1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong vài năm gần đây, khái niệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
trong nhà trường phổ thông dần trở nên quen thuộc đối với những người làm
công tác giáo dục, nhất là người giáo viên trực tiếp đứng lớp. Giáo dục kĩ năng
sống đã trở thành một trong những mục tiêu, nhiệm vụ cần thiết, thiết thực nhằm
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Bởi chúng ta đều nhận thức được
rằng việc giáo dục học sinh trong nhà trường không chỉ dừng ở việc cung cấp
những tri thức khoa học về các lĩnh vực đời sống mà còn phải hình thành những
năng lực, phẩm chất đạo đức cần thiết cho các em để xây dựng con người hoàn
thiện cả về trí tuệ lẫn tâm hồn. Ngày nay, trong xu thế phát triển và hội nhập của
đất nước, trước những yêu cầu của đời sống xã hội mới, nhiệm vụ của giáo dục
nhà trường còn quan trọng và to lớn hơn nữa khi chúng ta nhận thức được và
đang đề cao hơn nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Bởi một thực tế
mà chúng ta đang nhìn thấy đó là một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ ngày nay
đang rất thiếu và yếu những kĩ năng sống cơ bản. Những hành vi lệch chuẩn trái
ngược với thuần phong mĩ tục; những cách ứng xử thiếu văn minh và vô cảm;
những trào lưu sống ảo; những tệ nạn xã hội..vv..trong giới trẻ đều có một phần
nguyên nhân rất lớn từ việc các em thiếu các kĩ năng sống cần thiết. Việc thiếu
đi những kĩ năng ấy khiến các em không thể tự bảo vệ mình trước những tác
động tiêu cực của đời sống, dẫn đến nhiều hệ lụy đáng buồn. Có thể nói, chưa
bao giờ vấn đề giáo dục kĩ năng sống lại được đặt ra thời sự và cần thiết như bây
giờ trong nhà trường của chúng ta. Ngoài những tri thức nền tảng về các bộ môn
khoa học, xã hội đang đòi hỏi nhiều hơn nữa ở mỗi cá nhân những kĩ năng sống
cơ bản, tích cực để có thể tồn tại, chung sống trong một “thế giới phẳng” như
hiện nay. Sự đòi hỏi ấy là một xu thế tất yếu và trách nhiệm giáo dục, đào tạo,
bồi dưỡng những con người của thời đại mới ấy có một phần rất quan trọng
thuộc về nhà trường.
Trong các môn học ở nhà trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học có
nhiều ưu thế để lồng ghép nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bởi đây
là môn học có tính chất xã hội và nhân văn cao. Bản thân mục tiêu và nội dung
đức của học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Văn bản Tôi yêu em trong chương trình ngữ văn 11- cơ bản.
- Học sinh lớp 11- là lứa tuổi đang có những bước phát triển, hoàn thiện về
tâm lí, thể chất.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, thực nghiệm, phân tích số liệu, thống kê.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ
văn
2.1.1.1. Khái niệm về kĩ năng sống
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống (KNS):
Theo tổ chức Y tế Thế giới ( WHO) : Kĩ năng sống là “ khả năng thích
nghi và hành vi tích cực giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả với những đòi hỏi
và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Theo người Palestine “Kĩ năng sống là năng lực mà chúng ta cần để giải
quyết những vấn đề tồn tại của chúng ta, vượt qua áp lực, tìm kiếm sự thay đổi
tích cực và khuyến khích những điều tích cực hiện có nhằm mục đích cải thiện
tình huống của chúng ta và đạt được sự an ninh, hoà bình, hài hoà với xã hội và
với môi trường.
Theo từ điển Wikipedia “Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng của con
người có được qua việc học hoặc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống dùng để
giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống
hàng ngày”.
