Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
1
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh,
Phòng GD Trung học – GD Thường xuyên Sở GD&ĐT Bình Dương, Ban
giám hiệu, Ban chấp hành Công đồn Trường THPT Dĩ An, Tổ Sử - Địa -
Giáo dục công dân, Tổ văn phòng, đặc biệt là quý thầy cô trong Lớp tập
huấn “Chương trình Partners in Learning – Đổi mới phương pháp dạy và
học” do Sở GD&ĐT Bình Dương kết hợp cùng Microsoft Việt Nam tổ chức
trong Hè 2008.
Những nội dung đã học tập và kinh nghiệm tích lũy được từ đề tài “Áp
dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử” nầy sẽ là hành trang
vô cùng quý báu cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học lịch sử của
bản thân chúng tôi trong thời gian sắp tới.
Dĩ An, ngày 29 tháng 3 năm 2009
Người thực hiện,
“ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ DẠY HỌC DỰ ÁN
VÀO BÀI GIẢNG LỊCH SỬ”
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài 5
2. Từ dư luận của báo chí về việc đổi mới kiểm tra đánh giá HS 8
3. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 11
5. Mức độ nghiên cứu đề tài 12
2
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
6. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13
7. Cơ sở lí luận thực tiễn và PP nghiên cứu 13
8. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 17
PP học tập mới
Câu hỏi cải tiến bài giảng
Cải tiến bài giảng và thực hành hướng dẫn
Xây dựng bài giảng
Phần III. Kết quả và kinh nghiệm rút ra được từ SKKN
1. Kết quả đạt được 48
2. Bài học kinh nghiệm 48
Phần IV. Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong năm học 2006-2007 tôi đã áp dụng đề tài “Đổi mới phương pháp
dạy học lịch sử ở Trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử”, năm
học 2007-2008 tôi tiếp tục thực hiện đề tài “Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách
4
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
bài tập để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT” bước đầu đã
đạt được một số kết quả và tích luỹ được một số kinh nghiệm trong quá trình
tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn lịch sử (LS) của mình ở
đơn vị trường THPT Dĩ An.
Kết quả bước đầu đã làm thay đổi tồn bộ cách nghĩ và cách soạn giảng
mà tôi đã được học ở trường ĐHSP trước đây. Sự thay đổi PPDH cũng đã tạo
hứng thú trong HS nhiều hơn trong tiết học LS của tôi, bởi vì trong một tiết dạy
tôi đã cung cấp cho các em nhiều hình ảnh, sơ đồ, biểu mẩu… và giới thiệu cho
các em biết những điều mới lạ hơn trong SGK, cung cấp cho các em những
kiến thức mới, tầm nhìn mới hơn về việc học lịch sử.
Trong dịp hè 2008 tôi được tham dự lớp tập huấn giảng dạy theo phương
pháp mới do Sở GD-ĐT Bình Dương phối hợp cùng sự tài trợ của Microsoft
Việt Nam. Sau khi dự lớp tập huấn nầy tôi có thêm được thông tin bổ ích về
chậm.
Hiện nay tại Bộ đã kết nối đường cáp quang 34 Mbps trong nước và 2
Mbps đi quốc tế. Viettel cung cấp gói Net+ (gói chất lượng cao nhất) tới các
cơ sở giáo dục. Kết nối cáp quang từ Bộ về các sở giáo dục và đào tạo với
băng thông 4 Mbps. Ba bên (Cục CNTT, các Sở GDĐT và Viettel) sẽ phối hợp
lên danh sách các cơ sở giáo dục khó khăn để có chính sách hỗ trợ kết nối. Các
cơ sở giáo dục hưởng lợi từ dịch vụ ưu đãi này sẽ bao gồm cả các trường mầm
non, mẫu giáo (các sở cung cấp PC), các trung tâm giáo dục cộng đồng, trung
tâm giáo dục thường xuyên, các trường dạy nghề, các phòng giáo dục.
