phương hướng dạy học bài tác gia nguyễn ái quốc-hồ chí minh trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


NGUYỄN HỮU THẮNG PHƢƠNG HƢỚNG DẠY HỌC BÀI TÁC GIA
NGUYỄN ÁI QUỐC-HỒ CHÍ MINH TRONG CHƢƠNG
TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


đổi triệt để quan niệm và phương pháp dạy học của mình cho phù hợp với yêu
cầu của thời hiện đại - thời đại mà mỗi con người phải năng động, tích cực
sáng tạo.
Trong thực tế, giảng dạy văn học sử ở nhà trường phổ thông nói chung
và dạy các bài học về tác gia nói riêng còn nằm trong quỹ đạo của lối dạy học
cũ không phát huy được năng lực học tập của học sinh. Giảng dạy theo
phương pháp thuyết giảng hay thông báo một chiều chỉ thích ứng với nền
nông nghiệp và công nghiệp cách đây hàng chục thế kỉ. Khi tri thức nhân loại
còn ít, yêu cầu của giáo dục lúc đó chỉ cần những con người " thừa hành và
thừa hành sáng dạ" chứ không phải là con người năng động sáng tạo, biết giải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, biết tự tìm kiếm việc làm như hiện
nay. Với bài văn học sử về tác gia văn học, lượng kiến thức nhiều, khó và mới
nên giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình. Dạy thuyết trình thì
kết quả đánh giá tuỳ thuộc vào khả năng tái hiện lượng kiến thức nhiều hay ít
theo lời giảng của giáo viên hay theo sách giáo khoa, khả năng sáng tạo của
học sinh không có cơ hội để phát triển. Lối dạy này sẽ ảnh hưởng rất nhiều
đến chất lượng giảng dạy của giờ văn.
Đối với các bài văn học sử về tác gia văn học, làm thế nào để học sinh
không thờ ơ với bài giảng, hứng thú say mê tìm hiểu và phát huy được tính
sáng tạo? Làm thế nào để rèn luyện năng lực tự nghiên cứu, tự hoạt động trên
văn bản của học sinh? Vì vậy có phương hướng dạy học hợp lý các bài này sẽ
giúp các em hình thành năng lực tự nghiên cứu, tự hoạt động trên văn bản là
việc làm cần thiết, sát thực đúng với xu thế đổi mới phương pháp dạy học,
đáp ứng mục tiêu giáo dục như Nghị quyết II của Ban Chấp hành Trung ương
khoá VIII đã ghi: " Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học."
Định hướng được như trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này với
những lí do sau:

còn nhiều lúng túng và chưa thực sự tìm ra phương hướng giảng dạy hợp lí,
có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các bài học về tác gia đều được giáo viên giảng
dạy bằng phương pháp thuyết trình, giảng từ đầu đến cuối, học sinh chỉ nghe
và ghi chép. Như vậy giờ học không phát huy được tính chủ động sáng tạo
của học sinh. Điều này đi ngược lại với phương pháp giáo dục hiện đại.
Phương pháp dạy học hiện đại lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là
người hướng dẫn, trò là chủ thể hoạt động. Tuy nhiên với một khối lượng kiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
thức lớn, phức tạp, quỹ thời gian có hạn, giáo viên lại chưa tìm được phương
pháp dạy học hợp lý đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng giờ học kém
hiệu quả.
1.5. Lâu nay khi tìm hiểu về nhà văn Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu,
phê bình văn học đã dành nhiều sức lực, tâm huyết cho những trang viết có
giá trị của Người. Nhưng những công trình coi "Phương hướng dạy học bài
tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh" là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt
vẫn còn vắng bóng. Cho đến nay đây vẫn là một khoảng trống cần khai thác
và nghiên cứu.
Với tất cả những lý do như trên cùng với tấm lòng kính yêu vô hạn của
người con đất Việt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi quyết định chọn
"Phương hướng dạy học bài tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trong
chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông" làm đối tượng nghiên cứu cho
luận văn này với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương
pháp dạy học văn - công cuộc mà cả xã hội đang chung tay góp sức.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là một nhân cách lớn tổng hoà nhiều tư
tưởng, chính trị, đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, phong cách sống và
làm việc, Nói về Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết "Hồ
Chí Minh là một con người phi thường, xuất chúng là nhà chiến lược, nhà
lãnh đạo, nhà tổ chức đồng thời là một nhà văn hoá, nhà báo, nhà thơ lớn.

