Giáo án bài Tương tư trong chương trình Ngữ văn 11 - Pdf 28

GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 11
TƯƠNG TƯ
(2 tiết)
A. Mục đích yêu cầu:
 Giúp học sinh:
- Cảm nhận được tâm trạng tương tư của chàng trai với những diễn biến chân thực mà
tinh tế, trong đó mối duyên quê quyện chặt với cảnh quê một cách nhuần nhị.
- Nhận ra được vẻ đẹp của một bài Thơ mới đậm đà phong vị ca dao.
B. Phương tiện thực hiện:
- SGK Ngữ Văn 11 (nâng cao).
- SGV Ngữ Văn 11(nâng cao).
- Thiết kế bài soạn Ngữ Văn 11 (nâng cao) (tập 1-2).
- Giáo án điện tử, phiếu học tập.
C. Tiến trình dạy học:
1. Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số:
2. Kiểm tra bài cũ: (Thời gian 5-10 phút)
*Anh (Chị) có nhận xét gì về phong cảnh thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang?
* Các hình ảnh và âm thanh trong bài thơ thể hiện tâm trạng gì của tác giả? Anh
chị cảm nhận thế nào về tâm trạng đó?
3. Giới thiệu bài mới:
- Chiếu cho HS xem một số hình ảnh về làng quê Việt Nam.
D. Nội dung bài giảng:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt
HĐ1: Tìm hiểu chung về tác giả và bài
thơ.
? Hãy rút ra những nét nổi bật về cuộc đời
và sự nghiệp văn chương của Nguyễn
Bính?
HS thực hiện.
GV định hướng: Hoàn cảnh xuất thân, cuộc
sống tự lập, một vùng quê dệt lụa giúp hình

+ Nguyễn Bính làm thơ từ năm 13 tuổi.
Năm 1937, ông đạt giải thưởng của Tự Lực
văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Các tập
tiêu biểu: Lỡ bước sang ngang (1940),
Mười hai bến nước (1942), truyện thơ Cây
đàn tì bà (1944), Gửi người vợ miền Nam
(1955), truyện thơ Tiếng trống đêm xuân
(1958), Đêm sao sáng (1962) và vở chèo
Cô Son (1961).
- Phong cách thơ: Nhà thơ nhạy cảm với
thời đại đầy biến động, đặc biệt là sự xáo
trộn của văn chương, ông thể hiện sâu sắc
nỗi day dứt không yên của tâm hồn thiết
tha với những giá trị cổ truyền đang có
nguy cơ bị mai một (Chân quê). Vì thế,
Nguyễn Bính đã đào sâu, tích hợp và phát
huy một cách xuất sắc những truyền thống
dân gian trong sáng tạo Thơ mới. Thơ ông
mang đậm chất quê, hồn quê trong cả nội
dung và hình thức, là sự hòa quyện giữa
giọng điệu quê, lối nói quê, lời quê. Ông
thành công nhất ở thể thơ lục bát.
HS đọc diễn cảm bài thơ, GV nhận xét và
đọc lại.
? Nêu cảm nhận khái quát về thể thơ, ngôn
ngữ, hình ảnh…?
HS thảo luận nhóm nhỏ (2 bàn đối diện) và
ghi vào giấy.
GV nhận xét, tổng kết.
? Theo em thế nào là tương tư? Những biểu

+ Nhớ nhung (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn
Đông. Một người… ) băn khoăn, hờn dỗi
(Hai thôn chung lại một làng. Cớ sao…)
than thở (Ngày qua ngày lại qua ngày…)
 hờn trách nhẹ nhàng (Bảo rằng cách trở
đò giang…)

nôn nao mơ tưởng (Bao giờ
bến mới gặp đò…)  ước vọng xa xôi (nhà
em có một giàn trầu…)
 Tất cả diễn ra theo lối xen lồng, chuyển
hóa rất tự nhiên, chân thực.
? Trong tình yêu, thông thường người chủ
động là con trai, chàng trai trong bài thơ
lại đóng vai trò thụ động ngồi chờ, lại còn
trách móc. Những lời trách móc có mang
nghĩa thật không?
? Em hãy lí giải sự vô lí ấy?
HS có thể lí giải theo sự cảm nhận và hiểu
biết chủ quan miễn sao cho hợp tình, hợp
lí.
GV chốt lại.
- Sự phức tạp tâm lí mang quy luật của tình
yêu:
+ Vô lí mà hữu tình: Tạo ra một tình huống
để giãi bày nỗi niềm, tâm trạng tương tư.
+ Có mà không có:
Câu hỏi tu từ: Cớ sao…? Có xa xôi mấy
mà…? Biết cho ai…? Bao giờ…? => Trách
móc nhẹ nhàng, dễ thương; là lời trách yêu,