2
Theo tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc ( UNESCO) :
KNS gắn liền với bốn trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết gồm các kĩ năng tư
dung giáo dục mang tính thời sự - xã hội: Giáo dục tình cảm nhân văn, trách
nhiệm của thanh niên, học sinh trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giáo dục
về truyền thống dân tộc về tình bạn, tình yêu và gia đình; về vấn đề lập nghiệp;
về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục bảo vệ môi
3
trường, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục sức khoẻ, giáo dục giới tính...nhằm
đáp ứng yêu cầu hình thành ở học sinh quan hệ ứng xử đúng đắn với những vấn
đề của cuộc sống đất nước, thời đại; giúp học sinh có đủ bản lĩnh hội nhập trong
xu thế toàn cầu hoá.
* Việc giáo dục KNS trong môn ngữ văn được tiếp cận qua hai phương diện:
- Nội dung các bài học: Nhiều bài học giúp học sinh nhận thức được giá trị trong
cuộc sống, hình thành lối sống, cách ứng xử có văn hóa trong các tình huống
giao tiếp.
- Phương pháp triển khai các nội dung bài học: 6 phương pháp dạy học tích cực
và 19 kỹ thuật dạy kĩ năng sống (tr 27 – 35 tài liệu “Giáo dục KNS trong môn
Ngữ văn).
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trước đây khi dạy bài Tôi yêu em, tôi thường tiến hành như tất cả các bài
học khác một cách truyền thống, nghĩa là dẫn dắt học sinh nắm được những nét
cơ bản về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, sau đó hướng dẫn học sinh phân
tích nội dung, nghệ thuật của bài. Khi đó tôi chưa chú ý đến việc giáo dục kĩ
năng sống cho các em mà chỉ có ý thức liên hệ thực tế một chút. Ở phần liên hệ
thức tế, tôi thường nêu bài học cho học sinh về việc phải “học tập tinh thần cao
thượng của tác giả, không nên cay cú, hoặc tìm cách trả thù nếu lỡ có thất bại
trong tình yêu”. Quả thực sự liên hệ đó đã được tiến hành nhưng rất lý thuyết và
hình thức. Phản ứng lại bài học đó, học sinh thường cười ồ, và một thực tế mà
tôi nhận thấy là các em không thực sự bị thuyết phục và tin vào bài học lý thuyết
ấy, các em cho rằng đó chỉ là trong sách vở mới có chuyện như vậy, rất ít em
phù hợp với từng bài học, từng đối tượng từ đó mà lựa chọn phương pháp, kĩ
thuật dạy học tương ứng. Sự nắm vững nguyên tắc và mục tiêu GDKNS, cũng
giúp cho người giáo viên không đi chệch khỏi quỹ đạo khi lên lớp, không biến
giờ học thành giờ tuyên truyền đạo đức, hay lý thuyết suông.
Theo đó, các mục tiêu và nguyên tắc giáo dục KNS bao gồm:
Về mục tiêu: GDKNS nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái
độ và kĩ năng phù hợp. Trên sơ sở đó hình thành cho học sinh những thói quen
lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối
quan hệ, các tình huống hàng ngày.
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển hài hòa cả về thể chất, trí tuệ, tâm hồn.
Về nguyên tắc: - GDKNS trên cơ sở hoạt động tương tác. Nghĩa là học sinh
không thể được hình thành thói quen chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu
mà phải thông qua hoạt động tương tác với người khác. Trong quá trình hoạt
động tương tác đó, học sinh có cơ hội được thể hiện ý tưởng của mình, xem xét
ý tưởng của người khác, từ đó có thể nhìn nhận lại kinh nghiệm sống của mình
trước đây theo một cách nhìn khác.
- Hoạt động trải nghiệm: KNS chỉ được hình thành khi người học được trải
nghiệm qua các tình huống thực tế, tức là các em tự làm việc đó chứ không chỉ
nói về việc đó.
- Nguyên tắc tiến trình: tức là GDKNS không phải chuyện ngày một ngày hai
mà phải tuân thủ theo trình tự :Nhận thức- hình thành thái độ- thay đổi hành vi.
- Thay đổi hành vi: Đây là mục đích cao nhất của GDKNS cho học sinh.
GDKNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ,
hành động của mình theo hướng tích cực hơn.
Đối với mục tiêu GDKNS trong môn Ngữ văn:
Về kiến thức: Giúp học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của
dân tộc cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần bổ sung, mở rộng
kiến thức đã học về quyền, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội, về
định hướng nghề nghiệp.
Những mục tiêu trên đây phù hợp với mục tiêu giáo dục một số KNS như: Tự
nhận thức, giao tiếp, tư duy sáng tạo.
- Nội dung bài học: Tôi yêu em là một tác phẩm trữ tình thuộc văn học nước
ngoài. Dung lượng bài thơ tuy ngắn nhưng lại hàm chứa một nội dung tư tưởng
sâu sắc, giàu giá trị nhân văn. Bài thơ diễn tả một cách giản dị, độc đáo mà chân
thành tình yêu tha thiết, say đắm và nhân cách cao thượng, đáng phục của nhân
vật trữ tình Tôi - cũng là chính tác giả Pu-skin. Bản thân bài học đã mang đến
những giá trị nhân văn đẹp mà mỗi người có thể nhận thức, học tập, làm giàu
thêm cho tâm hồn mình. Do đó, bài học rất phù hợp với mục tiêu giáo dục một
số kĩ năng sống như: Tự nhận thức, xác định giá trị, thể hiện sự cảm thông..vv..
- Điều kiện tiến hành hoạt động dạy-học ( phương pháp, phương tiện, thiết bị
dạy học, đối tượng học sinh):
Về phương pháp: bài học Tôi yêu em có thể sử dụng những phương pháp
truyền thống như thuyết trình, phát vấn, cũng có thể sử dụng các phương pháp
mới như thảo luận nhóm và một số kĩ thuật tích cực khác. Trong quá trình tiến
hành những phương pháp đó, học sinh có thể được rèn luyện những kĩ năng
sống phù hợp như : giao tiếp, tự nhận thức, tư duy sáng tạo....
Về phương tiện, thiết bị dạy học: sử dụng máy chiếu Projector hỗ trợ phần
minh họa hình ảnh, các kết luận quan trọng trong bài học và các bài tập.
Về đối tượng học sinh: Đối với các em học sinh ở bậc trung học phổ thông,
tác phẩm Tôi yêu em càng trở nên gần gũi, hấp dẫn bởi đặc điểm tâm lí lứa tuổi
này rất nhạy cảm với những đề tài như tình yêu đôi lứa. Các em đã là những
thanh niên ở độ tuổi 17, 18, đã có sự trưởng thành nhất định về cả thể chất và
6
tâm lí, nhiều em đã xuất hiện những rung động đầu đời đối với bạn khác giới;
nhiều em rất tò mò tìm hiểu về các vấn đề tình yêu, giới tính…Đó là những nhu
cầu có thực đã và đang tồn tại ở lứa tuổi của các em. Chính vì vậy, tôi nhận thấy
đây là một địa chỉ rất phù hợp để có thể lồng ghép nội dung giáo dục kĩ năng
cách mới, khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các ý tưởng, khái niệm, sự
việc...Trong bài học này học sinh được rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo trong
quá trình phân tích, bình luận những đặc sắc trong cách thể hiện quan niệm tình
yêu của tác giả.
- Kĩ năng kiểm soát cảm xúc: là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của
mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với
bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện
cảm xúc một cách phù hợp. Thông qua bài học “Tôi yêu em”, học sinh được học
cách ứng xử của nhân vật trữ tình trong bài thơ, từ đó biết kiểm soát cảm xúc cá
nhân trong những tình huống tương tự. Các em sẽ hiểu rằng, cần bày tỏ cảm xúc
7
một cách phù hợp và không để những cảm xúc tiêu cực chi phối bản thân cũng
như ảnh hưởng đến người khác.
- Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ: trong cuộc sống, có nhiều vấn đề mà bản thân
chúng ta không thể giải quyết được và phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ từ người
khác. Do vậy, biết tìm kiếm sự giúp đỡ một cách hiệu quả là một kĩ năng sống
cần thiết đối với mỗi người. Đối với học sinh lứa tuổi THPT các em có rất nhiều
vấn đề trong học tập, sinh hoạt…nhất là các mối quan hệ bạn bè cần đến sự trợ
giúp, định hướng của người lớn, song không phải em nào cũng biết cách và đủ
tự tin bày tỏ những khó khăn, khúc mắc của mình với người khác hoặc biết tìm
đến địa chỉ giúp đỡ tin cậy. Vì thế, trong bài học này, tôi chú ý đến việc rèn
luyện kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ thông qua một số bài tập tình huống ở phần
Vận dụng. Thông qua các bài tập đó các em sẽ nhận thức được mình cần giúp đỡ
khi nào? ở đâu? để có thể tháo gỡ những khó khăn, rắc rối trong những vấn đề
nhạy cảm của lứa tuổi mình.
- Kĩ năng giải quyết vấn đề: là khả năng biết quyết định, lựa chọn phương án tối
ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống
trong cuộc sống. Đối với học sinh THPT, các em thường xuyên gặp phải những
những câu hỏi đối với giáo viên. Việc làm này nhằm tăng cường sự kết nối
người dạy- người học, giúp học sinh không chỉ là người lắng nghe, tiếp nhận mà
còn là chủ thể lắng nghe, tiếp nhận thực sự chủ động.
Theo đó, tôi đã xây dựng một hệ thống câu hỏi với nhiều mức độ khác nhau:
có câu hỏi tái hiện, có câu nêu vấn đề, có câu gợi mở, có câu hỏi mang tính tổng
hợp, khái quát..vv. Việc chuẩn bị một hệ thống câu hỏi như vậy sẽ giúp cho học
sinh có thể từng bước tiếp nhận kiến thức từ dễ đến khó, từ thấp đến cao.
Về phía học sinh, tôi cũng khuyến khích các em chuẩn bị và đặt những câu
hỏi xoay quanh nội dung bài học, đặc biệt là những câu hỏi mang tính vận dụng,
liên hệ thực tế.
- Sử dụng kĩ thuật động não: Kĩ thuật này giúp học sinh trong một thời gian
ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Tôi
sử dụng kĩ thuật này cho phần giới thiệu vào bài nhằm kết nối tri thức cũ và mới,
huy động ý tưởng của các em …..và ở các bài tập vận dụng để tìm các phương
án giải quyết vấn đề.
- Sử dụng kĩ thuật “Trình bày một phút’: Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho học
sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt câu hỏi về những điều còn băn khoăn,
thắc mắc bằng cách trình bày ngắn gọn, cô đọng ý kiến của mình trước lớp. Kĩ
thuật này còn giúp các em rèn luyện sự tự tin khi nói trước tập thể. Tôi sử dụng
kĩ thuật này vào cuối tiết học để đánh giá mức độ hiểu bài của các em với các
câu hỏi:
? Điều em tâm đắc nhất trong bài học hôm nay là gì ?
Theo em, còn vấn đề gì băn khoăn mà em muốn giải đáp hoặc trao đổi trước
lớp?
- Sử dụng kĩ thuật “viết tích cực”: Kĩ thuật này được dùng cho phần bài tập
về nhà sau tiết học. Mỗi học sinh sẽ viết về những bài học mình nhận thức được
để vận dụng vào thực tiễn sau khi học xong bài học “Tôi yêu em”
Áp dụng những giải pháp trên tôi đã soạn một giáo án chi tiết cho bài học. Sau
đây là giáo án.
giải quyết những vấn đề gặp phải trong quan hệ tình bạn, tình yêu.
C. CÁC PHƯƠNG PHÁP/ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ
DỤNG
1. Động não: suy nghĩ, lựa chọn ngôn ngữ trình bày cảm nhận về vẻ đẹp tình
yêu của Pu-skin; tìm kiếm phương án trả lời trong các bài tập tình huống.
