TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
CÁC BÀI HÁN VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Giáo viên hướng dẫn: THẦY HUỲNH VĂN MINH
NĂM HỌC 2015 – 2016 MỤC
LỤC
1. TĨNH DẠ TƯ
1.1.
Giới thiệu chung
1.1.1.
Tác giả
Lí Bạch ( 701 – 762 ) , nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thời Đường, tự Thái
Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê ở Cam Túc; lúc mới 5 tuổi, gia đình về định cư ở
làng Thanh Liên, huyện Xương Long thuộc Miên Châu (Tứ Xuyên) nên nhà thơ
vẫn thường coi Tứ Xuyên cũng là quê hương của mình.
Lý Bạch là người có tài uống rượu làm thơ bẩm sinh.15 tuổi ông đã có bài
phú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng. Lúc 16
tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái Thiên
Sơn học đạo, bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ.
Hai năm sau, Lý Bạch hạ sơn và bắt đầu con đường viễn du cảu mình. Ông đi
靜靜靜
靜靜
靜靜靜靜靜
靜靜靜靜靜
靜靜靜靜靜
靜靜靜靜靜
1.2.
Bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ trong Sách giáo khoa
1.2.1. Phiên âm
Tĩnh dạ tư
Sàng
tiền
minh
Nghi
thị
địa
Cử
đầu
vọng
Đê đầu tư cố hương.
nguyệt
quang,
thượng
sương.
Ngẩng
đầu
Cúi đầu nhớ cố hương.
1.3.
ánh
đất
nhìn
trăng
phủ
trăng
rọi,
sương.
sáng,
Lí giải văn bản
1.3.1. Xác định ngữ trong câu thơ (dòng)
Nhan đề:
靜靜靜
−
Nhan đề:
−
Câu 1:
靜靜靜靜靜
−
−
−
靜 Sàng: cái giường/ cái giá gác đồ/ cái sàn bắt trên giếng
靜 Tiền: trước/ cái trước/ sớm trước/ tiến lên -> Phía trước
靜 Minh:sáng/ sáng suốt, trong sạch/phát minh to rõ/ mắt sáng/ mới
sáng/ thần minh/ nhà Minh
−
−
靜 Nguyệt: mặt trăng/ tháng
靜 Quang: ánh sáng/ rõ ràng/ trơn bóng/ vẻ vang/ hết sạch. Chọn nghĩa là
rõ ràng bởi lẽ minh nguyệt đã diễn tả ánh trăng, thì quang để đặc tả sáng rõ
ràng, đang chiếu sáng.
Câu 1 có kết cấu là một cụm chủvị :
−
Nghi thị là trạng ngữ bổ cho cụm chủ vị phía sau
Trong cụm chủ vị : Minh nguyệt quang, minh nguyệt là chủ ngữ, quang là
vị ngữ
Sàng tiền minh nguyệt quang:Trước giường ánh trăng đang chiếu sáng
Trong cụm địa thượng sương: địa làm bổngữ cho thượng
− Địa thượng làm bổ ngữ cho danh từsương
− Cụm địa thượng sương bổ cho động từ nghi thị
Nghi thị địa thượng sương: Cứ ngỡ là phủ sương trên mặt đất
−
−
Câu 3:
靜靜靜靜靜
− 靜 Cử: cất lên/ nổi dậy/ đẩy lên/ đưa lên/ tiến/ dẫn/ biên chép/ khen
ngợi/ bay cao/ thi đỗ/ sinh đẻ-> Ngẩng đầu
−
靜 Đầu: phần trên của thân mình/ phần ở trên hết/ bậc cao nhất/
đứng trước hết/ mỗi một con súc vật gọi là đầu.
