay giai cấp vô sản không có một vũ khí nào hơn đó là tổ
chức của mình, lĩnh vực trọng yếu nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ tổ chức’’.
Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay đã luôn luôn chú ý đến công tác tổ
chức cán bộ và coi đó là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với
sự nghiệp cách mạng nước ta ở từng thời kỳ, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII một lần nữa Đảng ta lại
khẳng định: “Đổi mới một bước tổ chức và cán bộ, nâng cao trình độ và sức
chiến đấu của đội ngũ đảng viên” và “Đảng phải lo cán bộ cho cả hệ thống
chính trị, trên tất cả các lĩnh vực. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và
quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành
viên hệ thống chính trị trong công tác cán bộ” [8].
Tổ chức, khoa học tổ chức có mặt ở khắp nơi, trong mọi lĩnh vực của đời
lý và đối tượng quản lý.
Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá. [9]
Vậy mục đích của tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa
và góp phần tăng thêm tính hiệu quả về mặt quản lý. Nội dung của chức năng
tổ chức là thiết lập bộ máy quản lý, trong đó gồm hai tiến trình cơ bản, đó là:
Sự phân chia và phối hợp. Sự phân chia bao gồm: Phân chia mục tiêu từ mục
tiêu cơ bản thành các mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân; phân chia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm; phân chia thành từng cấp, từng
khâu quản lý. Sự phối hợp tạo lập nên các mối quan hệ giữa các bộ phận đã
được phân chia bao gồm quan hệ phối hợp ngang quyền; quan hệ cấp trên, cấp
dưới. Sự phối hợp là cơ sở hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộ máy và vận
hành cả hệ thống.
Theo Trần Quốc Thành, tổ chức được hiểu theo góc độ là một hành động:
Đó là việc liên kết nhiều người để thực hiện công việc nào đó. Như vậy, tổ
chức là sắp xếp, điều khiển một nhóm người để đạt tới một đích nhất định. Lúc
này tổ chức gần nghĩa với quản lý. Tổ chức chặt chẽ cho phép các cá nhân góp
phần tốt nhất vào việc thực hiện mục tiêu chung, hoạt động của bộ máy sẽ đạt
hiệu quả cao nhất.
Tổ chức là hoạt động xác lập và liên kết các bộ phận, các chức năng riêng
lẻ thành một hệ thống hoàn thiện, thống nhất, tạo ra sức mạnh tổng hợp để đạt
các mục tiêu quản lý. Chức năng này bao hàm việc kết hợp các nguồn lực với
nhau: con người, vốn và thiết bị một cách hữu hiệu nhất trong hệ thống quản lý.
Dưới tác động của tổ chức, bộ phận quản lý và bị quản lý được tạo lập. Như
vậy, tổ chức có thể là hoạt động nhằm thành lập hoặc sáp nhập hoặc giải thể,
tách các bộ phận trong bộ máy quản lý đồng thời tổ chức còn là hoạt động
nhằm phân định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, xác định các quan hệ giữa các
bộ phận trong bộ máy đó.
một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”. [29]
Giáo trình Khoa học quản lý đưa ra khái niệm: “CBQL là các cá nhân thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý”,
“Mỗi CBQL nhận trách nhiệm trong bộ máy quản lý bằng một trong hai hình
thức tuyển cử và bổ nhiệm”. [9]
CBQL là chủ thể quản lý, gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh,
kiểm tra đối tượng quản lý. CBQL là người chỉ huy, lãnh đạo, tổ chức thực hiện
các mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức. Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản
lý cơ quan đó vừa chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
CBQL có thể là trưởng, phó trưởng của một tổ chức được cơ quan cấp trên
bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước. Cấp phó giúp việc cho cấp
trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về công việc được phân công.
Xuất phát từ tầm quan trọng của người CBQL, để hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao trong giai đoạn cách mạng hiện nay, CBQL phải đáp ứng được
những yêu cầu sau:
- Về phẩm chất chính trị: CBQL phải có quan điểm lập trường và bản lĩnh
chính trị vững vàng, kiên định; nắm được đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn; có khả năng tự hoàn thiện, tự đánh
giá kết quả công việc của bản thân, con người mà mình quản lý theo tiêu chuẩn
chính trị; biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người; tạo
được lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia.
- Về kiến thức pháp luật: CBQL phải hiểu và nắm được luật pháp. Tuỳ
theo vị trí công tác mà CBQL phải có những am hiểu luật pháp nhất định.
- Về trình độ chuyên môn: CBQL trước hết phải am hiểu chuyên môn, đủ
tri thức quản lý ngành nghề, chuyên môn đó. Trình độ cao và có sự am hiểu
tường tận chuyên môn của ngành giúp cán bộ hoạch định chiến lược phát triển