Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
M. Gorki từng nói "Văn học là nhân học" _ đó là một quan niệm hoàn toàn
đúng đắn. Thật vậy, theo tôi nghĩ, chức năng cơ bản của môn học Ngưz văn (NV)
ở trường là bồi dưỡng tinh thần, tình cảm và giáo dục (GD) cho học sinh (HS)
nhân cách sống tốt đẹp đạt đến sự hoàn thiện của Chân - Thiện - Mĩ.
Để thực hiện chức năng ấy, việc giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho HS
là rất cần thiết. Bởi lẽ, kỹ năng sống (KNS) sẽ là nhịp cầu giúp HS biến kiến thức
thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS phù hợp
sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn
đề một cách tích cực và phù hợp, hiệu quả.
NV là một trong những môn học đặc trưng để giúp HS có được những
KNS tích cực. GDKNS sẽ đạt hiệu quả cao trong các tiết học văn bản nhật dụng
(VBND), bởi những VBND thường có nội dung gần gũi, bức thiết với cuộc sống
trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên,
môi trường, dân số, các tệ nạn,... Học văn bản (VB) này, HS sẽ được tiếp cận với
những vấn đề nóng bỏng mang tính thời sự cấp thiết của cuộc sống hiện đại, các
vấn đề đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo, khiến dư luận xã hội bức xúc.
Trên cơ sở đó, HS hình thành được những nhận thức và cách ứng xử phù hợp với
yêu cầu của cuộc sống. Từ đó, HS rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản
thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Đồng thời, giúp HS có khả năng ứng phó
tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với
gia đình, bạn bè và mọi người; sống tích cực, chủ động, an toàn hài hòa và lành
mạnh nhằm xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn cho hiện tại và tương lai.
Có thể nói, dạy môn NV nói chung và dạy VBND nói riêng là cần thiết và
quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân cách, lối sống, tư tưởng, đạo lí nhằm hoàn
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát - thống kê: Thống kê chất lượng HS để phân tích.
- Phương pháp phân loại: phân loại HS để vận dụng phương pháp giảng
dạy phù hợp.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích thực trạng, nguyên nhân
để đề xuất các phương pháp và tổng hợp kết quả.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
2
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
- Phương pháp điều tra và xử lí thông tin: điều tra thực tế ở địa phương để
đưa ra những thực trạng về môi trường, dân số, các tệ nạn...nhằm tăng tính thuyết
phục, từ đó xử lí những thông tin cần thiết .
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Những vấn đề lí luận chung
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn
cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc học các
KNS để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế - xã hội và
thiên nhiên. Đặc biệt là với HS, việc trang bị KNS càng trở nên bức thiết, bởi đây
là yếu tố không thể thiếu, giúp HS biết định hướng phát triển cá nhân một cách
tốt nhất.
KNS là tập hợp các kỹ năng mà con người sử dụng để giao tiếp với những
cá nhân khác xung quanh họ, được hình thành và liên tục phát triển trong môi
mỉ, cặn kẽ, kịp thời và phù hợp của giáo viên (GV). Vì vậy, phải tùy thuộc vào
đặc trưng từng môn học và bài học để tích hợp GD các nội dung KNS thích hợp.
Ý thức được tầm quan trọng của KNS trong thời đại hội nhập, kết hợp với
cơ sở lí luận trên, tôi nhận thấy việc kết hợp giữa GDKNS trong những giờ học
VNBD là rất hiệu quả, có tính khả thi cao. Bởi lẽ, nội dung của nó thường là: đề
cập, bàn luận, thuyết minh...về những vấn đề, hiện tượng,...gần gũi, bức thiết với
cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng; và mục đích của việc học VB
này cũng gần giống với mục đích của việc GDKNS: giúp HS hòa nhập với xã
hội.
Để đạt được hiệu quả như mong muốn, tôi đã có sự lựa chọn của riêng
mình trong việc tích hợp GD một số nội dung KNS nhất định, sao cho phù hợp
với nội dung của các VBND mà HS khối 8 sẽ tìm hiểu trong chương trình học đó
là GD kỹ năng tự nhận thức; kỹ năng hợp tác; kỹ năng ra quyết định.