Đối với các trường vùng sâu, vùng xa, không thể rải cáp Internet và nếu
có điện, cần lên phương án kết nối khác (có thể là qua vệ tinh). Viettel cam kết
hỗ trợ cung cấp miễn phí qua sóng điện thoại di động và cần thời gian thử
nghiệm vì địa hình các vùng này rất khó khăn. Chúng tôi cũng đã đề nghị
Viettel tài trợ miễn phí kết nối Internet cho một số điểm tỉnh như Điện Biên,
Lai Châu, Hà Giang…
Năm học 2007-2008, Cục CNTT đã hướng dẫn và hỗ trợ miễn phí cho
các trường ĐH, CĐ, các sở, các trường phổ thông tạo hệ thống email. Bước
vào năm học mới này, mục tiêu đặt ra là đến ngày 31/10/2008, tất cả các cơ sở
giáo dục và đào tạo hồn tất công việc này.
Trong năm vừa qua, Cục CNTT đã xây dựng và cung cấp hệ thống
email @moet.edu.vn đến tất cả các cơ sở giáo dục để giao dịch văn bản điện
tử. Chúng tôi đề nghị lãnh đạo Sở GDĐT các tỉnh, thành phố hằng ngày khai
thác hệ thống email này và đôn đốc các phòng ban sử dụng để nhận thông tin
văn bản từ Bộ một cách nhanh chóng.
Cho đến nay, giáo viên các trường đang chủ yếu soạn bài trình chiếu
powerpoint và một số phần mềm dạy học. Vẫn còn có sự nhầm lẫn khá lớn
giữa khái niệm về giáo án điện tử với bài trình chiếu, bài giảng điện tử, giữa
thiết bị dạy học với phần mềm.
Năm học ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài
giảng điện tử theo công nghệ e-Learning. Trong những năm qua, Cục CNTT
kiểm tra kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học,
hạn chế lối học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy móc.
Theo đó, các trường tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường
xuyên, định kỳ. Phối hợp có hiệu quả giữa các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự
luận và trắc nghiệm khách quan. Trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng
đáp ứng yêu cầu đối với chương trình của từng cấp học.
Đặc biệt, các trường phải có biện pháp quản lý tích cực, chủ động trong
dạy và học, nghiêm túc trong kiểm tra, đánh giá để phản ánh đúng chất lượng
dạy và học, thực hiện thành công nhiệm vụ năm học theo tinh thần cuộc vận
động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục;
nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp”.
7
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Các trường có kế hoạch tổ chức việc ôn tập bồi dưỡng nâng cao kiến
thức cho người học, cần chú ý đối tượng có học lực yếu, đối tượng chưa tốt
nghiệp ở các kỳ thi trước; khắc phục tình trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”; kiên
quyết không để học sinh chưa đủ trình độ lớp 12 dự thi tốt nghiệp trung học
phổ thông.
Bộ yêu cầu các Sở GD-ĐT rà sốt, lựa chọn trong số cán bộ, giáo viên
những người có năng lực chuyên môn để tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ biên
soạn, biên tập đề thi để từng bước xây dựng ngân hàng câu hỏi thi phục vụ cho
việc ra đề kiểm tra. (Hồng Hạnh)
Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Bấy lâu nay, học sinh thường “ngán” học các môn xã hội. Vậy, làm thế nào
để các em yêu thích các môn học này?
Đây là điều các nhà làm giáo dục luôn trăn trở. Ngày 3-3 vừa qua, Sở GD-
ĐT Bình Dương đã có buổi hội thảo, nhằm mổ xẻ việc đổi mới kiểm tra đánh
giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn ngữ văn, lịch sử, địa lý,
giáo dục công dân.
Những hạn chế
đặt học sinh vào tình thế căng thẳng, bắt buộc học để đối phó. Thay vào đó,
giáo viên có thể linh hoạt về thời gian và hình thức kiểm tra. Cụ thể như, trong
quá trình giảng bài mới, khi cần liên hệ đến kiến thức của bài học các tiết trước,
giáo viên nêu câu hỏi, sau đó gọi học sinh phát biểu, giáo viên nhận xét và cho
điểm. Nội dung kiểm tra, không chỉ kiểm tra bài tiết học trước, mà giáo viên có
thể kết hợp vừa kiểm tra bài cũ, vừa kiểm tra phần chuẩn bị bài mới. Trong quá
trình dạy, có những câu hỏi cần học sinh tư duy trả lời, nếu các em trả lời đúng,
giáo viên vẫn cho điểm.
