SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN
SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP “DẠY HỌC DỰ ÁN” TRONG DẠY HỌC
CÁC BÀI HỌC NHẬT DỤNG - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tác giả: Trần Thị Thanh Hương
Trình độ chuyên môn:Thạc sĩ
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT Ngô Quyền
NAM ĐỊNH, NĂM 2014
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP “DẠY HỌC DỰ ÁN” TRONG DẠY HỌC
CÁC BÀI HỌC NHẬT DỤNG - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: năm học 2013- 2014
4. Tác giả:
-Họ và tên: TRẦN THỊ THANH HƯƠNG
-Giớí tính: Nữ
-Ngày, tháng, năm sinh: 27-01-1982
-Nơi thường trú: 85 Máy Chai- TP Nam Định
-Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Quyền- TP Nam Định
-Chức vụ hiện nay : Giáo viên Ngữ văn
-Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sỹ sư phạm Ngữ văn
-Địa chỉ liên hệ: Trần Thị Thanh Hương- Giáo viên Trường THPT Ngô Quyền
- TP Nam Định
phổ thông toàn quốc
3. Dạy học dự án là một phương pháp dạy học tích cực đem lại nhiều ưu thế
- Với đặc trưng: dạy học thông qua hoạt động của chính người học nhằm hình thành và phát
triển các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và dạy học dựa trên việc đánh giá, tự đánh giá và cùng
3
đánh giá, phương pháp dạy học dự án ̣̣̣̣ đã thể hiện được ưu điểm nổi bật của mình trong việc
hướng tới các mục tiêu của giáo dục hiện đại mà UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm,
học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
- DHDA được vận dụng vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPTsẽ phát huy tính
tích cực, chủ động của HS trong học tập; tạo được hứng thú cho HS và góp phần đa dạng hóa
các PPDH. Bởi lẽ HS sẽ hứng thú hơn với việc học khi có cơ hội thâm nhập vào những vấn đề
phức tạp, mang tính thách thức cao và đôi khi đầy rẫy những vấn đề nhưng rất sát với thực tế
đời sống Vậy nên, DHDA đã trở thành một trong những PPDH “làm cho GV chỉ cần dạy ít mà
HS học được nhiều và làm cho nhà trường bớt sự nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn” (GI.
Comenski)
III. Xuất phát từ thực trạng dạy học các bài học nhật dụng của môn Ngữ văn ở trường
THPT Việt Nam
1. Về phía người dạy
- Bối cảnh chung của Việt Nam hiện nay là rất nhiều giáo viên Ngữ văn còn lúng túng trong việc
xác định một PPDH nhằm gây được nhiều hứng thú cho HS và tích cực hóa hoạt động học tập
của HS. Để làm rõ hơn, chúng tôi đã sử dụng Phiếu điều tra để đánh giá việc vận dụng phương
pháp dạy học dự án và một số phương pháp dạy học khác trong môn Ngữ Văn ở trường THPT
Ngô Quyền – Nam Định. (Mẫu phiếu điều tra ở phần Phụ lục 1)
* Đồ thị biểu diễn kết quả của phiếu điều tra ở Phụ lục 1:
- Rõ ràng, dễ nhận thấỵ̣̣, dạy học các bài học nhật dụng môn Ngữ văn ở trường THPT còn tồn tại
nhiều vấn đề như: còn thiên về chú trọng việc truyền thụ tri thức khoa học mà ít gắn với thực
tiễn, PPDH chiếm ưu thế vẫn là các phương pháp thuyết trình, trong đó giáo viên là trung tâm
của quá trình dạy học, như vậy sẽ hạn chế việc phát triển toàn diện, tích cực sáng tạo của học
sinh. Sự bất cập này càng được thể hiện rõ trong việc dạy học các loại văn bản không hư cấu;
có tính thực tiễn và tính cập nhật cao ̣thường gọi là bài học nhật dụng . Đa số giáo viên chưa
cá nhân
Lắng nghe và
ghi chép, bản
thân không
có ý kiến gì
Không quan tâm
nhưng không làm
ảnh hưởng đến tiến
trình lớp học
Làm việc
riêng
10K- Ngô Quyền 21 4 7 7 2
10I- Ngô Quyền 20 6 8 5 3
10D- Ngô Quyền 21 5 7 6 2
Tổng 62 15 (21,2%) 22 (35.5 %) 18 (29%) 7(11,5%)
Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng học sinh không thực sự hứng thú với việc học
môn ngữ Văn đồng thời cũng phản ánh tình trạng giáo viên chưa biết cách lôi kéo HS tham gia
tích cực vào giờ dạy của mình.