2. Thực trạng
GDKNS không còn là vấn đề mới mẻ ở nhà trường và đặc biệt là với bộ
môn NV. Nó đã được thực hiện và trở thành một trong những giờ học lồng ghép
có hiệu quả khá cao ở trường THCS & THPT Hà Trung. Song, qua khảo sát khá
nhiều tiết dạy VBND trong chương trình chính khóa NV lớp 8 ở trong năm học
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
4
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
2013 - 2014, cũng như qua trao đổi ý kiến với các GV và HS sau các tiết dạy và
trong thực tế quan sát, điều tra của mình, có thể thấy nổi bật một số thực trạng
xung quanh việc GDKNS trong dạy học VBND như sau:
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
• Phần lớn HS có kỹ năng cảm thụ văn chương chưa cao, ngay cả kỹ năng
đọc, kể, tóm tắt VB còn hạn chế nhất định.
• Khả năng tiếp thu của HS còn chưa đồng đều trong lớp học, một số em do
lười đọc, soạn bài, không chịu khó tìm tài liệu cho bài học trước khi đến lớp nên
cũng ảnh hưởng rất lớn.
• Điều kiện địa phương của một xã xa trung tâm còn nhiều hạn chế, nên HS ít
có cơ hội để tiếp cận các văn hóa mới, ít có dịp được ra ngoài xã hội để giao lưu
tiếp xúc.
• Đa số HS được sinh ra và lớn lên trong những gia đình khó khăn về mặt
kinh tế và hạn chế về mặt trình độ tri thức, nên ít được bố mẹ dành nhiều thời
gian cho việc học cũng như trang bị cho các KNS.
Từ thực trạng đó, tôi nhận ra: GDKNS cho HS là vô cùng quan trọng, cần
thiết đối với HS ở những vùng nông thôn như trường chúng tôi.
Cụ thể, qua việc khảo sát điều tra đầu năm khi các em chưa thật sự được chú
trọng GDKNS trong quá trình tìm hiểu các VBND trước đó, tôi thu được kết quả
sau:
Bảng thăm dò ý kiến đầu năm học 2014 - 2015 của 66 HS thuộc lớp
8/1, 8/4 ở trường THCS & THPT Hà Trung về mức độ hiểu biết, quan tâm
đến các vấn đề xã hội hiện nay và KNS :
Mức độ quan tâm
Rất quan tâm
Có quan tâm
Không quan tâm
Vấn đề xã hội
20%
30%
như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh
giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,... của
mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân
cảm thấy đang căng thẳng.
Ngoài ra, kỹ năng tự nhận thức vấn đề còn giúp HS có những quyết định,
lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng, với điều kiện thực tế và yêu cầu của xã
hội. Ngược lại, nếu đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn đến những hạn
chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác.
Để giúp HS tự nhận thức đúng về bản thân, chúng ta cần tạo cho các em có
được sự trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.
Thực hiện việc GD kỹ năng tự nhận thức cho HS đạt kết quả cao, tôi
thường xuyên tìm cách nói chuyện thật nhiều với các em theo những vấn đề có
định hướng, để các em có thể cởi mở và mạnh dạn bày tỏ những suy nghĩ, nhận
thức của bản thân.
Ví dụ:
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
7
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
Trước khi dạy VBND "Bài toán dân số", tôi sẽ tạo ra một không khí thật
gần gũi và thân mật bằng hình thức trò chuyện với HS. GV có thể là người đầu
tiên tự bộc bạch về gia đình mình, sau đó sẽ hỏi thăm HS bằng những câu hỏi,
như: Nhà em có đông anh em không? Ba mẹ làm gì? Gia đình có mấy gái mấy
trai? Cảm giác của em như thế nào khi có một gia đình (đông, ít anh em ) như
3.2. Giáo dục kỹ năng hợp tác
Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ
thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một chi tiết của một cỗ máy
lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ. Vì vậy,
chúng ta nhất thiết phải giúp HS có được kỹ năng này.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một
công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết sẻ chia trách nhiệm, biết cam kết
và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
Một số biểu hiện của người có kĩ năng hợp tác: tôn trọng mục đích, hoạt
động chung của nhóm; biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng, lắng nghe ý kiến
quan điểm của mọi người trong nhóm; nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của
bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công. Đồng thời, biết hỗ trợ,
giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động; biết cùng cả nhóm "đồng
cam cộng khổ" khi gặp khó khăn; có trách nhiệm về những thành công và thất bại
của nhóm...