Trong khi đó, các giáo viên ở trường THCS Chu Văn An (TX.TDM) kiểm
tra 15 phút, vừa kiểm tra nội dung vừa kết hợp thực hành, vận dụng vào viết
đoạn văn với vấn đề mang tính xã hội được mọi người quan tâm, như: vấn đề
môi trường, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Giáo viên
còn cho điểm học sinh tham gia trả lời những câu hỏi nâng cao để khuyến
khích học sinh; cho điểm những bài sưu tầm, tranh ảnh phục vụ cho tiết học.
Kiểm tra học kỳ có trắc nghiệm từ 3-4 điểm, tùy theo khối lớp, đề ra có ma trận
nhưng mới chỉ ở mức ban đầu.
Đổi mới phương pháp giáo dục cũng đang được các trường ở vùng sâu, vùng
xa nỗ lực thực hiện. Thầy Đào Duy Nội, giáo viên dạy môn địa trường THPT
Phan Bội Châu, Dầu Tiếng nói vui: Tình trạng học bài các môn xã hội nói
chung là một “cực hình” với học sinh. Để tình trạng này không còn xảy ra, cần
thiết phải đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá. Để tránh kiểu học tủ, học vẹt
của học sinh, nội dung kiến thức kiểm tra trọng tâm cùng với khả năng liên hệ
thực tế, làm, học sinh biết sử dụng mô hình, đọc bản đồ, lược đồ
Giáo viên dạy môn lịch sử của trường THPT Tây Sơn (Phú Giáo) có kinh
nghiệm ra đề kiểm tra có sự phân bố tỷ lệ phù hợp giữa các câu hỏi ở mức độ
nhận biết (55-60%), thông hiểu (25-30%), vận dụng (15-20%).
(Theo Báo Bình Dương)
05/03/2009
3. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu
“Áp dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử” là việc làm
chuyên gia GD cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm
10
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
được hướng cải cách chương trình, thay SGK, cũng chính là mục đích tìm ra
một hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
Đề tài “Áp dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử” nhằm
giải quyết vấn đề cấp bách của GV bộ môn LS và của công tác DHLS mà xã
hội đang quan tâm hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Bộ môn LS ở trường THPT có ưu thế đặc biệt trong việc phát triển con
người tồn diện vừa có tri thức khoa học, có tư tưởng đạo đức đúng đắn, đậm đà
bản sắc dân tộc, vừa có khả năng tự lập. linh hoạt, sáng tạo … trong cuộc sống.
Song muốn phát huy được ưu thế nầy, trước hết, HS phải nắm vững kiến thức
LS. Vậy làm thế nào để HS nắm vững kiến thức trong DHLS ở trường THPT?
Căn cứ vào mục tiêu bộ môn LS ở trường THPT, đặc trưng của hiện
thực LS, đặc điểm nhận thức của HS và yêu cầu đổi mới GD hiện nay theo chỉ
đạo của Bộ GD – ĐT hiện nay, chúng ta thấy rằng, việc giúp HS nắm vững
kiến thức là vấn đề hết sức cần thiết. Song trước hết cần thống nhất khái niệm
“nắm vững kiến thức” của HS. Xung quanh khái niệm nầy, các nhà GD, tâm lí
và GDLS đã đề cập đến nhiều khía cạnh.
Trong những tài liệu PP DHLS, các nhà GDLS cũng khẳng định rằng,
nắm vững kiến thức trong DHLS là phải “biết”, “hiểu” LS và “ứng dụng”.
Đây là con đường nhận thức biện chứng LS từ nắm sự kiện đến tạo biểu tượng,
hình thành khái niệm để hiểu bản chất, rút ra bài học kinh nghiệm và quy luật
LS. Trong đó, “biết” LS chưa phải là thước đo chất lượng của việc học tập,
nghiên cứu LS, mà điều chủ yếu là hiểu LS, vận dụng tri thức LS vào tiếp thu
kiến thức mới và hoạt động thực tiễn (Phan Ngọc Liên-Trịnh Đình Tùng-
Nguyễn Thị Côi. PP dạy học lịch sử. Tập II. NXB ĐHSP, Hà Nội 2002,
tr.134-135).