Nguyễn Xuân Lạn-Thơ văn Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trong nghiên
cứu phê bình- NXB ĐHQG Hà Nội, năm 1999.
Đào Lan Anh- Nhân vật người kể chuyện trong truyện và kí của Nguyễn
Ái Quốc- Luận văn tốt nghiệp đại học, năm 2004.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Nguyễn Thanh Hải- Dạy thơ Hồ Chí Minh- Luận văn Thạc sĩ khoa học
Ngữ văn, năm 2007.
Nguyễn Trí-Nguyễn Trọng Hoàn-Đinh Thái Hương: Một số vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học văn- tiếng Việt ở nhà trường phổ thông- Nxb Giáo
dục, 2001.
Các nhà nghiên cứu dường như đã có những ưu ái đặc biệt với các sáng
tác của Hồ Chí Minh qua nhiều công trình kể trên. Tuy nhiên, vẫn chưa có
công trình nào đề cập đến phương hướng giảng dạy bài học về tác gia Nguyễn
Ái Quốc-Hồ Chí Minh trong chương trình trung học phổ thông. Mặc dù vậy
những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước là tiền đề quý báu cho
chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, khai thác đề tài này.
Với đề tài "Phương hướng dạy học bài tác gia Nguyễn Ái Quố-Hồ Chí
Minh trong chương trình Ngữ Văn THPT" người viết mong muốn đưa ra
được hướng tiếp cận hiệu quả bài tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trong
chương trình ngữ văn trung học phổ thông. Đồng thời, góp một phần nhỏ bé
vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học mà cả xã hội đang cùng bàn và
cùng làm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực tế học tập và giảng dạy bài tác gia Hồ Chí Minh ở nhà trường phổ
thông còn nhiều vướng mắc cần tháo gỡ: dung lượng kiến thức lớn, học sinh
chưa thực sự chủ động học tập, phương pháp giảng dạy của giáo viên đôi khi
còn lúng túng chưa phát huy triệt để tính sáng tạo của học sinh Vì vậy khi
nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một tiếng nói trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Phương pháp phân tích, tổng hợp đánh giá các tài liệu, các công trình
nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đang được tìm
hiểu.
Phương pháp khảo sát, điều tra thực trạng dạy học bài tác gia Hồ Chí
Minh ở nhà trường phổ thông nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu bài của học
sinh, giờ dạy và giáo án của giáo viên.
Phương pháp so sánh tổng hợp nhằm đưa ra những kết luận khoa học,
kết luận sư phạm. Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng dạy học tích cực.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm, hiện thực hóa phương hướng dạy
học mới qua thiết kế giáo án và giờ dạy thực nghiệm nhằm đánh giá, xác nhận
tính đúng đắn, hợp lý và khả thi của các biện pháp trong thực tế dạy học ở nhà
trường Trung học phổ thông.
6. Giả thuyết khoa học
Phƣơng hƣớng dạy học bài tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là
một đề xuất khoa học mới trong việc dạy học bài học về tác gia ở nhà trường
phổ thông. Nếu tổ chức dạy học theo đề xuất của luận văn sẽ góp phần tích
cực nâng cao hiệu quả dạy và học bài học về tác gia Hồ Chí Minh ở trường
phổ thông.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu& Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và những tiền đề khoa
học nghiên cứu tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Chương 2: Phương hướng dạy học bài tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí
Minh trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông.
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ham tìm hiểu những điều mới lạ. Ngoài những sách phải học, Người còn ham
đọc truyện và thơ ca yêu nước. Những chuyện anh hùng liệt sĩ ở địa phương,
những buổi đàm luận về thời cuộc giữa cụ Phó bảng với các nhà yêu nước
khác mà người được nghe đã sớm giáo dục cho Người tinh thần yêu nước,
thương nòi, nhen nhóm trong tâm hồn tuổi trẻ khát vọng làm việc có ích cho
dân, cho nước.
Ở nhà, Người đã được học chữ Hán từ gia đình, lớn lên theo cha vào Huế
và sau đó có một thời gian dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) với tên
gọi là Nguyễn Tất Thành. Năm 1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn),
Người đã ra đi tìm đường cứu nước. Trên con đường bôn ba tìm đường cứu
nước ấy, Nguyễn Ái Quốc đã từng qua nhiều nước thuộc châu Á, Châu Âu,
châu Mĩ, châu Phi; được tiếp xúc với nền văn hoá của nhiều nước, nhiều khu
vực trên thế giới ở cả phương Đông và phương Tây. Người biết nhiều thứ
tiếng nước ngoài và có những hiểu biết sâu sắc về các dân tộc và nhân dân thế
giới.
Năm 1918, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và thành lập
Hội Những người Việt Nam yêu nước.
Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam ở Pháp, người thanh niên
yêu nước ấy đã gửi tới Hội nghị Hoà bình họp ở Véc-xây (Pháp) bản yêu sách
Quyền các dân tộc kí tên là Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.
Trong thời gian ở Pháp, Người tích cực viết báo, viết sách tuyên truyền chống
chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phong kiến và kêu gọi đoàn kết các dân tộc
thuộc địa.
Năm 1924, Người đã bí mật sang Liên Xô tham dự Quốc tế Cộng sản V
và được chỉ định làm Uỷ viên phương Đông của Quốc tế cộng sản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Năm 1925, Người sáng lập ra tổ chức Việt Nam Cách mạng đồng chí
hội.