3. Về kiểm tra đánh giá
5
Việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở bậc THPT vẫn có nhiều bất cập, chưa “đo” được
toàn diện năng lực của người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của HS trong làm bài và
chưa góp phần điều chỉnh, đổi mới PPDH. Các đề kiểm tra hầu như được ra theo dạng “đề
đóng”, tính tích hợp (giữa các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa cao;
các câu hỏi chủ yếu đánh giá HS ở hai mức nhận biết và thông hiểu. Mặt khác việc đánh giá còn
chưa đa chiều, vẫn thiên về kênh đánh giá từ phía giáo viên mà không quan tâm nhiều đến phía
HS tự đánh giá
Trước thực trạng còn nhiều tồn tại trên, vấn đề đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương
pháp dạy học. Và cốt lõi của việc đổi mới này là chú trọng hơn nữa phương pháp tự học cho
HS, khả năng hợp tác, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; đa dạng hóa các hình thức
- Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA
+ Vai trò của giáo viên là người định hướng (guide), một nhà tư vấn (advise), hướng dẫn
viên và một học viên cộng tác (bạn cùng học).
+ Vai trò của học sinh: Là “tác giả tích cực” của quá trình học tập, nên: HS thực hiện dự
án bằng thực hiện các vai được chỉ định và tự lực triển khai dự án và tập giải quyết vấn đề có
thật trong đời sống
2. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án
2.1. Ưu điểm của DHDA
- Về nội dung kiến thức: kiến thức được mở rộng, phong phú hơn; gắn với thực tế và có tính
liên môn. Có thể lí giải điều này qua Sơ đồ về tỉ lệ tiếp thu trung bình
7
Tính tự
lực cao
Hợp tác
làm việc
Định
hướng
sản phẩm
Định
hướng
thực tiễn
Mang
tính phức
hợp
Dạy học dự án
1
Đọc
3. Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
8
Nguồn: http://www.lorober.com/Resources/Images/RetentionRate
75%
90%
4. Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và báo cáo sản phẩm
5. Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
II. ÁP DỤNG “DẠY HỌC DỰ ÁN” TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC
NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1. Điều kiện để áp dụng phương pháp “dạy học dự án”
1.1 .Nội dung học tập
- Đặc điểm chủ đề nội dung bài học: gắn liền với thực tiễn và mang tính thời sự, cập nhật
- Mục tiêu cơ bản nhất của bài học: tập trung rèn luyện và phát triển kĩ năng thực hành cho HS
thông qua hoạt động của chính các em.
2.2. Đối tượng người học và người dạy
- Người học: Được trang bị đầy đủ kiến thức (về môn học; liên môn và về phương pháp
DHDA); có thói quen làm việc chủ động; phương pháp học tập khoa học và có ít nhiều kĩ năng
về công nghệ thông tin
- Người dạy: Có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ; phong cách làm việc chuyên nghiệp và khả năng
quản lí HS. Khả năng tư duy linh hoạt và cần một bản lĩnh nghề nghiệp.