Các nhà tâm lí GD và GDLS về cơ bản đều thống nhất : nắm vững kiến
7. Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Công nghệ mới có một số đặc trưng phù hợp với các nguyên tắc của PP
học tập mới.
12
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Các kết luận cơ sở :
Do tính chất tương tác của công nghệ mới, hiện nay người ta có thể dễ
dàng hơn trong việc tạo ra các môi trường cho HS có thể học tập thông qua
thực hành, tiếp thu các ý kiến phản hồi, liên tục nâng cao vốn hiểu biết và tiếp
nhận các tri thức mới.
Các công nghệ có thể giúp mọi chúng ta hình dung được những khái
niệm khó hiểu. HS có thể sử dụng các phần mềm mẫu như các công cụ trong
môi trường học tập ngồi trường học để tăng cường vốn hiểu biết dựa trên các
khái niệm và những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình chuyển từ môi trường
trong ra môi trường ngồi trường học.
Các công nghệ mới cho phép chúng ta tiếp xúc với hàng loạt các thông
tin qua các thư viện điện tử, tài liệu của thế giới thực để tiến hành phân tích và
kết nối với những người sẽ cung cấp thông tin, ý kiến phản hồi và nguồn cảm
hứng, tất cả những gì có thể tăng cường khả năng học tập của GV, cũng như
quản lí HS.
Có nhiều cách sử dụng công nghệ để tạo ra môi trường học tập như vậy,
dành cho cả GV và HS. Tuy nhiên có nhiều vấn đề đặt ra nhằm xem xét để
hướng dẫn GV áp dụng công nghệ vào giảng dạy thế nào sao cho hiệu quả.
Đầu tư công nghệ tích hợp trong GD có thể đưa những người hoạch
định chính sách vào thế khó. Phần lớn họ đều đồng ý rằng trong thế giới hiện
đại ngày nay, công nghệ không phải là bộ phận trang trí, mà ngược lại, nó đóng
vai trò quan trọng trong bất kì quy trình giảng dạy nào. Tuy nhiên, phí tổn cho
nó cũng là một vấn đề quan trọng. Máy vi tính nói riêng là một mặt hàng đắc
tiền, GV và HS ngày cần có nó nhiều hơn. Trong vòng một thập kỷ vừa qua,
chi phí bỏ ra để trang bị cho các trường khối phổ thông tại Mĩ tăng gấp ba lần
Phần lớn các nghiên cứu hiện tại về ứng dụng công nghệ máy vi tính
vào chương trình giảng dạy của khối phổ thông đều đưa đến một thông điệp :
công nghệ chỉ là phương tiện chứ không phải là kết quả, chỉ là một công cụ hỗ
trợ đạt được mục tiêu học tập chứ bản thân nó không phải là mục tiêu. Tuy thế
14
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
vẫn có nhiều trường học và vùng miền thực hiện đầu tư về trang thiết bị trước
cả khi xây dựng những kế hoạch rõ ràng về sử dụng công nghệ hỗ trợ giảng
dạy.
Một vấn đề chính trong việc thực thi kế hoạch sử dụng công nghệ là xác
định rõ mục đích của nó, HS sẽ được học “từ” máy vi tính hay “bằng” máy vi
tính? Nói theo cách khác, máy vi tính có nhất thiết phải thực hiện vai trò giảng
dạy, nhằm tăng thêm tri thức và các kĩ năng sử dụng? Hay chính công nghệ sẽ
là một phương tiện giúp HS phát triển các khả năng như tư duy trình độ cao,
năng lực sáng tạo và kĩ năng nghiên cứu?