Năm 1990, nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã
ghi nhận và suy tôn Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà
văn hoá lớn".
Hồ Chí Minh là người chiến sĩ kiên cường trên suốt nửa thế kỉ tham gia
đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ
đại của dân tộc Việt Nam. 1.1.2. Quan điểm sáng tác văn học
Là một nghệ sĩ đầy tài năng nhưng Hồ Chí Minh chưa bao giờ nhận
mình là nhà thơ, nhà văn mà Người chỉ là người bạn của văn nghệ, một người
yêu văn nghệ. Nhưng rồi chính hoàn cảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu
cầu, môi trường xã hội và thiên nhiên gợi cảm cộng với tài năng nghệ thuật và
tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc, Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá
trị. Những áng văn chính luận giàu chất sống thực tế, sắc sảo về chính kiến và
ý tưởng (Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn Độc lập, ) những
truyện ngắn độc đáo và hiện đại, hàng trăm bài thơ giàu tình đời, tình người,
chứa chan thi vị được viết ra bằng tài năng và tâm huyết. Hồ Chí Minh am
hiểu sâu sắc quy luật và đặc trưng của văn nghệ, từ phương diện tư tưởng
chính trị đến nghệ thuật biểu hiện. Điều này trước hết thể hiện trực tiếp trong
hệ thống quan điểm sáng tác văn chương của Người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
1.1.2.1. Về vai trò của văn nghệ nói chung và vị trí của văn nghệ sĩ
trong đời sống cách mạng.
Là nhà cách mạng rất yêu văn nghệ, Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một
hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho cho sự nghiệp cách
mạng. Người đã xác định vai trò to lớn của nghệ sĩ trong sự nghiệp đấu tranh
giải phóng dân tộc và phát triển xã hội. Tinh thần đó được Người nói lên