−
靜 Vọng: trông xa/ được người ta ngửa trông/ trông mong/ ngày rằm
tháng âm lịch
−
靜 Minh:sáng/ sáng suốt, trong sạch/phát minh to rõ/ mắt sáng/ mới
sáng/ thần minh/ nhà Minh
−
靜 Tư/ Tứ : nghĩ ngợi/ nghĩ đến/mến nhớ/thương/tiếng dứt câu. Tứ : ý tứ
靜 Cố: việc-cớ/ nguyên nhân/ cũ/ chết/ gốc ( quê hương)/ cố tình/ cho
−
nên ( nối cho câu trên)
Vì Cố hương: là quê hương cũ, nên mình được sinh ra nên nghĩa gốc quê
hương sẽ phù hợp
−
靜 Hương: làng/ một khu vực/ nhà quê/ hướng ( phương hướng)
Câu 4 có hình thức cú pháp là ngữ động từ, trong đó “đê” là động từ trung
tâm, “tư cố hương” và “đầu” là hai bổ ngữ: “tư cố hương” có “tư” là động từ trung
tâm, “cố hương” là bổ ngữ, “cố hương” có hương là danh từ trung tâm, “cố” là
định ngữ
Đê đầu tư cố hương: Cúi đầu thì (ta) cũng nhớ quê hương như thế
*Nỗi nhớ quê hương da diết hiện lên qua mỗi hành vi, cử chỉ, suy nghĩ đều
hướng về, nhìn gì thấy gì cũng trăn trở về nó
1.3.2. So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa
Bản dịch sách giáo khoa
Bản dịch của nhóm
Tiêu đề: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh Tiêu đề: Tâm tư trong đêm thanh tĩnh
Dịch nghĩa:
Dịch nghĩa:
Ánh trăng sáng đầu giường
Ngỡ là sương trên mặt đất
tình bay bổng khiến người đọc như chìm đắm trong một không gian vừa thanh tịnh
vừa gần gũi nhất. Và trăng là biểu tượng chủ đạo trong thơ ông với vẻ đẹp viên
mãn, nhưng vương nhiều nỗi niềm, bởi nó gắn bó với những năm tháng ấu thơ của
ông. Bài thơ “Tĩnh dạ tứ” được sáng tác trong hoàn cảnh tha hương, bắt gặp một
đêm trăng đẹp khiến nỗi nhớ quê trong ông lại bùng cháy lên mãnh liệt. Bài thơ
chính là tiếng lòng nhẹ nhàng, sâu lắng và đầy âu lo.
“Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương”
Chữ "sàng tiền" trong câu đầu tiên của bài thơ được nhiều dịch giả dịch là đầu
giường. Đầu giường chữ Hán là "sàng đầu".Thay "tiền" bằng "đầu" không phạm
luật thơ nào cả, nên thiết tưởng nếu Lý Bạch muốn nói "đầu giường trăng sáng soi"
thì hẳn ông đã viết "sàng đầu minh nguyệt quang"... "Sàng tiền" nghĩa là trước
giường. Ánh trăng rọi qua cửa thành một vùng trăng trắng trước giường, nhà thơ có
lẽ vừa tỉnh dậy, còn mơ màng, nên ngỡ là sương...
Hiện tượng trăng rọi vào đầu giường xuyên qua khung cửa sổ là cảnh tác giả
có thể thấy.Có lẽ đêm trăng đó quá đẹp, quá ấn tượng trong một đêm thanh tịnh
như vậy khiến cho tác giả bồn chồn, trằn trọc không thể chợp mắt được. Ánh trăng
len lỏi vào đầu giường khiến tác giả có một phép so sánh đầy tinh tế “Ngỡ măt đất
phủ sương”. Ánh trăng chiếu rọi xuống mặt đất vào buổi tối khiến tác giả có cảm
giác như măt đất đang bị bao phủ bởi một lớp sương trắng.
Ngỡ thoáng thôi, rồi biết là ánh trăng, rồi ông ngồi dậy ngẩng đầu nhìn trăng,
rồi cúi đầu nhìn vào... lòng mình !
“Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hượng”
Hai tư thế: “ngẩng đầu” và “cúi đầu” chính là hai tâm trạng: “nhìn” và “nhớ”.