Máy vi tính đóng vai trò giảng dạy : Những cách sử dụng máy vi tính
thông thường để xây dựng các kĩ năng cơ bản bao gồm phương pháp giảng dạy
sử dụng máy vi tính và được hỗ trợ bởi máy vi tính, sử dụng các phần mềm rèn
luyện và thực hành, các hướng dẫn chung về máy vi tính. Kết quả của một
nghiên cứu nổi tiếng đã cho rằng việc hồn tồn sử dụng máy vi tính trong rèn
luyện và thực hành môn Tốn có ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập. Tuy
nhiên 2 nghiên cứu quy mô lớn keo dài xuyên suốt những năm 1990 cùng với
những thành tựu đạt được từ một vài phép phân tích cao cấp trong khoảng thời
gian từ năm 1895 đến 2000 lại cho thấy việc sử dụng phần mềm công nghệ vào
rèn luyện và thực hành đem lại cho HS những tiến bộ vượt bậc. Và kết quả đó
đã ủng hộ việc sử dụng máy vi tính hỗ trợ giảng dạy từ cấp trước tiểu học cho
tới cấp GD cao hơn. Một vài nghiên cứu còn tranh luận rằng việc đào tạo các
kĩ năng về sử dụng CNTT còn mang lại hiệu quả về kinh tế, bởi nó chỉ đòi hỏi
đào tạo GV ở mức tối thiểu và thường vẫn có thể được thực hiện ở các công
nghệ ở mức độ thấp.
năng cơ bản. Đồng thời các báo cáo nghiên cứu cho thấy HS ngày càng có
nhiều động lực thúc đẩy học tập, cũng như ngày càng đi học đầy đủ hơn, ít
trường hợp bỏ học nửa chừng hơn.
8. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
+ Đối với cấp lãnh đạo quốc gia
16
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Bộ GD&ĐT đã có các công văn chỉ đạo hướng dẫn cho ngành GD triển
khai thực hiện : “Bộ GD&ĐT lấy năm học 2008-2009 là “Năm học công nghệ
thông tin”.
Ảnh hưởng của công nghệ đối với lớp học, trường học và khu vực :
Nếu được sử dụng đúng cách, công nghệ có thể có tầm ảnh hưởng làm
biến đổi hệ thống GD bởi nó có xu hướng đánh giá lại vai trò của GV và HS và
sự tín nhiệm đối với PPDH cũ. Mỗi GV trở thành người hướng dẫn và cộng tác
viên (với HS và các GV khác) không còn đơn thuần là người truyền đạt kiến
thức. Và HS dựa trên các đề án sẽ tự học, tự tìm hiểu, phải tự quản lí và có
trách nhiệm đối với chất lượng học tập của mình. Như vậy HS sẽ tự xây dựng
nên vốn tri thức của mình chứ không chỉ đơn thuần chỉ nghe và tiếp nhận.
Những thay đổi cũng chính là mục tiêu mà cải cách GD hướng tới, trong đó
nhằm chuyển đổi PP học tập truyền thống và mở rộng không gian học tập ra
ngồi phạm vi lớp học.
+ Đối với cấp lãnh đạo cơ sở
Năm học 2008-2009 Sở GD-ĐT Bình Dương tiếp tục đầu tư kinh phí
xây dựng CSVC trường học , mua sắm TBDH trang bị cho các trường, tổ chức
cuộc thi giải thưởng “Võ Minh Đức” cho tất cả các trường tham dự, tổ chức
các lớp bồi dưỡng tin học và thi tin học chứng chỉ A cho CBGV tồn ngành, tổ
chức các buổi giới thiệu các phần mềm ứng dụng CNTT vào việc đổi mới
PPDH để chuẩn bị bước vào năm học mới “Năm học công nghệ thông tin”.
Cấp đơn vị trường học :
Kiến thức và trình độ của GV là yếu tố then chốt để đạt được thành
18
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Năm học 2008-2009 điểm tuyển sinh vào lớp 10 của trường THPT Dĩ
An cao nhất huyện, các em được BGH quan tâm nhắc nhở động viên kịp thời
về việc học tập nên tinh thần học tập và đạo đức của các em rất tốt, đa số HS
chăm ngoan, lễ phép, vâng lời thầy cô, chấp hành nội quy nhà trường.
Công tác GVCN, công tác giám thị được BGH có kế hoạch chỉ đạo
thường xuyên gặp gỡ trao đổi với phụ huynh khi có vấn đề liên quan đến HS.
Hàng tuần và cuối đợt thi đua BGH kết hợp các đồn thể đã sơ kết đánh giá
khen thưởng, kịp thời động viên nêu gương tốt hoặc nhắc nhở kịp thời những
HS vi phạm nội quy nhà trường.
Đơn vị được Sở GD&ĐT Bình Dương trang bị đầy đủ các TBDH và
phương tiện nghe nhìn có đầy đủ cán bộ chuyên trách sẵn sàng giúp đỡ GV
trong các tiết giảng dạy khi cần sử dụng dụng cụ trực quan dạy học.