1.3. Phương tiện dạy học
Đầy đủ các phương tiện dạy học cơ bản và có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại
1.4. Các điều kiện khác
- Sự đồng thuận của cấp quản lí trường học; các Ban ngành địa phương
- Cơ chế thi cử cần chú trọng đến tính thực tiễn của kiến thức
2. Khả năng vận dụng phương pháp “dạy học dự án” trong dạy học các
bài học nhật dụng của môn Ngữ văn THPT
Khái niệm bài học nhật dụng (BHND) được nói đến trong bài nghiên cứu
này để chỉ những bài học mà toàn bộ hay một phần nội dung của bài học có tính
nhật dụng. Như vậy, BHND bao gồm các bài đọc- hiểu các văn bản nhật dụng;
a. Đặc điểm bài học
Các bài học tiếng Việt được đưa vào chương trình THPT chỉ tập trung vào một số nội dung
chính (Hoạt động giao tiếp; Phong cách ngôn ngữ; Những vấn đề chung về tiếng Việt) và chú
trọng thực hành, các đơn vị kiến thức gần gũi và liên quan tới thực tiễn giao tiếp hằng ngày của
HS.
b. Mục tiêu bài học
10
Chú trọng đến thực hành, không mang tính “hàn lâm”, “kinh viện”. Phần tiếng Việt gồm 2 loại
bài: Loại bài thiên về hình thành kiến thức, kĩ năng mới và Loại bài thực hành để củng cố kiến
thức, kĩ năng. Xét về số lượng: Loại bài thực hành có số lượng lớn hơn. Có thể minh họa bằng
số liệu sau: Phần tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 10 Nâng cao, trừ 1tiết dành cho bài Ôn tập tiếng
Việt, trong 18 tiết học thì nội dung có tính chất lí thuyết chiếm 7,5 tiết (hơn 40%), nội dung có
tính chất thực hành chiếm 10,5 tiết (non 60%). Còn xét về cấu trúc: Ngay ở cả các Loại bài
thiên về hình thành kiến thức, kĩ năng mới thì ở cuối mỗi bài đều có phần Luyện tập và kiến
thức, kĩ năng mới chỉ được hình thành thông qua hoạt động thực hành (từ khâu tìm hiểu, phân
tích ngữ liệu thực tế, ).
- Từ 2 đặc điểm nêu trên và qua khảo sát kĩ lưỡng từng bài học tiếng Việt trong chương trình,
chúng tôi thấy ngoài nội dung các bài thực hành, một số đơn vị kiến thức là những vấn đề lý
thuyết nhưng rất lại gần gũi, quen thuộc và có liên quan tới thực tiễn giao tiếp trong cuộc sống
hằng ngày của HS. Cụ thể:
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với các nhân tố tham gia giao tiếp, hai quá trình giao
tiếp (tạo lập và lĩnh hội), hai dạng (nói và viết trong giao tiếp), sản phẩm của giao tiếp là văn
bản. Đây là một hoạt động mà các em thường xuyên tiến hành trong cuộc sống gia đình, nhà
trường và ngoài xã hội.
- Các phong cách chức năng: trừ PCNN nghệ thuật thì PCNN sinh hoạt, PCNN báo chí,
PCNN hành chính cũng không phải là những vấn đề quá xa lạ với HS. Chẳng hạn: ở PCNN
sinh hoạt, ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày để thông tin, trao đổi ý nghĩ, đáp ứng
nhu cầu tự nhiên của con người trong cuộc sống. Còn với PCNN báo chí, ngôn ngữ báo chí là
ngôn ngữ được dùng trong các thể loại báo chí (tin tức, phóng sự) thì các em cũng được thấy
thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng: đài, báo, truyền hình,
Hoạt
động
của
Hoạt động 1: Chuẩn bị dự án, định hướng bài học
giáo viên
⋅ Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án
12
⋅ Xác định mục tiêu cần đạt khi thực hiện dự án
⋅ Xác định các nguồn hỗ trợ dạy học
Hoạt động 2: Thiết kế dự án
⋅ Lập kế hoạch bài dạy và soạn giáo án
⋅ Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến dự án
⋅ Chia nhóm học sinh và phân công nhiệm vụ cho các nhóm
⋅ Cung cấp bộ công cụ đánh giá và tài liệu hỗ trợ dự án
⋅ Chuẩn bị trang thiết bị và cơ sở vật chất để thực hiện tốt dự án
Hoạt động cá nhân
⋅ tự nghiên cứu các nội dung bài học; thu thập các tài liệu
⋅ Đóng góp ý tưởng và cách giải quyết nhiệm vụ
Hoạt động nhóm
⋅ Chia nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí nhóm
⋅ Nhận nhiệm vụ nhóm; chia nhiệm vụ nhóm thành nhiệm vụ nhỏ hơn
⋅ Họp nhóm, bàn bạc lên kế hoạch thực hiện dự án
Giai đoạn 2: Hoạt động trong giờ học (Thực hiện dự án, báo cáo sản phẩm và đánh giá dự án)
Hoạt động1
Tổ chức
thực
hiện
dự án
Giáo viên Học sinh
- Nêu lại ý tưởng dự án và nhiệm
- GV nhắc lại tiêu chí đánh giá -
GV tập hợp các kết quả kết hợp để
xem xét tính điểm cho tổng điểm
tòan nhóm
- Căn cứ trên tiêu chí này, HS điền vào các
phiếu mà GV đã phát
-HS phân chia điểm hợp lý trong nhóm rồi
báo cáo lại cho GV.