văn chương, mỗi người khi cầm bút cần xác định rõ: "viết cho ai?" (đối
tượng), "viết để làm gì?"(mục đích), từ đó quyết định "viết cái gì?"(nội dung),
và "viết như thế nào?"(hình thức). Và Bác xác định rõ: "viết cho công nông
binh. Viết để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình, để phục vụ quần chúng"
(Văn Hồ Chủ tịch).
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, tuỳ theo từng đối tượng cụ thể, Bác
đã chủ động thay đổi từ nội dung đến hình thức của tác phẩm, từ chủ đề đến
cách viết Chẳng hạn, với đối tượng là dân thường, để tuyên truyền cách
mạng và hướng tới đồng bào mình, chủ yếu là những người dân có trình độ
thấp, thích những điều dễ hiểu, dễ nhớ, " Bác đã viết hàng loạt những tác
phẩm rất đơn sơ, mộc mạc tưởng như không thể gọi là nghệ thuật" (Hoài
Thanh), nhưng đều dễ dàng đi vào đời sống của nhân dân như "Không có gì
quý hơn Độc lập tự do", "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,
sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lí ấy không bao giờ thay đổi",
Với đối tượng là người có văn hoá cao, đó là những trí thức yêu nước, các bậc
nhân sĩ, các bậc túc nho, Bác thường viết bằng chữ Hán. Đặc biệt là những
bài thơ viết theo thể tứ tuyệt hàm súc, cô đọng. Đối với dân tộc và nhân dân
thế giới, Bác viết những tác phẩm chính luận với giọng văn mạnh mẽ, hào
hùng, chứng cớ cụ thể, xác thực, cách lập luận chặt chẽ, đanh thép. Đối với
bản thân mình, Bác sáng tác thơ văn để thể hiện ước mơ về cuộc sống, những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
xúc động trước cái đẹp, những suy nghĩ về hiện thực đất nước, tiêu biểu là tập
thơ Nhật kí trong tù.
Về tính chân thực và hiệu quả của tác phẩm văn chương
+ Thể hiện ở nội dung
Hồ Chí Minh luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân
thực. Phát biểu trong buổi triển lãm hội hoạ trong năm đầu cách mạng, Người
uốn nắn một hướng đi: "Chất mơ mộng nhiều quá mà cái chất thật của sự
sinh hoạt rất ít". Người yêu cầu văn nghệ sĩ phải " miêu tả cho hay, cho chân

Sự nghiệp văn học của Người bao gồm các lĩnh vực sau: văn chính luận,
truyện, kí và thơ ca được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau: tiếng Pháp,
tiếng Hán và tiếng Việt. Có thể tìm hiểu sự nghiệp văn học của Người chủ
yếu trên hai lĩnh vực sau:
1.1.3.1. Văn xuôi
* Văn chính luận
Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu
với mục đích đấu tranh chính trị, nhằm tấn công trực diện kẻ thù, hoặc thể
hiện những nhiệm vụ cách mạng trong những chặng đường lịch sử.
Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh
Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo "Ngƣời cùng khổ”, "Nhân đạo",
"Đời sống thợ thuyền" đã tác động và ảnh hưởng lớn đến công chúng Pháp
và nhân dân thuộc địa. Nổi bật là "Bản án chế độ thực dân Pháp", tác phẩm
chính luận sắc sảo, nói lên một cách thống thiết nỗi đau khổ của người dân
bản xứ và tố cáo trực diện chế độ thực dân Pháp; thức tỉnh, kêu gọi những
người nô lệ đứng lên chống áp bức, bóc lôt. "Bản án chế độ thực dân Pháp"
là một áng văn chính luận hùng hồn, đanh thép và có sức thuyết phục cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
"Tuyên ngôn Độc lập" (1945) là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử
lớn lao, phản ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên trì
của dân tộc đã giành được thắng lợi; trang trọng tuyên bố quyền độc lập dân
tộc của Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới. "Tuyên ngôn Độc
lập" là tác phẩm chính luận có giá trị lịch sử, giá trị pháp lí, giá trị nhân bản
và giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm được viết bởi cảm hứng phấn chấn, giàu
cảm xúc thẩm mĩ, tha thiết đề cao giá trị Chân-Thiện-Mĩ của mỗi con người
cũng như của cả dân tộc. Đây là áng văn hay có cấu trúc chặt chẽ, lí lẽ sắc
bén, ngôn từ chính xác.
"Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" (1946), "Không có gì quý hơn
Độc lập tự do" (1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết, làm