Hai đối tượng làm xúc động và trĩu lòng kẻ xa quê đó là ‘trăng sáng’ và ‘cố
hương’. Hai hình ảnh “trăng sáng” và “cố hương” sóng đôi với nhau biểu hiện một
tâm hồn giàu tình yêu thiên nhiên, một tấm lòng yêu quê hương thiết tha sâu nặng.
Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm
1969, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung; quê làng Kim Liên (làng Sen), xã Kim
Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thưở sinh thời , Người xuất thân trong một
gia đình nhà nho yêu nước, cha là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Trước khi tham
gia hoạt động cách mạng Người học chữ Hán, sau đó học tại trường Quốc học Huế,
có thời gian dạy học tại trường Dục Thanh (Phan Thiết). Ngày 5 tháng 6 năm 1911,
Người ra đi tìm đường cứu nước.Năm 1919 gửi bản yêu sách của nhân dân An
Nam tới hội nghị Hòa Bình ở Véc- xây ký tên là Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 dự
Đại hội Tua và là một trong những thành viên sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp.Từ
năm 1923 – 1941: chủ yếu hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, Thái Lan. Năm 1941
trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng. Sau CMT8 1945 thành công, Người
được bầu làm chủ tịch nước và dẫn dắt phong trào cách mạng đi đến những thắng
lợi vẻ vang.Cả cuộc đời của Người cống hiến hết cho sự nghiệp cách mạng dân
tộc, trở thành nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam nói riêng, của quốc tế
cộng sản nói chung. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Người còn để lại một số di
sản văn học quý giá, xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Tác phẩm
tiêu biểu: Tuyên ngôn độc lập; Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu; Nhật
ký trong tù.
2.1.2. Tác phẩm
Thất ngôn tứ tuyệtlà thể thơ mỗi bài có 4 câu và mỗi câu 7 chữ, trong đó
các câu 1,2,4 hoặc chỉ các câu 2,4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối, tức là chỉ có 28
chữ trong một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, là phân nửa củathất ngôn bát cú. Được ra
đời vào thời kỳ nhà Đường, có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Nguyên tiêu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi. Bài thơ
có nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng...
điệu thơ thanh nhẹ. Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm.Bài thơ như
một đoá hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh.Nguyên
tiêu được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Sau
thuỷ
tiếp
xuân
thiên.
Yên
ba
thâm
xứ
đàm
quân
sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
2.2.2. Dịch nghĩa
Đêm nay, đêm rằm tháng giêng, trăng đúng lúc tròn nhất,
Sông xuân, nước xuân, tiếp giáp với trời xuân;
Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng bàn việc quân,
Nửa đêm quay về trăng đầy thuyền.
2.2.3. Dịch thơ
Rằm
xuân
lồng
lộng
trăng
Sông
xuân
nước
lẫn
mầu
trời
靜: Nguyệt: mặt trăng / tháng
靜 : +Chánh, chính : phải, chính đáng / ngay ở giữa / ngay thẳng / chức
quan / đủ / ngay ngắn / phần chính / đúng giữa
+Chinh: tháng đầu năm / cái đích tập bắn
−
−
−
−
−
靜:Viên: tròn / trộn / đầy đủ / đồng bạc
Dòng thơ đầu tiên có hình thức cú pháp là một câu có kim dạ nguyên tiêu
là trạng ngữ, nguyệt là chủ ngữ, chính viên là vị ngữ
Trong cụm Kim dạ thì dạ là danh từ chính, kim làm định ngữ cho dạ.
Kim dạ nguyên tiêu có kim dạ và nguyên tiêu là hai ngữ danh từ đẳng lập.