Giai đoạn3: Hoạt động sau giờ học
GV
⋅ Bàn giao nhiệm vụ mới cho các nhóm (có chỉ dẫn cụ thể)
Hoạt
động
củaHS
⋅ Nhận nhiệm vụ mới và hoàn thiện sản phẩm nhóm
⋅ Các nhóm rút kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức về bài học
3.2. Vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học bài: “Phỏng vấn
và trả lời phỏng vấn” (SGK Ngữ văn 11, tập1)
3.2.1. Giai đoạn 1: Hoạt động trước giờ học
- Hoạt động 1: Chuẩn bị dự án, định hướng bài học
+ Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án:
Để thu thập thông tin cho chuyên mục “Trang vàng truyền thống” của tờ báo Đòan
TNCSHCM trườngnhân dịp kỉ niệm ngày 20/11, em được giao nhiệm vụ phỏng vấn các nhân vật
(Thầy (cô) hiệu trưởng; Một thầy (cô) giáo đã dạy học lâu năm tại trường; bác lao công đã gắn
bó với trường từ ngày thành lập đến nay và Anh (chị) bí thư Đoàn trường)
+ Xác định mục tiêu dự án
+ Xác định các nguồn hỗ trợ dạy và học
- Hoạt động 2: Thiết kế dự án
+ Lập kế hoạch bài dạy và Soạn giáo án
+ Chia nhóm học sinh và Phân công nhiệm vụ cho các nhóm
phục của giới trẻ hiện nay. Dựa trên đoạn phim này hãy thực hiện một cuộc phỏng vấn một thầy
(cô) giáo trong trường theo chủ đề:“Về trang phục HS và thanh niên hiện nay”
HS: Nhận nhiệm vụ mới; Rút kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức
III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1.Mục đích thực nghiệm
Kiểm nghiệm tính khả thi của DHDA khi dạy học bài học nhật dụng của môn Ngữ văn ở
trường THPT và đánh giá triển vọng của phương pháp này trong việc tạo ra nhiều hứng thú, tích
cực hóa hoạt động của HS
2. Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm
15
Phương pháp dạy học dự án được thực nghiệm tại trường THPT Ngô Quyền- TP Nam
Định với cơ sở vật chất tương đối đầy đủ: có phòng học đa chức năng. Đối tưọng lớp10D với45
HS có ý thức học tập tốt, đa số có kiến thức về tin học …
Thời gian thử nghiệm sư phạm diễn ra trong 1 tuần từ 07/4/2014- 15/ 4/2014
3. Tiến trình thực nghiệm
3.1. Chuẩn bị cho quá trình thực nghiệm
- Xây dựng kế hoạch bài dạy và giáo án.
- Làm việc với tập thể học sinh
- Tiếp xúc, làm quen với tập thể HS lớp 10D trước khi bắt đầu bài học 1 tuần
- Giới thiệu cho các em về Dạy học dự án
- Giới thiệu bài học “Viết quảng cáo” (SGK Ngữ văn 10, Tập 2)
- Giới thiệu về dự án để học bài “Viết quảng cáo” (SGK Ngữ văn 10, Tập2)
Tham dự cuộc thi “Tuyển dụng nhân sự cho phòng kinh doanh” của một công ty chuyên cung
cấp hàng tiêu dùng, em nhận được một chủ đề như sau:“Trong vai một nhân viên marketting
của công ty, hãy thiết kế một quảng cáo cho một trong các sản phẩm của công ty để thu hút
được nhiều nhất khách hàng lựa chọn và tin dùng sản phẩm”. Em sẽ làm như thế nào để chiến
thắng trong cuộc thi này.