1.3. Ưu điểm khi thực hiện đề tài SKKN
GV có thể sử dụng các hình ảnh, tư liệu, sự kiện LS từ các nguồn phim
ảnh đa dạng từ internet, băng ghi hình, tranh ảnh trong sách báo mà không phải
mang theo đồ dùng DH cồng kềnh khi lên lớp.
Các tư liệu LS được chuyển thể thành phim theo chủ đề bài học được
các đài truyền hình trong cả nước đưa lên màn ảnh và phổ biến rộng rãi trên
phương tiện thông tin đại chúng, GV có thể tìm từ trên mạng internet để phục
vụ minh họa cho bài giảng sinh động hơn.
GV có thể trình chiếu các sơ đồ, bài tập nhóm, các câu hỏi trắc nghiệm
khách quan khi kiểm tra bài cũ hay kết thúc bài học để HS tiện theo dõi. Việc
sơ đồ hóa, hệ thống hóa tồn bộ kiến thức bài học cũ theo từng chương, từng
chủ đề cũng thuận lợi hơn khi giảng dạy.
Khi soạn một GAĐT, GV có thể lưu lại để giảng dạy ở nhiều lớp khác
nhau. GV có thể bổ sung hoặc sửa đổi giáo án sau phần rút kinh nghiệm ở các
tiết dạy tiếp theo hoặc những năm học sau.
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
học hướng tới người học; khuyến khích sự độc lập tự chủ, người học có thể
đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề nào đó. Nếu trong
phương pháp thuyết trình, người học chỉ có thể trao đổi với nhau được rất ít thì
trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan điểm
của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác ở đó cũng đòi hỏi tăng cường tư
duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm.
+ Trong khi thực hiện phương pháp làm việc theo nhóm, GV đóng vai trò là
người chuyển giao kiến thức và hiểu biết, chuẩn bị, tổ chức, theo dõi việc thực
hiện và đánh giá tổng kết kết quả làm việc của các nhóm. Như vậy công việc
của GV trong làm việc theo nhóm không bao giờ là thừa, trái lại đó là một sự
cần thiết để giúp cho các nhóm đạt được kết quả trong việc tìm ra những giải
pháp, câu trả lời cho vấn đề được đưa ra.
1.2. Những mục tiêu cần đạt trong làm việc theo nhóm
+ Làm việc theo nhóm cần động viên tất cả các thành viên tham dự và kích
thích sự suy nghĩ của HS.
+ Các thành viên tham dự trong nhóm cần bám vào một chủ đề và tìm ra giải
pháp giải quyết vấn đề đó.
1.3. Các bước tiến hành phương pháp làm việc theo nhóm
Bước 1: GV giao nhiệm vụ:
21
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
- Nêu và giải thích rõ ràng mục tiêu làm việc, giao nhiệm vụ một cách rõ ràng
cho từng nhóm làm việc để mỗi thành viên trong nhóm hiểu được công việc
cần phải làm và mô tả một cách cụ thể cách thực hiện các nhiệm vụ đó. Cần
lưu ý là nếu không đề ra nhiệm vụ rõ ràng thì không có được kết quả thuyết
phục. Những mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung làm việc theo nhóm có thể được
viết ra giấy và phát cho mỗi nhóm
- Định thời gian làm việc của mỗi nhóm kể cả giờ giải lao
- Ấn định thời gian họp lại sau khi thảo luận nhóm ( để báo cáo kết quả làm
việc ở nhóm )
+ Chủ đề thích hợp cho làm việc theo nhóm. Người tham dự cần có những
kiến thức cơ sở về đề tài làm việc. Nếu các thành viên tham dự thực sự chưa
có kiến thức, hiểu biết trước về đề tài làm việc thì GV cần bồi dưỡng đầu vào
thông qua một buổi thuyết trình hoặc cung cấp những tài liệu, thông tin về đề
tài.