Có kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với HS cũng như với
một công dân trong xã hội hiện đại, vì:
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng. Sự hợp tác trong
công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh
thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho
công việc chung.
- Kỹ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong
quan hệ với người khác.
Từ việc nhận thức rõ được bản chất và những lợi ích của kỹ năng hợp tác,
tôi nhận thấy mình cần phải trang bị cho HS thật kĩ kỹ năng này. Vì nó đáp ứng
đúng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ GD&ĐT đã đưa ra.
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
trạng môi trường ở địa phương; HS giỏi Địa sẽ chịu trách nhiệm thống kê tình
trạng ô nhiễm môi trường ở từng thôn, xóm; HS có khả năng thuyết trình để trình
bày trước lớp;...
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
10
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
Trong thực tế thực hiện, tôi nhận thấy HS rất hứng thú hợp tác và hỗ trợ
lẫn nhau, vì ai cũng được thể hiện thế mạnh của mình, từ đó các em nỗ lực hết
sức để thực hiện một cách rất tự tin. Đặc biệt, khi nhận được kết quả đánh giá từ
GV, HS đều cảm thấy hài lòng và thỏa mãn, vì sự đóng góp sức của mình. Các
em càng biết tôn trọng và đánh giá cao sự hợp tác của nhau.
Ngược lại, nếu ta không tạo ra được một nhóm hoạt động phù hợp sẽ dễ
dẫn đến kết quả phản giáo dục. Đó là khi trong một nhóm bị chia không đều theo
khả năng, mọi công việc đều giao về một phía, HS nhận nhiệm vụ ấy sẽ cảm thấy
mệt mỏi không hứng thú, hoặc cũng có thể sẽ rất tự mãn về bản thân vì ý nghĩ
"kết quả của nhóm có được là nhờ vào một mình ta". Còn đối với những HS
không được phát huy khả năng thì sẽ dễ rơi vào trạng thái tự ti, thiếu tự tin vào
bản thân, một số sẽ có suy nghĩ không tích cực mang tính ỷ lại "không làm cũng
có điểm"... Vô tình những HS này sẽ không được GD và rèn luyện kỹ năng hợp
tác.
Vì thế, việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho HS là rất cần thiết và cũng cần
có phương pháp phù hợp mới có hiệu quả thật sự đạt đến mức tối ưu. Tuy nhiên,
trên con đường khẳng định mình, tìm kiếm sự hợp tác ấy HS sẽ đối diện với
định rất bồng bột, nông nổi, thiếu suy nghĩ dẫn đến thiếu hợp lí, gây ra những hậu
quả không tốt. Biểu hiện rõ nhất ở HS lớp 8 trường THCS&THPT Hà Trung là:
quyết định nghỉ học nửa chừng một cách dễ dàng chỉ sau vài lời rủ rê của bạn bè
hay vài lời hứa hẹn, dỗ dành của các chủ lao động. Đó là vấn đề nhức nhối khiến
cho GV chúng tôi phải trăn trở rất nhiều. Vì vậy, kỹ năng ra quyết định được xem
là kỹ năng trọng tâm để GD và rèn luyện cho các em tính chín chắn và đúng đắn
hơn trong mỗi quyết định đưa ra dù nhỏ hay lớn.
Để việc GD có hiệu quả, tôi rất thận trọng trong việc tạo và lựa chọn tình
huống, sao cho thật tự nhiên và thiết thực nhất để các em có thể tự đưa ra quyết
định của mình. Từ những quyết định của HS, tôi sẽ khéo léo phân tích đúng - sai,
thích hợp - không thích hợp, nên - không nên ...Từ đó giúp các em có kinh
nghiệm và thận trọng hơn khi đưa ra một quyết định nào đó cho bản thân.