- Chuyển giao nhiệm vụ cho HS
+ Chia nhóm học sinh: thành 4 nhóm và đảm bảo mỗi nhóm có HS giỏi (khá), HS trung
bình, HS yếu và có lưu ý đến hứng thú của HS
- Họp nhóm, tập hợp lại tài liệu được lựa chọn
- Nhóm trưởng nhắc lại nhiệm vụ của nhóm và điều hành các
thành viên thiết kế quảng cáo trong các vai:
+ Nhà nghiên cứu: Mọi thành viên trong nhóm đều phải
tham gia tìm kiếm thông tin và nghiên cứu ý tưởng thiết kế
quảng cáo cho sản phẩm mà nhóm lựa chọn
+ Nhà thiết kế: đề xuất ý tưởng quảng cáo, lên kế hoạch chi
tiết cho văn bản quảng cáo (VBQC) quảng cáo như: bố cục,
nội dung lời quảng cáo và dự kiến hình thức trình bày
+Chuyên viên công nghệ: thực hiện nghiên cứu trên
Internet, tải thông tin và sau khi bàn bạc với nhà thiết kế
quyết định hình thức trình bày VBQC (lựa chọn cách thức
trình bày sản phẩm sao cho ấn tượng như: định dạng tờ rơi, áp
phích hay văn bản viết có minh họa hình ảnh)
+ Biên tập viên: ghi chép quá trình làm việc của nhóm
+ Người thuyết trình: giới thiệu quá trình nghiên cứu của
nhóm, trình bày kết quả (có thể kết hợp nhiều cá nhân) và
thuyết minh về ý đồ quảng cáo của nhóm mình
- Các thành viên thực hiện dự án trên cơ sở Kế hoạch dự án,
Phiếu hướng dẫn nghiên cứu dự án và Tiêu chí đánh giá
sản phẩm do GV cung cấp trước giờ lên lớp.
- Sau thời gian hạn định, từng thành viên báo cáo kết quả và
thảo luận trước nhóm
- Nhóm cùng chỉnh sửa, hòan thiện sản phẩm; bàn bạc về
cách thức trình bày. Quá trình làm việc này sẽ được Thư kí
nhóm ghi chép vào Biên bản làm việc nhóm
3.2.3. GV tổ chức cho HS báo cáo sản phẩm (35 phút )
- Hoạt động 1: GV nêu lại nhiệm vụ, chỉ dẫn về cách thức và thời gian trình bày cho các nhóm
- Hoạt động 2: Các nhóm trình bày sản phẩm và chọn ra sản phẩm ấn tượng nhất
+ Mỗi nhóm có 4 phút để giới thiệu VBQC mà nhóm mình sưu tầm
Miwon đã bị xóa âm thanh, yêu cầu các nhóm viết lời quảng cáo cho sản phẩm này.
- Cuối tiết học, HS làm bài kiểm tra 5 phút đánh giá kiến thức HS thu nhận được sau tiết học
C. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
18
Một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công trong nghề dạy học chính là người
Thầy phải giải phóng được mọi tiềm năng trong học sinh. Việc tạo ra những tình huống có
vấn đề, những mâu thuẫn trong nhận thức sẽ kích thích được nhu cầu khám phá của học
sinh, tạo động lực cho quá trình học tập. Phương pháp dạy học dự án sẽ khơi dậy ở học sinh
niềm say mê học tập, khả năng tìm tòi, bồi dưỡng năng lực thích ứng và giải quyết các vấn đề
đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống
Điều này có thể được minh chứng qua một số kết quả sau:
I. Kết quả bài kiểm tra
Câu hỏi trong đề kiểm tra gồm 7 câu, nội dung chủ yếu bám sát 4 nội dung chính của bài học
nhằm kiểm tra mức độ hiểu bài của HS và giúp các em nhớ bài học ngay trên lớp. HS làm bài
kiểm tra với thái độ nghiêm túc.
ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM
(Thời gian làm bài: 5phút)
1. Lựa chọn từ đúng để hòan thiện khái niệm về văn bản quảng cáo:
Văn bản quảng cáo là loại văn bản [ ] về một sản phẩm dịch vụ nhằm [ ] và thuyết phục
khách hàng về chất lượng, tiện ích, của sản phẩm, dịch vụ mà ham thích [ ] và [ ] dịch
vụ đó
a. Thông tin/ thu hút/ mua hàng/ sử dụng
b. Miêu tả/ thu hút/ sản phẩm/ sử dụng
c. Cung cấp thông tin/ giới thiệu/ mua hàng/ sử dụng
d. Miêu tả/ giới thiệu/ mua hàng/ sử dụng
2. Mục đích nào sau đây không phù hợp cho một văn bản quảng cáo?
a. Giới thiệu một cuốn sánh mới hay một bộ phim mới chiếu
b. Trình bày, giới thiệu một mặt hàng mới
c. Chào mời mọi người cùng đến khai trương một cửa hàng
d. Giới thiệu nội dung một hội thảo về môi trường
Kết quả thu được như sau :
Lớp
Số
HS
Điểm kết quả thực nghiệm
Điểm giỏi
(9 – 10)
Điểm khá
(7 – 8)
Điểm trung
bình
(5– 6)
Không đạt
(0 –> 4)
HS % HS % HS % HS %
Thực nghiệm10D 45 12 27 19 42 11 25 3 6
Đối chứng
10E
47 9 19 19 41 14 30 5 10
So sánh kết quả nhận thức của 2 lớp thực nghiệm và lớp đối chứng qua 2 biểu đồ
Hình 1: Biếu đồ thể hiện số lượng điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
20
Hình 2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xếp loại phần trăm học lực của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Như vậy, sau khi tiến hành bài giảng thử nghiệm ta thấy kết quả chất lượng bài kiểm tra ở lớp
thực nghiệm cao hơn ở lớp đối chứng
II. Kết quả điều tra phỏng vấn
Chúng tôi tiến hành Phiếu phỏng vấn lấy ý kiến của HS sau tiết học thực nghiệm (Phiếu phỏng
vấn- xem phụ lục 6) , chúng tôi đi đến một số nhận định về việc vận dụng DHDA trong môn
Ngữ văn ở trường THPT như sau:
Đây cũng là điều góp phần tháo gỡ được sự lúng túng của rất nhiều GV Ngữ văn hiện nay trong
việc tìm kiếm một PPDH có thể nâng cao được hứng thú học tập cho HS.
2. Về năng lực tư duy và rèn luyện kĩ năng
22
Trong bài học “Viết quảng cáo” có sử dụng DHDA, PPDH này đã tích cực hóa hoạt
động học tập của HS và đảm bảo HS được tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực.
Qua kết quả cuộc phỏng vấn, con số 35/45 HS khẳng định: Hoạt động chủ yếu trong tiết học
thực nghiệm này là tham gia thực hiện các bài tập dự án, thảo luận sôi nổi và đưa ra được ý
kiến của cá nhân. Và 30/45 HS có thừa nhận đã tự nghiên cứu và tìm hiểu thêm các tài liệu
trước khi bắt đầu với tiết học thực nghiệm.
Có thể dễ dàng nhận thấy, khi DHDA đặt HS vào vị trí “tác giả tích cực” của quá trình
học tập, HS được tự đề xuất, lựa chọn vấn đề nghiên cứu và tự tiến hành các công việc thì HS đã
hoàn tòan chủ động (thu thập, xử lý thông; tích cực thực hiện các hành động học trong sự tương
tác với người khác). Nhờ đó mà tính tự lực, tính trách nhiệm đồng thời năng lực tư duy sáng tạo
và giải quyết vấn đề có điều kiện phát triển. Hơn nữa, khi HS đưa ra được ý kiến của cá nhân đó
là lúc các em được tự tìm hiểu chính mình và tự khẳng định mình. Đây cũng chính là biểu hiện
của kĩ năng tự học mà DHDA hình thành và phát triển ở người học.