+ Có đủ điều kiện, phương tiện làm việc cho các nhóm (phòng, các thiết bị,
dụng cụ cần thiết cho buổi làm việc theo nhóm)
+ Các thành viên phải nắm vững nhiệm vụ trong làm việc theo nhóm và tiến
trình, lịch làm việc.Việc giao nhiệm vụ của GV phải rõ ràng, cụ thể và chặt
chẽ và cần có sự chuẩn bị chu đáo về đề tài làm việc.
+ Người học cần có kiến thức, kỹ năng làm việc theo nhóm. Nếu kiến thức, kỹ
năng của các thành viên tham gia làm việc theo nhóm còn hạn chế, GV cần có
sự gợi ý " châm ngòi " cho cuộc thảo luận.
+ Các thành viên tham gia làm việc theo nhóm cần có thái độ làm việc nghiêm
túc, tích cực. Thái độ làm việc thiếu tích cực của một vài thành viên, coi thời
gian làm việc theo nhóm như là một khoảng thời gian xả hơi, làm việc khác
mà không tập trung vào đề tài sẽ làm ảnh hưởng xấu đến kết quả làm việc.
Trong trường hợp này GV cần uốn nắn và đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ
thể hơn.
+ Độ lớn của nhóm: 4 - 6 người cho một nhóm là số lượng tương đối phù hợp
cho buổi làm việc theo nhóm, nếu quá ít hay quá nhiều đều khó phát huy được
sự hợp tác của các thành viên trong giải quyết nhiệm vụ.
Trên đây là một số vấn đề cần quan tâm để áp dụng có hiệu quả phương pháp
làm việc theo nhóm trong dạy học.
23
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
1.6. Hướng dẫn HS “đóng vai trò giáo viên”
-Mục đích : tạo cơ hội cho mọi HS dạy một phần của nội dung bài học cho HS
khác.
-Nội dung chính : yêu cầu HS làm việc độc lập để học một phần của bài học,
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
+ Viết đoạn tóm tắt cho phần đã được phân công.
+ Chuẩn bị các phương tiện nghe nhìn như trang web, bản đồ, biểu đồ, hay các
phương tiện dùng để trình bày các nội dung bài học.
+ Ghi chú kết nối bài học này với các ý tưởng khác.
+ Chuẩn bị những câu hỏi để hỏi các bạn khác.
Những kĩ năng HS cần nhớ khi dạy một phần bài học cho ban mình trong lớp :
• Phải nhìn thẳng vào mắt bạn khi nói.
• Lắng nghe mà không cắt ngang.
• Đặt câu hỏi một cách lịch sự.
• Biết khen bạn khi họ trả lời đúng các câu hỏi.
1.7. “Bước chuyển tiếp nhanh”
Mục đích : tránh để cho HS rơi vào tình trạng xao lãng hay phân tâm khi
quá trình học diễn ra quá chậm.
Hoạt động chính : chú ý khi HS giảm hay mất sự hứng thú vào bài học
thì GV phải có sự thay đổi ngay lập tức về phương pháp dạy, nội dung bài học
hay các hoạt động học tập.
Tốc độ của cuộc sống ngày nay rất nhanh chóng, nhiều HS cũng đã quen
với tốc độ này và ngược lại nhiều HS cũng có tốc độ cuộc sống và học tập rất
chậm. Do đó GV nên cân đối sự khác biệt về tốc độ học tập của các đối tượng
HS trong lớp. Rất nhiều GV đã không chú ý đến vấn đề này. Trong giảng dạy
khi GV giải thích một vấn đề nào đó, GV nhận ra rằng có thể giải thích bằng
một cách khác rồi đưa ra lời giải thích mới cho vấn đề vừa nói và hỏi : “Các
em có thắc mắc gì không?”. Điều này làm cho những HS đã hiểu được bài học
ở lần giải thích thứ nhất không được thư giản và phân vân/thắc mắc rằng
không biết thầy/cô có giải thích vấn đề đó lại ở cách thứ ba không.
Trong lần giải thích thứ hai, nếu vẫn có HS trả lời là có câu hỏi hay thắc
mắc thì GV đứng lớp sẽ bị rơi vào tình trạng khó xử, tiến thối lưỡng nan : (1)
không thể không giải đáp thắc mắc cho HS, (2) không thể giải thích vấn đề ở
lần thứ ba vì việc này sẽ làm cho những HS đã hiểu bài cảm thấy chán và cũng