2. Phương pháp hoạt động nhóm: Thảo luận, trao đổi để đánh giá, nhìn nhận
đúng về cách ửng xử của nhân vật trữ tình; thảo luận lựa chọn phương án ứng xử
phù hợp trong các bài tập tình huống.
3. Phát vấn, gợi mở, nêu vấn đề: Gv nêu câu hỏi với nhiều mức độ để hướng dẫn
học sinh tìm hiểu , nắm kiến thức.
4. Kĩ thuật “Trình bày một phút”: Hs trình bày ngắn gọn những cảm nhận sâu
sắc của mình về bài học.
5. Kĩ thuật “ Viết sáng tạo” : Hs viết bài cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của
Pu-skin qua bài thơ và bài học cho bản thân từ bài học Tôi yêu em.
D. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1. Sgk, tài liệu tham khảo về nhà thơ, bài thơ.
2. Hình ảnh về chân dung nhà thơ, đất nước Nga, các sáng tác của
Pu-skin, video bài thơ Tôi yêu em được phổ nhạc thành bài hát.
3. Máy chiếu Projector, phiếu học tập để thảo luận
E. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC.
I. Khám phá
- Phương pháp: Phát vấn.
Bước 1: - Gv yêu cầu học sinh kể tên một số tác phẩm đã được học viết về đề
tài tình yêu?
- Hs kể tên tác phẩm: Đoạn trích Tình yêu và thù hận ( Sếch-Xpia) , Bài thơ
Đây thôn Vĩ Dạ ( Hàn Mặc Tử), Tương tư ( Nguyễn Bính).
Bước 2: Gv giới thiệu nội dung, mục tiêu bài học: Hôm nay chúng ta sẽ được
tìm hiểu thêm một tác phẩm nữa viết về tình yêu lứa đôi của tác giả Pu-skin.
10
- Gv yêu cầu Hs nêu một vài cảm nhận ban đầu về bài thơ ( giọng điệu,
ngôn từ, tâm trạng của nhân vật trữ tình..)
- 1,2 Hs nêu cảm nhận của mình trước lớp ( Gv khuyến khích các em xung
phong trả lời, rèn luyện sự tự tin và ngôn ngữ diễn đạt)
- Sau khi học sinh nêu cảm nhận, giáo viên nhận xét, khen ngợi đối với
những em có cảm nhận và trình bày tốt, có thể cho điểm để khuyến khích.
- Gv trình chiếu video bài hát Tôi yêu em( ca sĩ Cao Minh thể hiện) cho Hs
nghe như một cách cảm nhận thêm về bài thơ.
Bước 2: Tìm bố cục bài thơ.
- Gv hỏi: ? Có thể chia bài thơ thành mấy phần? Nội dung chính của từng
phần là gì?
- Hs chia bố cục, tìm ý chính, trả lời.
- Gv chốt lại các ý( kết hợp trình chiếu trên máy):
(1) Có thể chia bài thơ thành 2 phần : 4 câu đầu là nỗi băn khoăn để
đi đến quyết định từ giã tình yêu của nhân vật trữ tình ; 4 câu sau thể hiện
11
tình yêu tha thiết và lời cầu chúc của nhân vật trữ tình cho người yêu khi từ
giã.
Bước 3: Tìm hiểu chi tiết.
a. Tìm hiểu 4 câu thơ đầu.
- Học sinh đọc thầm lại 4 câu đầu và lần lượt trả lời các câu hỏi:
Câu 1: Câu thơ mở đầu bằng cụm từ “Tôi yêu em”, cách xưng hô “Tôi- em’
như vậy có gì đáng chú ý?
Câu 2: Giọng điệu trữ tình và tâm trạng của nhân vật trữ tình có chuyển
biến như thế nào từ câu 1-2 sang câu 3-4?
- Học sinh suy nghĩ, trình bày trước lớp
- Giáo viên chốt kiến thức:
(1) Cách xưng hô Tôi-em trong cụm từ “Tôi yêu em” thể hiện đúng
đau khổ ấy tác giả đã khẳng định tình yêu của mình dành cho em là
một tình yêu “chân thành, đằm thắm”.
