skkn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 3 của giáo viên chủ nhiệm lớp - Pdf 36

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………..Trang 2
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG……………………………….……Trang 3
I/ Lý do chọn đề tài…………………………………………………….…..Trang 3
II/ Mục đích nghiên cứu………………………………………………..…..Trang 4
III/ Khách thể nghiên cứu………………………………………………..…Trang 5
IV/ Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………..Trang 5
V/ Giả thiết khoa học……………………………………………………….Trang 5
VI/ Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………..Trang 5
VII/ Phương pháp nghiên cứu………………………………………………Trang 5
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU…………………………………….Trang 7
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài…………………………………………Trang 7
Chương 2: Thực trạng kỹ năng sống học sinh lớp 3C trường Tiểu học
Tân Cương…………………………………………………………...……..Trang 9
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh Tiểu học của giáo viên chủ nhiệm lớp……....……..Trang 13
PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG……………………………………..……..Trang 20

Tài liệu nghiên cứu
- Các Thông tư của BGD- ĐT hướng dẫn thực hiện rèn KNS cho học sinh.
- Điều lệ trường Tiểu học.
- Tạp chí Giáo dục Tiểu học.
- Trang wed Google

1


LỜI NÓI ĐẦU
“Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của


PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Rèn kĩ năng sống là một mặt giáo dục cần đặc biệt coi trọng và nhất là trong
thập kỉ XXI khi sự nghiệp giáo dục đang được đẩy mạnh. Việc rèn kĩ năng sống cho
học sinh đòi hỏi thường xuyên của công tác giáo dục đồng thời cũng là đòi hỏi cấp
thiết của việc hình thành nhân cách trong công tác giáo dục hiện nay. Giáo dục trong
nhà trường luôn là vấn đề cần được quan tâm thì việc rèn kĩ năng sống cho học sinh
cũng không kém quan trọng. Bằng nhiều hình thức, nhiều con đường, trong đó việc
rèn kĩ năng sống chiếm một vị trí quan trọng. Qua việc rèn kĩ năng sống sẽ trang bị tri
thức, hành vi cho trẻ. Đồng thời nó định hướng cho học sinh tiểu học rèn luyện hành
vi và thói quen ứng xử tốt. Trong sự phát triển nhân cách của học sinh, việc rèn luyện
kĩ năng sống là đảm bảo cho học sinh có được bản lĩnh rõ ràng về nhân cách toàn
diện. Nếu không rèn kĩ năng sống thì không những sự ứng xử trong các tình huống sẽ
phức tạp, gặp khó khăn, thậm chí mắc phải sai lầm, mà việc hình thành nhân cách
toàn diện của trẻ bị hạn chế, phiến diện, việc xây dựng những thói quen hành vi dễ rơi
vào chủ nghĩa hình thức máy móc, lí trí và tình cảm không thống nhất với nhau đó là
lời nói không đi đôi với việc làm thì dẫn đến hiện tượng lệch lạc về nhân cách.
Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại
ngày nay. Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống.Theo bản thân, kĩ năng sống đơn giản
là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có thể thích ứng với những thay
đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Kĩ năng sống được hình thành theo một quá
trình, hình thành một cách tự nhiên qua những va chạm, những trải nghiệm trong cuộc
sống và qua giáo dục mà có. Có nhiều nhóm kĩ năng sống như: nhóm kĩ năng nhận
thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng quản lí bản thân...Dù là kĩ năng nào cũng
đều rất quan trọng và cần thiết với mỗi con người. Cho nên, giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh có một tầm rất quan trọng.
Ở bậc tiểu học, các môn học vừa cung cấp cho học sinh những kiến thức ban
đầu về Toán học, Khoa học và Nhân văn, vừa cung cấp cho học sinh những tri thức sơ

môn học cũng như lồng ghép vào các hoạt động ngoại khóa giáo viên còn mơ hồ về
việc rèn kĩ năng sống cho học sinh. Để nâng cao kĩ năng sống cho học sinh tiểu học,
với cương vị là người giáo viên tương lai, bản thân hết sức băn khoăn và trăn trở với
câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao kĩ năng sống cho học sinh? Làm thế nào để học
sinh biết cách vận dụng kĩ năng sống vào trong cuộc sống hằng ngày? Với mong
muốn góp phần vào việc luận giải những vấn đề nói trên, tôi quyết định chọn đề tài: “
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học của giáo viên chủ nhiệm lớp 3C
trường tiểu học Tân Cương”.
Vấn đề mà chắc hẳn không chỉ riêng tôi mà rất nhiều thầy cô khác quan tâm suy
nghĩ là làm sao học sinh của mình có những kĩ năng sống tốt cho tương lai sau này,
trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội. Đây cũng là một vấn đề mà phụ
huynh và xã hội hết sức quan tâm.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm một số biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 3C nói riêng và học sinh
nói chung
Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp
học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng
xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật…