biệt" và vở kịch "Con rồng tre" đã bóc trần bộ mặt giả dối, ươn hèn, bịp
bợm, đốn mạt của tên vua bù nhìn Khải Định. Mỗi tác phẩm của Nguyễn Ái
Quốc đều cô đọng, súc tích, có tư tưởng riêng, thâm thuý, chất trí tuệ toả
trong hình tượng. Bút pháp hiện đại, nghệ thuật châm biếm và giá trị nghệ
thuật có thể so sánh với cả những tác phẩm chân chính mà người Pháp viết về
nước Pháp.
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn "Giấc ngủ mƣời
năm"(1949) với bút danh Trần Lực là một sáng tác giàu tinh thần lạc quan
cách mạng và có ý nghĩa dự báo. Ngoài truyện ngắn, Hồ Chí Minh còn viết
những tác phẩm kí đặc sắc như: Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đƣờng vừa
kể chuyện (1963)
1.1.3.2. Thơ ca.
Thơ ca là lĩnh vực nổi trội nhất trong sự nghiệp sáng tác văn học của Hồ
Chí Minh. Với trên 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Nhật kí trong tù- 133 bài, Thơ Hồ Chí Minh-86 bài, Thơ chữ Hán Hồ Chí
Minh-36 bài. Người đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học Việt
Nam hiện đại.
Trong "Mấy vấn đề về phƣơng pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí
Minh", Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã chia thơ Hồ Chí Minh thành hai bộ
phận: Thơ tuyên truyền cách mạng và thơ nghệ thuật. Quan điểm này có
nhiều nhà nghiên cứu không đồng tình, họ cho rằng phân chia như thế là
không chính xác. Vì thơ Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố tuyên
truyền và yếu tố nghệ thuật. Cố Thủ tướng Trường Chinh nói: "Nghệ thuật và
tuyên truyền là không hoàn toàn khác, nhưng cũng không hoàn toàn giống
nhau. Tuyên truyền cũng là một thứ nghệ thuật. Nghệ thuật tuyên truyền là
một phần trong nghệ thuật nói chung. Và bất cứ một tác phẩm nghệ thuật nào
cũng có ít nhiều tính tuyên truyền( ). Tuyên truyền cao tới một mức nào đó
thì tuyên truyền trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật thiết thực tới một mức nào


Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần
Nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước đã tìm thấy ở Nhật kí trong
tù "một tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng" (Viên Ưng, Trung
Quốc), " một con người qua cuộc đời mình đã dạy cho mọi người hiểu rằng:
đối với con người không có đỉnh cao nào là không thể đạt được" (Phêlich Pita
Rôđrighêt, Cuba). Đặng Thai Mai thì cho rằng: "Đọc tập thơ thực sự cảm thấy
đứng trước một thi sĩ và một con người cao cả vĩ đại". Nhật kí trong tù chứa
đựng những bài học về nhân sinh, đạo lý cho hôm nay và cho mai sau.
Nhật kí trong tù là tập thơ chứa chan tình cảm nhân đạo. Tuy trong
hoàn cảnh tù đày và trên hành trình bị áp giải, Hồ Chí Minh luôn bộc lộ sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
cảm thương trước cảnh đời lam lũ của những người phu đường và những
người nông dân vất vả một nắng hai sương. Người đặc biệt quan tâm đến cảnh
đời của những em nhỏ, của người phụ nữ cũng phải chịu cảnh tù đày. Và
riêng những người " cùng hội cùng thuyền " cũng được tác giả chia sẻ tình
thương. Tình cảm nhân đạo trong Nhật kí trong tù là thuộc về chủ nghĩa
nhân đạo của giai cấp vô sản, khác với tình thương của tôn giáo, khác biệt với
tình thương có tính chất ban phát của giai cấp phong kiến, tư sản Nhật kí
trong tù giàu giá trị nghệ thuật. Nhiều tứ thơ được thể hiện rất sáng tạo, rất
đẹp (Không ngủ đƣợc, Ngắm trăng, Đi đƣờng, Nghe tiếng giã gạo ),
nhiều hình ảnh gợi cảm từ mặt trời buổi sớm, vầng trăng non trong đêm, dòng
sông vui giữa hai bờ làng xóm, làng quê được mùa vui ca hát.
Điều đặc biệt của Nhật kí trong tù còn thể hiện ở chỗ đây là tập nhật kí
viết bằng thơ, những bài thơ bề ngoài là tự sự, song chủ yếu là kí thác tâm
tình. Bởi "thơ là tiếng lòng, là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn" (Tố
Hữu), thơ có khả năng thể hiện một cách trực tiếp thế giới nội tâm phức tạp
của con người. Hầu hết 133 bài thơ trong Nhật kí trong tù đều được viết