“nghìn đêm”, “ba thu” nhưng ở đây mang
sắc thái như là vô hạn, triền miên.
=> Sự đối lập giữa thời gian vật lí và thời
gian tâm lí: Thời gian càng chậm, tâm
trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mòn
mỏi nôn nóng, thời gian càng chậm chạp lê
thê.
- Câu lục với điệp từ “ngày”và cách ngắt
nhịp 3/3, khiến chữ “lại” ở đầu nhịp sau trở
thành điểm nhấn của ngữ điệu. Ngày mới
chỉ còn lại là sự lặp lại ngày cũ một cách
chán ngán, vô vọng. Giọng thơ vang lên
như một lời than thở, kể lể ngán ngẩm.
- Câu thơ “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá
vàng” diễn tả quan hệ thời gian và tâm
trạng tinh tế và ý nhị. Thời gian có màu.
Chữ “nhuộm” diễn tả thời gian chậm chạp.
( So sánh với chữ “nhuốm” trong: Rừng
phong thu đã nhuốm màu quan san –
Nguyễn Du ). “Nhuốm” là sự biến đổi sắc
màu diễn ra ở bề mặt, chưa hoàn tất. Còn
“nhuộm” có vẻ đã hoàn tất và thấm sâu vào
bên trong. Chữ “nhuộm” để ngỏ chủ thể. Ai
nhuộm? Không hẳn thời gian, không hẳn là
nội tại của cây lá mà có lẽ là nỗi tương tư.
Tương tư đã khiến lòng người héo hon, đã
“nhuộm” cây héo úa.
HS nhận xét. GV kết luận.
GV gợi ý HS khai thác nghệ thuật thể hiện
tâm trạng nhân vật trữ tình ở những câu thơ

ngôn ngữ để nhân vật trữ tình diễn tả tâm
trạng tương tu của mình một cách tự nhiên,
kín đáo, ý nhị.
- Người tương tư, cảnh cũng tương tư: Bài
thơ đã tạo ra hai nỗi tương tư song hành và
chuyển hóa, gắn với hai chủ thể và hai đối
tượng: Người nhớ người và thôn nhớ thôn.
Sâu xa hơn nó còn biểu đạt quy luật tâm
lí:khi tương tư thì cả không gian sinh tồn
bao quanh chủ thể như cũng nhuốm nỗi
tương tư ấy. Vì thế có hai miền không gian
nhớ nhung tràn ngập cả bài thơ.
? Em hãy tìm hiểu dấu ấn thơ ca dân gian
trong bài thơ thể hiện ở chất liệu ngôn từ,
cách tổ chức, biện pháp tu từ? (Biểu hiện,
phân tích, so sánh…)
HS phát hiện và phân tích.
- Dấu ấn dân gian trong bài thơ:
+ Dùng chất liệu ngôn từ: Địa danh (Thôn
Đoài, thôn Đông); thành ngữ (chín nhớ
mười mong); dùng số từ (một, chín, mười);
cách tổ chức lời thơ độc đáo: đẩy đối tượng
về hai đầu câu thơ tạo khoảng cách xa (Một
người…một người) giữa họ là nhịp cầu
“chín nhớ mười mong”; cấu trúc câu trùng
điệp (Gió mưa là…Tương tư là…, Nhà em
có…Nhà anh có…); phép điệp và phép đối
quen thuộc của ca dao: (Ngày qua ngày lại
qua ngày…); đại từ phiếm chỉ “ai” ý nhị,
duyên dáng, kín đáo (Biết cho ai hỏi ai

- Cau thôn Đoài/ trầu thôn Không
- Trình tự xuất hiện những cặp đôi: Từ xa
đến gần, cuối cùng dừng lại ở cặp đôi
trầu – cau. Đó chính là khao khát nhân
duyên. Tình yêu gắn với hôn nhân là quan
niệm về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính,
cũng rất gần với quan niệm truyền thống
của dân gian (Bài ca dao tát nước đầu đình)
=> Chất quê thấm vào hồn thơ Nguyễn
Bính, làm nên giá trị nhân văn bài thơ.
HĐ5: Củng cố
? Nêu chủ đề, tư tưởng của bài thơ?
HS khái quát.
? Chất dân gian, chất quê trong bài thơ đem
đến cho em những cảm xúc gì về đất nước
và con người Việt Nam?
HS trả lời theo cảm nhận của bản thân. GV
chốt lại.
III. Tổng kết
- Về nội dung: Không có chất triết lí, suy
tưởng nào trong bài thơ, Tương tư chỉ thể
hiện nhẹ nhàng mà âm thầm một nỗi niềm
trong tình yêu chân quê; thật thà mà say
đắm; trong sáng mà thiết tha; khát khao
cháy bỏng mà vẫn kín đáo, ý nhị. Bài thơ
đã thể hiện những diễn biến có tính quy
luật của tâm trạng tương tư.
- Về nghệ thuật: Bài thơ thể hiện vẻ đẹp
của thơ lục bát Nguyễn Bính ( thể hiện rõ
qua thể thơ lục bát và giọng điệu, ngôn ngữ

thuộc trong ca dao: hoa –
bướm, bến – đò…
Cũng dùng những cặp hình tượng ấy song
mở rộng theo trường liên tưởng mới mẻ và
độc đáo: Thôn Đoài – Thôn Đông, một
người – một người, gió mưa – tương tư,
tôi – nàng, bên ấy – bên này,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status