Trong Phiếu trả lời phỏng vấn của HS lớp thực nghiệm, hầu hết HS đều nhận thấy
kiến thức mà các em lĩnh hội được từ học tập theo dự án không phải chỉ từ sự cung cấp và truyền
đạt của GV mà đều thông qua hình thức làm việc nhóm, hợp tác với các bạn trong lớp. DHDA đã
tạo được môi trường học tập tương tác đa chiều. Trong quá trình làm việc nhóm, năng lực cộng
tác, chia sẻ và năng lực lĩnh hội, đánh giá được củng cố và nâng cao. Khi có được những kĩ năng
thiết yếu của xã hội hiện đại này, HS sẽ trở thành con người năng động.
Dạy học dự án hòan tòan có khả năng vận dụng vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn
trong trường THPT ở Việt Nam và nếu được vận dụng một cách phù hợp, sáng tạo thì sẽ tạo
được nhiều hứng thú cho HS; phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập và góp
phần đa dạng hóa các PPDH Ngữ văn theo xu hướng hội nhập quốc tế.
D. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận. Qua triển khai đề tài “Vận dụng phương pháp DHDA trong môn Ngữ văn ở
trường THPT”, chúng tôi đã đưa ra và giải quyết các vấn đề sau:
phương pháp nào mà cần phối hợp với các PPDH khác. Việc vận dụng DHDA sẽ đạt được kết
quả cao hơn khi có sự kết hợp và phát huy ưu thế của các PPDH truyền thống
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục & Đào tạo. Chương trình giáo dục phổ thông. Nxb giáo dục, 2006
2. Bộ giáo dục & Đào tạo. Phân phối chương trình Ngữ văn 10,11,12
3. Bộ giáo dục& Đào tạo. SGK Ngữ văn 10, 11,12 ( tập I, II). Nxb giáo dục, 2009
4. Phan Trọng Luận. Thiết kế bài giảng ngữ văn 10, 11 và 12 (Tập 1,2). Nxb giáo dục, 2006.
24
5. Nguyễn Thị Phương Hoa- Võ Thị Bảo Ngọc. Tình hình vận dụng phương pháp project
trong dạy học ở trường Đại học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội. Nxb Đại học Quốc Gia
Hà Nội, 2004.
6. Phạm Toàn. Công nghệ dạy văn. Nxb Lao động, 2006.
7. Debbie Candau, Jennifer Doherty, Robert Hannafin, John Judge, Judi Yost, Paige
Kuni. Intel teach to the future (Chương trình dạy học cho tương lai của Intel). Nxb Lao động
xã hội, 2004.
8. Đỗ Ngọc Thống (2004), “Đổi mới nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn”,
Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 9 tháng 4 năm 2004, tr. 15- 17.
9. Phạm Đức Quang (2004), “Về phương pháp dạy học tích cực & dạy học theo dự án”, Tạp
chí Dạy và Học ngày nay, số 3 tháng 4 năm 2004, tr. 10- 17.
10. Đỗ Hương Trà (2007), “Dự án và tiến trình thực hiện”, Tạp chí giáo dục số 157 kỳ 1 tháng
3 năm 2007, tr. 12- 14.
11. Nguyễn Thị Diệu Thảo- Nguyễn Văn Cường (2004), “Dạy học theo dự án- một phương
pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên”, Tạp chí giáo dục, số 80 (4/ 2004), tr. 15- 17.
12.CÁC TRANG WEB có liên quan
http://honghia.net/day-hoc-theo-du-an.aspx
http:// vi . wikipedia.org (các từ khóa : méthode, pédagogie, pédagogie active, pédagogie de
project, project, ).
http: //www.eduquer-respect. Pédagogie- et- didactique/index.html
PHỤ LỤC 1
PHIẾU ĐIỀU TRA(Dành cho giáo viên)