*Về văn chính luận
Hồ Chí Minh có phong cách nghệ thuật hết sức phong phú, đa dạng. Bác
là người đầu tiên sử dụng có hiệu quả cao thể văn chính luận hiện đại. Văn
chương Việt Nam vốn có truyền thống về tính chính luận, từ Nguyễn Trãi đến
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang đặc
điểm cốt cách của văn chính luận hiện đại của giai cấp vô sản.
Văn chính luận của Hồ Chí Minh bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn
hoá, gắn lí luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, sử dụng có hiệu quả nhiều
phương thức biểu hiện. Chỉ riêng hình thức mẩu chuyện được kể qua một câu
chuyện nhỏ, một mảnh đời chân thực đã góp phần chứng minh thuyết phục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
cho những vấn đề lí luận. Bản án chế độ thực dân Pháp đã sử dụng hàng
chục mẩu chuyện nhỏ cảm động, hấp dẫn. Viết thành công những mẩu chuyện
nhỏ là một nét độc đáo của tài năng tác giả trong văn xuôi. Tuỳ vào mục đích
và đối tượng khác nhau, có khi là những lập luận hùng hồn đanh thép, đầy
tính chiến đấu như dồn đối phương vào chỗ cùng đường, có khi lại kết hợp
giữa tình và lý, giọng điệu ôn tồn thân mật như đưa lẽ phải thấm vào lòng
người.
*Về truyện và kí
Truyện và kí của Nguyễn Ái Quốc là những tác phẩm mở đầu và góp
phần đặt nền móng đầu tiên cho văn xuôi cách mạng. Ngòi bút của Người
trong truyện ngắn rất chủ động và sáng tạo: có khi là lối kể chân thực, tạo
không khí gần gũi, có khi là giọng điệu sắc sảo châm biếm thâm thuý và tinh
tế. Khi viết cho người Pháp đọc thì Hồ Chí Minh sử dụng bút pháp hiện đại,
khi viết cho đồng bào mình thì lại trở về lối truyện truyền thống. Chất trí tuệ
và tính hiện đại là những nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc.
*Về thơ ca
Về thơ ca, phong cách sáng tác của Người rất phong phú, đa dạng. Nhiều
bài viết theo phong cách cổ thi hàm súc, uyên thâm đạt chuẩn mực cao về

phục vụ cách mạng, phụng sự đất nước làm mục đích. Quan điểm đó đã ảnh
hưởng sâu rộng tới văn học cách mạng Việt Nam.
1.2. Những tiền đề khoa học nghiên cứu tác gia Nguyễn
Ái Quốc-Hồ Chí Minh
1.2.1. Đặc trưng bài văn học sử
Bài văn học sử có vị trí quan trọng trong văn học nhà trường, nó cung
cấp cho học sinh những kiến thức, những hiểu biết về một thời kì, một giai
đoạn, một tác gia văn học để từ đó học sinh dễ dàng chiếm lĩnh những tác

Trích đoạn Tổ chức cho học sinh tìm tòi, phát hiện hệ thống lôgic lập luận Xây dựng tốt hệ thống câu hỏi cho học sinh làm việ cở nhà và trên lớp Hƣớng dẫn học sinh làm việc với sách giáo khoa Tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học bài tác gia Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status