12
(3) Câu thơ cuối khá bất ngờ, thú vị và mang một tinh thần nhân văn
cao cả. Ấy là lời cầu chúc của “tôi” dành cho “em”: Cầu em được
người tình như tôi đã yêu em! Ta nghe như trong lời cầu chúc đó ẩn
giấu một nỗi buồn, một sự hi sinh thầm lặng nhưng đầy kiêu hãnh,
tự hào vì tình yêu sâu đậm, duy nhất của nhân vật trữ tình. Yêu là
thế, nhưng cuối cùng lại chủ động từ giã, quyết định ấy khó khăn
nhường nào, đau khổ nhường nào và cũng cao thượng nhường nào!
Qua đây ta cảm nhận và cảm phục một nhân cách cao thượng, một
tấm lòng vị tha, nhân hậu của tác giả.
Hoạt động 3: Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
- Phương pháp: thảo luận chung, Hs trình bày cá nhân.
- Gv hỏi: ? Hãy khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ?
- Hs thảo luận chung, trả lời.
- Gv chốt kiến thức, trình chiếu trên máy chiếu:
+ Nội dung: bài thơ là lời giãi bày tình yêu tha thiết, cũng là
lời giã từ tình yêu thấm đượm nỗi buồn mà vẫn toát lên tấm lòng vị tha cao
cả của nhà thơ.
+ Nghệ thuật: bài thơ được viết bằng những ngôn từ giản dị,
tinh tế, trong sáng và chân thành như chính sự chân thành của trái tim nhà
thơ. Đó chính là thành công về mặt nghệ thuật của tác phẩm này.
III. Luyện tập
- Phương pháp: thảo luận nhóm
- Gv nêu vấn đề ( trình chiếu trên máy):
1. Cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật trữ tình trong bài thơ đã diễn ra như
thế nào? Cuối cùng nhân vật trữ tình đó đã chọn lựa, quyết định ra sao?
- Gv lắng nghe, chia sẻ và giải đáp khúc mắc của Hs ( nếu có)
Bước 2: Gv nêu bài tập ( trình chiếu trên máy): Có 4 bài tập tình huống đánh
số thứ tự từ 1 đến 4, các nhóm bốc thăm chọn tình huống, sau đó thảo luận,
cử đại diện trình bày.
- Tình huống 1: Nga nhận được thư tỏ tình của một bạn nam cùng lớp. Nga
trả lời rằng chỉ xem bạn ấy như những người bạn bình thường khác. Sau đó,
người bạn trai ấy công khai nói với mọi người là thích Nga, rồi liên tục tìm
cách thể hiện tình cảm. Nga cảm thấy phiền nhưng cũng không muốn tình
cảm bạn bè bị ảnh hưởng. Nếu là Nga em sẽ làm như thế nào?
- Tình huống 2: Tuấn rất thích một bạn gái cùng lớp. Tuấn viết thư bày tỏ
tình cảm nhưng bạn gái ấy lại mang thư cho các bạn khác đọc, sau đó tỏ ra
xa lánh Tuấn. Nếu là Tuấn em sẽ làm gì trong tình huống ấy?
- Tình huống 3: Nam thích một bạn trong nhóm chơi nhưng người ấy lại
thích một bạn khác cũng trong nhóm. Nếu là Nam em sẽ làm thế nào?
- Tình huống 4: Lan cảm mến đặc biệt một bạn trai cùng trường. Một ngày
nọ Lan nhận được thư tỏ tình của bạn trai ấy. Nếu là Lan, em sẽ ứng xử như
thế nào?
Gv điều khiển quá trình thảo luận, các nhóm có thể nhận xét, bổ sung cho
nhau cùng với Gv lựa chọn cách ứng xử phù hợp nhất.
Bước 3: Gv ra bài tập về nhà
- Phương pháp: viết sáng tạo
- Đề bài: Từ câu chuyện tình yêu của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tôi yêu
em của nhà thơ Pu-skin em nhận thức được bài học gì sâu sắc cho bản
thân? Hãy trình bày bằng một bài văn ngắn ( khoảng 600 chữ).