Trong cụm chính viên thì chính bổ ngữ cho tính từ viên
Kim dạ Nguyên Tiêu nguyệt chính viên: Đêm nay, nguyên tiêu, trăng
đúng lúc tròn
Câu 2:
靜靜靜靜靜靜靜
− 靜: Xuân: mùa xuân / tuổi trẻ / rượu xuân
− 靜: Giang: sông Giang / sông lớn, sông cái
− 靜: Thủy: nước / sông, ngòi, khe, suối / bạc đúc
靜: Yên: khói / mây mờ / mù mịt / thuốc hút, thuốc lào, thuốc phiện / nhọ
nồi, than muội
−
−
靜: Ba: song nhỏ / những thứ còn dư / dần đến / tia sáng của con mắt
靜 : Thâm: bề sâu / cách xa / sâu kín / lâu dài / tiến thủ / bắt bẻ nghiêm
ngặt / tệ lắm
−
靜: +Xử:ở / phân biệt phải trái / xử án / vị trí / về thường
o
+Xứ: nơi, chỗ / nơi nào đó
−
−
−
−
−
−
−
−
−
靜: Đàm: bàn bạc
靜: Quân: quân lính / chỗ đóng binh / tội đày đi xa /sự phân chia đất đai
靜:Nguyệt: mặt trăng / tháng
靜:Mãn: đầy đủ, đầy tràn, thừa / tên riêng (Châu Mãn, giống Mãn)
靜:Thuyền: cái thuyền
Trong cụm Dạ bán,dạ bổ ngữ cho bán.
Trong cụm quy lai,lai bổ ngữ cho quy.
Trong cụm mãn thuyền,thuyền bổ ngữ cho tính từ chính là mãn.
Trong cụm Dạ bán quy lai, dạ bán là cụm phụ bổ ngữ cho cụm chính là
quy lai.
Trong cụm nguyệt mãn thuyền,nguyệt là chủ ngữ, mãn thuyền là vị ngữ.
=>Dạ bán quy lai là cụm phụ bổ ngữ cho cụm nguyệt mãn thuyền.
Nửa đêm quay trở về, ánh trăng đã dát đầy cả thuyền
2.3.2. So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa
Bản dịch sách giáo khoa
Bản dịch của nhóm
Tiêu đề: Rằm tháng giêng
Tiêu đề: Nguyên tiêu
Dịch thơ:
Dịch thơ:
Đêm nay, nguyên tiêu, trăng đúng lúc
tròn,
Sông xuân cùng làn nước xuân hòa vào
với trời xuân.
Nơi sâu thẳm của khói sóng tiến hành
bàn bạc việc quân,
Nửa đêm quay trở về, ánh trăng đã dát
đầy cả con thuyền.
vật chứa cái vô hình chứ không phải ở thế bị động khi mà thuyền bị ánh trăng bao
phủ.
Như thế mới thấy được cái thật và cái đẹp như hòa vào làm một, người làm
việc quân không phải là người chỉ biết đến chính trị khô khan mà còn là người thi
sĩ vô cùng tinh tế biết rung động, biết yêu và biết cảm cái đẹp.
Nhận xét
Nguyên tiêu là bài thơ xuân, thơ trăng hay nhất của Bác Hồ. Nguyên tiêu là
bài thơ tiêu biểu mang phong cách thơ Hồ Chí Minh lấp lánh ánh thép và ngời sáng
chất tình; hài hòa giữa tính thi sỹ và chiến sỹ.
“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên”
Câu đầu là câu khai, cũng gọi là câu phá, câu mở đầu bài thơ.Câu khai quả đã
tài tình mở ngay ra toàn cảnh một bức tranh trăng đêm rằm tháng giêng đặc
biệt.Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên).Đêm rằm, trăng sáng
ánh trăng lồng lộng dát vàng trên nền trời, phủ khắp chốn trần gian, ánh trăng tràn
mọi nẻo...đêm trăng đẹp của mùa xuân, gợi đến con người yêu trăng, đến tinh thần
dân tộc trong nếp cảm, nếp nghĩ của vị lãnh tụ kháng chiến. Mỗi chữ có một sức
gợi cảm rất lớn, câu thơ mở ra một bình diện bát ngát vô cùng, với một chiều sâu
thăm thẳm, gợi cho người đọc cảm giác viên mãn về một đêm trăng tuyệt vời.
“Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”
Câu thứ hai là câu thừa, cũng gọi là câu thực, là nói về nội dung thực của bài
thơ.Câu thơ đã vẽ ra một bức tranh trăng tuyệt vời, tiếp nối đúng ý gợi mở của câu
khai.Dòng sông trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn, sông xuân “xuân giang”cùng với
dòng nước xuân “xuân thủy” tiếp nối với màu xanh của “xuân thiên”. Xuân giang,
xuân thủy, tiếp xuân thiên, thì sông xuân, nước xuân, trời xuân hòa làm một.Nó cứ
từng lớp, từng lớp - mà nhân lên.Sông xuân lại có nước xuân và trời xuân.Cả ba
cảnh sông xuân, nước xuân, trời xuân làm thành bức tranh xuân.Cái hữu hạn của
sông xuân, nước xuân đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời xuân làm cho không
gian trở nên bát ngát như tấm lòng và tâm thế nhà thơ vậy.Khí xuân tràn ngập sự
3. HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG
3.1.
Giới thiệu chung
3.1.1. Tác giả
Lý Bạch (701 – 762) Tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, sinh ở Tứ Xuyên (làng
Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam
Túc (huyện Thiên Thuỷ – tức Lũng Tây ngày xưa).Lý Bạch xuất thân trong một gia
đình thương nhân giàu có.Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa. Lớn lên thích
giang hồ ngao du sơn thụy 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm
trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua Hồ Động Đình, lên Sơn Tây Sơn Đông
cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người
đời gọi là Trúc khê lục dật (sáu người ẩn dật trong khe trúc). Sau đó được người
bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Tràng An ba năm, nhưng nhà
vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn
thủy. Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn “vong niên” (bạn “quên tuổi tác”,
không coi trọng tuổi tác – Đỗ Phủ nhỏ hơn Lý Bạch 11 tuổi).Họ cùng Cao Thích
vui chôi, thưởng trăng ngắm hoa, san bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia
tay Đỗ Phủ viễn du về phương Nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lô Sơn.
Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy,
uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn
Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ (An Huy) là địa điểm du lịch nổi
tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên (ông tiên trong làng thơ),
Trích tiên (tiên giáng trần), Tửu trung tiên (ông tiên trong làng rượu)…
3.1.2. Tác phẩm
Thất ngôn tứ tuyệtlà thể thơ mỗi bài có 4 câu và mỗi câu 7 chữ, trong đó các
câu 1,2,4 hoặc chỉ các câu 2,4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối, tức là chỉ có 28 chữ
Yên
hoa
tam
nguyệt
Hoàng
há
Hạc
Dương
lâu,
Châu.
Cô
phàm
viễn
ảnh
bích
khuất
bầu
không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
3.3.
Lí giải văn bản
3.3.1. Xác định ngữ trong câu thơ (dòng)
Nhan đề:
−
−
−
−
−
−
: Hoàng Hạc: danh từ riêng
: Lâu: nhà lầu (phàm vật gì có từng trên đều gọi là lâu)
: Tống: đưa đi / tiễn đi / đưa làm quà / vận tải đi, áp tải
: Mạnh Hạo Nhiên: danh từ riêng
: Chi: chưng / đi / đến / đấy / ấy
: Quảng Lăng: danh từ riêng
Nhan đề có kết cấu là một ngữ động từ
−
Câu 1 có kết cấu là cụm chủ vị
−
−
−
Cố nhân là chủ ngữ, tây từ là vị ngữ, Hoàng Hạc lâu là trạng ngữ
Trong cụm cố nhân, nhân là trung tâm
Trong cụm tây từ, từlà trung tâm
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu: Bạn cũ giã biệt phía Tây tại lầu Hoàng
Hạc
Câu 2:
−
−
: Yên: khói / chất hơi nhiều / thuốc hút / nhọ nồi, than muội
: Hoa: hoa / các vật lang lổ sặc sỡ như vẽ vời thuê thùa / danh sắc phiền
phức / nốt đậu / hao phí / nhà trò, con hát / năm đồng tiền gọi là một hoa
−