Qua các VBND được đưa vào chương trình học của NV khối 8, tôi thấy
VB "Ôn dịch, thuốc lá" là hiệu quả nhất. Bởi vấn đề được đưa ra trong VB này
rất được xã hội quan tâm, mà đối tượng hướng đến của vấn đề là tuổi trẻ học
đường, đúng với lứa tuổi của các em hiện tại. Vì thế tôi sẽ GD kỹ năng ra quyết
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
12
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
định cho HS trong quá trình hướng dẫn đọc - hiểu VB này bằng cách giải quyết
tình huống. Để các em dễ dàng nhập cuộc và nhập cuộc một cách tự nhiên thì tôi
sẽ bắt đầu từ những tình huống đơn giản, dễ giải quyết, sau đó đến những tình
huống phức tạp hơn có tính thử thách cao để các em phải có sự suy xét, so sánh,
lựa chọn...thận trọng hơn khi đưa ra quyết định. Trên cơ sở đó, sẽ dần dần rèn
quyết định của mình không đến nỗi nào, từ đó các em sẽ mạnh dạn và tích cực
hơn trong việc đưa ra quyết định. Tiếp theo, GV sẽ phân tích và nhận xét về cách
giải quyết của từng nhóm, giúp các em nhận biết được cách giải quyết nào là phù
hợp để có sự lựa chọn đúng đắn nếu gặp lại tình huống ấy trong thực tế của cuộc
sống. Từ đó, cần định hướng rõ ràng cho HS bằng cách
đưa ra một số giải pháp
tối ưu nhất và chỉ rõ nguyên nhân vì sao lại chọn giải pháp đó.
Chẳng hạn, ở trường hợp của nhóm 2, GV sẽ đưa giải pháp: Khi gặp
trường hợp này các em nên chọn cách đưa ra một lời đề nghị với thái độ hết sức
lịch sự, bởi vì đối tượng của em lúc này là một người mà em chưa từng quen biết,
cụ thể: Xin lỗi, chú (hoặc anh, ông... tùy thuộc vào độ tuổi để chọn cách xưng hô
phù hợp nhất) có thể ra chỗ trống ngoài kia hút được không ạ?. Hay ở trường
hợp của nhóm 3, với đối tượng là bố, người có mối quan hệ ruột thịt và giữ vai xã
hội là bề trên nên HS có thể lựa chọn cách đưa ra một lời khuyên, nhưng cần giữ
đúng thái độ lễ phép, chân thành, tha thiết, cụ thể: Bố ơi, hút thuốc có hại cho sức
khỏe lắm, bố đừng hút thuốc nữa, bố nhé!
Cuối cùng, GV nên chốt lại cho HS biết được cách đưa ra quyết định hợp
lí: cần phải để ý xem đối tượng giao tiếp của chúng ta là ai? Có mối quan hệ như
thế nào với bản thân? Giữ vai xã hội nào?... để có cách giải quyết hợp lí bằng sự
lựa chọn cách xưng hô chính xác; phương án thích hợp (đề nghị, khuyên nhủ, yêu
cầu...) và thái độ khi giao tiếp (lịch sự, thân mật, lễ phép...) cần thể hiện rõ qua
ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, nét mặt... Khi chốt lại cách làm, GV đã giúp HS tự rút
ra cho mình những kinh nghiệm và hình thành các kỹ năng nhất định trong việc
rèn kỹ năng ra quyết định.