- Hs hoàn thành bài tập ở nhà, nộp cho Gv vào tiết học sau
- Gv chấm,đánh giá bài làm của Hs.
2.4. Hiệu quả của SKKN.
Sau khi áp dụng một số giải pháp mới để tiến hành dạy học bài Tôi yêu em
theo mục tiêu lồng ghép giáo dục một số kĩ năng sống cho học sinh, tôi nhận
thấy những kết quả tiến bộ, tích cực hơn trước. Cụ thể là:
Lớp
11A8
11A9
11A10
Sĩ số
40
45
48
Điểm
1-2
0(0%)
0(0%)
0(0%)
Điểm
3-4
0(0%)
0(0%)
0(0%)
Điểm
Điểm
5-6
7-8
7(17,5%) 28(70%)
11(24,5%) 28(62,2%)
13(27%) 33(68,8%)
phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; đã xác định chính xác, rõ ràng những
kĩ năng sống tương ứng, phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh và bước
đầu thu được những kết quả khả quan. Đề tài này là một kinh nghiệm cụ thể
trong một bài học cụ thể, song cũng có thể linh hoạt vận dụng các giải pháp đã
sử dụng để áp dụng cho những bài học khác một cách phù hợp.
Bản thân tôi trong quá trình thực hiện cũng đã rút ra được những bài học
quý về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong một giờ học Ngữ văn. Tôi nhận
thấy rằng, giáo dục kĩ năng sống không phải là việc làm ngày một ngày hai hay
chỉ qua một bài học đã có thể đạt được mục đích. Việc làm đó phải thường
xuyên, có hệ thống, khoa học và kiên trì. Người giáo viên phải nghiên cứu bài
học thật kĩ lưỡng để tìm kiếm phương pháp, cách thức phù hợp; phải thường
xuyên gắn bài học trong sách vở với bài học thực tiễn, cho học sinh được trải
nghiệm, khuyến khích các em được nói lên quan điểm cá nhân của mình…có
như vậy các kĩ năng sống mới được hình thành và rèn luyện dần dần để trở nên
thành thục.
3.2. Kiến nghị
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là yêu cầu cần thiết hiện nay song
thực tế tiến hành hoạt động giáo dục còn nhiều vấn đề chưa thực sự thuận lợi để
hoạt động này đạt hiệu quả tối ưu. Qua thực tiễn tiến hành đề tài này tôi nhận
thấy và mạnh dạn đề xuất, kiến nghị một số nội dung sau đây:
Thứ nhất: Đề nghị Sở GD-ĐT có thêm nhiều tài liệu và các đợt tập huấn cho
giáo viên về nội dung giáo dục kĩ năng sống. Có thể tổ chức các sân chơi, giao
lưu cho học sinh THPT nhằm giáo dục kĩ năng sống cho các em.
Thứ hai: Về phía nhà trường, tổ chuyên môn cũng cần tăng cường các buổi
sinh hoạt chuyên đề về nội dung giáo dục kĩ năng sống để giáo viên được trao
đổi kinh nghiệm nhiều hơn. Bên cạnh đó cũng cần trang bị thêm các cơ sở vật
chất, tạo thêm điều kiện học tập ( tư liệu, thiết bị hiện đại, thời gian, các hoạt
động ngoại khóa, ..vv.) để học sinh được thực hành, trải nghiệm, rèn luyện kĩ
năng sống.
Thứ ba: Với bản thân mỗi giáo viên, cần tự giác, tích cực học tập, nghiên
TT Tên đề tài SKKN
1.
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá Năm
học
giá xếp loại
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A,
B, loại
Tỉnh...)
hoặc C)
Sử dụng sơ đồ tư duy góp
phần nâng cao hiệu quả dạy
Sở GD&ĐT C
đọc hiểu văn bản “Hai đứa
trẻ” – Ngữ văn 11 Cơ bản
2012 - 2013
18