Trên cơ sở đó, GV sẽ nâng cao kỹ năng này cho HS bằng tình huống phức
tạp, khó giải quyết hơn, muốn giải quyết, các em phải có sự lựa chọn và suy xét
thận trọng vì nó có tính quyết định cho cuộc sống và tương lai của bản thân.
năng ra quyết định. Với những HS có suy nghĩ chính chắn, biết làm chủ bản thân,
chắc chắn sẽ đưa quyết định: vẫn giữ được thái độ bình tĩnh và kiên quyết từ chối
lời rủ rê của đối phương, đồng thời sẽ biết cách lựa lời để phân tích cho bạn hiểu
rõ được tác hại của việc hút thuốc lá và quan trọng nhất là chỉ ra cho bạn thấy
được suy nghĩ và hành vi nhằm chứng tỏ mình của bạn ấy là hoàn toàn sai trái,
bởi hút thuốc lá không thể khẳng định đựợc mình đã trở thành người lớn. Còn
những HS có tính khí nóng nảy, không biết cách làm chủ bản thân và không kiểm
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
15
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
soát, kiềm chế được cảm xúc, chắc chắn sẽ đưa ra những quyết định thiếu tích
cực, thậm chí là tiêu cực, như: dễ dàng bị lôi kéo theo lời kích động của bạn, vì
bản thân cũng đang muốn được chứng tỏ mình: "nó hút được thì mình cũng hút
được, mình đã là người lớn rồi mà", hoặc sẽ đáp trả lại bằng cách văng tục, chửi
thề, thậm chí là ẩu đả...
Ở tình huống trên, dù HS lựa chọn cách giải quyết nào, GV cũng khoan vội
phê phán, chỉ trích hay khen ngợi mà nên để cho HS nam tự phân tích về cách
giải quyết của nhau, tự lí giải vì sao mình lại có quyết định đó. Hoạt động này sẽ
giúp các em thật sự được rèn giũa và thực nghiệm với kỹ năng ra quyết định.
Sau khi tạo môi trường cho HS nam tự thể hiện rõ cá tính của mình, tôi sẽ
yêu cầu nhóm HS nữ nhận xét và bình chọn quyết định nào là hay nhất, phù hợp
nhất, được mọi người ủng hộ nhất và giải thích cho sự lựa chọn đó. Khi đưa ra
yêu cầu đó, chắc chắn sẽ tạo được cảm giác hứng thú cho tất cả HS trong tiết
học. Qua việc tham gia vào nhận xét và bình chọn cách giải quyết của các bạn
- Với những giải pháp trên, tôi áp dụng vào các lớp mà mình đang đảm
nhận(8/1, 8/4) của năm học năm 2014 -2015 cho tất cả học sinh của 2 lớp này ở
trường THCS & THPT Hà Trung và đã có được kết quả:
Bảng thăm dò ý kiến cuối học kì I năm học 2014 - 2015 của 66 HS
thuộc lớp 8/1, 8/4(lớp được thực nghiệm) ở trường THCS&THPT Hà Trung
về mức độ hiểu biết các vấn đề xã hội hiện nay, sự quan tâm đến các KNS :
Mức độ quan tâm
Vấn đề xã hội
Kĩ năng sống
Rất quan tâm
58%
32%
Có quan tâm
32%
45%
Không quan tâm
10%
23%
Bảng thăm dò ý kiến nửa đầu học kì II năm học 2014 - 2015 của 59 HS
thuộc lớp 8/2, 8/3 (lớp không được thực nghiệm) ở trường THCS & THPT
Hà Trung về mức độ hiểu biết các vấn đề xã hội hiện nay, sự quan tâm đến
các KNS :
Mức độ quan tâm
Rất quan tâm
Có quan tâm
Không quan tâm
Vấn đề xã hội
19%
28%
em đã rất tích cực và hứng thú tham gia ý kiến. Hay mỗi khi được đặt trong một
tình huống nào đó, HS không còn vội vàng đưa ra quyết định, ngược lại các em
đã có dấu hiệu của sự lựa chọn, xem xét. Bản thân của HS cũng đã tự rút ra cho
mình nhiều kinh nghiệm để rèn luyện và vận dụng các KNS vào trong thực tế.
Kết quả này là nguồn động viên rất lớn, đó sẽ là tiền đề vững chắc cho những
năm tiếp theo để tôi có thể hoàn thành sứ mệnh của một GV nói chung và GV
Văn nói riêng là: Không chỉ dạy Chữ mà còn dạy Người.
III.KẾT LUẬN
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
18
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
Cuộc sống của con người ngày một hiện đại, luôn có nhiều sự thay đổi đầy
phức tạp. Vì vậy, để bắt nhịp kịp với xã hội đòi hỏi con người cũng không ngừng
học tập, rèn luyện và đặc biệt là phải trang bị cho mình thật nhiều KNS khác
nhau. Vì theo nhiều công trình nghiên cứu về KNS đều khẳng định được những
giá trị thiết thực mà KNS đem lại cho con người. Có thể nói KNS là "chìa khóa
vạn năng" trên bước đường thành công .
Chính vì vậy, là một GV, tôi thiết nghĩ GDKNS cho HS là việc làm rất
quan trọng và phải được tiến hành thường xuyên trong mọi lĩnh vực.
Tuy nhiên, để có được hiệu quả cao, đòi hỏi người dạy phải luôn có tư duy
sáng tạo và đổi mới. Thể hiện rõ trong việc sử dụng phương pháp phù hợp để
thực hiện các hoạt động dạy và học. Một trong những điều tiên quyết cho sự
- Đầu tiên phải hướng dẫn để HS có thể lĩnh hội những tri thức cơ bản của
VB, đảm bảo đúng mục tiêu của bài học đề ra.
- Cần ứng dụng CNTT nhằm tăng sự hấp dẫn và phong phú cho nội dung
bài học.
- Cho HS có thật nhiều trải nghiệm từ những tình huống có trong VB, rồi
dẫn dắt, liên hệ đến những tình huống có trong cuộc sống.
- Luôn cập nhật và liên hệ với thực tế.
- Những bài tập vận dụng đưa ra phải có mục tiêu rèn luyện cụ thể.
- Tạo một môi trường GD thân thiện để HS có thể cởi mở, mạnh dạn,...
trong các hoạt động học tập.
Trên đây là những kinh nghiệm bước đầu của bản thân tôi trong quá trình
nghiên cứu và thực hiện các giải pháp: "Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung". Tôi
rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp và chuyên môn cấp trên để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi hoàn thiện hơn.
Vinh Hà, ngày 15 tháng 03 năm 2015
Người viết
TRẦN THỊ THU THỦY
DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
20
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
Chữ viết tắt
1
Nội dung
Đặt vấn đề
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu
Giải quyết vấn đề
Những vấn đề lí luận chung
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
Trang
01
01
02
02
02
02
03
03
21
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Họ và tên...................................................................................................
2. Chức vụ (nhiệm vụ đảm nhiệm) ..............................................................
3. Đơn vị công tác ........................................................................................
4. Tên đề tài (SKKN): ..................................................................................
5. Lĩnh vực (SKKN.......................................................................................
Điểm tối Điểm GK
STT
Nội dung
đa
thống nhất
1
Lý do chọn đề tài (đặt vấn đề, thực trạng, tính cấp thiết, 10
tính đổi mới của đề tài…)
2
Giải quyết vấn đề, nội dung của đề tài nêu ra
80
2.1. Tính mới và sáng tạo
25
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
22
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
3.
Xếp loại:
Nhận xét chung: ...........................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
………, ngày….tháng….năm….
Giám khảo 1
Giám khảo 2
Chủ tịch Hội đồng
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, ghi rõ họ tên)
(Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
23
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI
CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
NHẬN XÉT:…………………………………
………………………………………………..
………………………………………………..
………………………………………………..
………………………………………………..
………………………………………………..
ĐIỂM:…………………………………..
XẾP LOẠI: …………………………….
CHỦ TỊCH HĐ KH- SK CỦA ĐƠN VỊ
NHẬN XÉT
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………
…………………………………………..
ĐIỂM:…………………………………..
XẾP LOẠI: …………………………….
CHỦ TỊCH HĐ KH - SK
NGÀNH GD&ĐT
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
24
Đề tài:
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8 qua các văn bản nhật dụng ở trường THCS&THPT Hà Trung
Người thực hiện: Trần Thị Thu Thủy
Trường THCS&THPT Hà Trung
25