4


Giúp học sinh có đủ khả năng tự thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ,
độc lập, tự tin khi giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu để
trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời.
III/ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Tiến hành nghiên cứu trong quá trình học tập của các em học sinh lớp 3C
Trường Tiểu học Tân Cương thành phố Thái Nguyên (34 học sinh, 18 nữ, 16 nam).
IV/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Tân Cương và

2.3. Sử dụng phương pháp thực hành: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông
qua các hoạt động để học sinh tự cảm nhận, đánh giá, nhận xét qua các hành vi và từ
đó hình thành các kĩ năng; thực hiện sự phối hợp trong và ngoài nhà trường, làm tốt
công tác xã hội hóa trong việc giáo dục kĩ năng sống.
2.4. Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm giáo dục
Phân tích các nguyên nhân dẫn đến học sinh thiếu kĩ năng sống.
Tổng hợp các biện pháp giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp 3C, của nhà trường
và gia đình.

6


PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trong Luật giáo dục Việt Nam năm 2005, điều 2 chương 3 đã quy định như
sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Hơn thế, giáo dục là quá trình bao gồm giáo dục và giáo dưỡng. Trong giáo
dục thì có giáo dưỡng, trong giáo dưỡng thì có giáo dục. Vậy người giáo viên chủ
nhiệm lớp có vai trò như thế nào trong công tác rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh
làm? Làm thế nào để hai quá trình này tạo thành một mục tiêu chung? Làm thế nào để
những người chủ tương lai của đất nước có đủ đức lẫn tài? Làm thế nào để sự nghiệp
giáo dục mang lại hiệu quả tốt? Đây chính là trách nhiệm của toàn xã hội, của những
người làm công tác giáo dục, của những người làm công tác chủ nhiệm lớp.
Trong Điều 34, chương IV, thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12
năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: Giáo viên chủ
nhiệm là người có trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch nhà trường giao và từ

thường xuyên, lặp đi lặp lại để củng cố.
Tóm lại: Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng
ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước
các tình huống của cuộc sống.
Một kĩ năng có thể có những tên gọi khác nhau: Kĩ năng hợp tác còn gọi là kĩ
năng làm việc nhóm; Kĩ năng kiểm soát cảm xúc còn gọi là kĩ năng xử lí cảm xúc, kĩ
năng làm chủ cảm xúc, kĩ năng quản lí cảm xúc; Kĩ năng thương lượng còn gọi là kĩ
năng đàm phán, kĩ năng thương thuyết. Các kĩ năng thường không tách rời mà có mối
liên quan chặt chẽ với nhau. Kĩ năng không phải tự nhiên có được mà phải được hình
thành trong quá trình học tâp, lính hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình
thành KNS diễn ra trong và ngoài hệ thống giáo dục. KNS vừa mang tính chất cá
nhân vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân.
KNS mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội,
chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của giai đình, cộng đồng, dân tộc.

8


CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỐNG HỌC SINH LỚP 3C TRƯỜNG
TIỂU HỌC TÂN CƯƠNG
1. Đặc điểm của Trường Tiểu học Tân Cương
Trường tiểu học Tân Cương tiền thân là trường cấp I Tân Cương, được
thành lập năm 1936, giáo viên do chính quyền cử về, học sinh học lớp ghép nhiều
trình độ trong 1 lớp. Từ năm học 1950-1951, trường được mở rộng, học sinh học
theo từng lớp (từ lớp 1 đến lớp 4), đến năm 1974 trường sát nhập với trường cấp II
được mang tên trường phổ thông Cơ sở Tân Cương. Từ ngày 20/08/1999 trường
tách ra theo quyết định 178/TCCB của Sở GD & ĐT tỉnh Thái Nguyên , mang tên
Trường Tiểu học Tân Cương.
Địa điểm: Trường đặt tại xóm Nam Thái, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên

Phòng thư viện, phòng kho thiết bị: Gồm 2 phòng trang bị đầy đủ đầu sách,
thiết bị dạy học phục vụ các cho học sinh, giáo viên, phụ huynh tìm hiểu, tra cứu,
đọc sách, truyện, báo chí ngoài giờ học và ngoài giờ lên lớp của giáo viên.
Các phòng chức năng: Gồm phòng bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh
yếu, phòng y tế học đường, phòng hoạt động Đội, phòng truyền thống đều đưa
vào hoạt động có hiệu quả trong năm học.
Khu bếp ăn bán trú: Bếp ăn được trang bị đầy đủ dụng cụ sơ chế và chế biến
thức ăn hợp vệ sinh, máy khử nước ozone. Phòng kho và phòng chia thức ăn với
đầy đủ các trang thiết bị phục vụ trên 500 học sinh ăn nghỉ tại trường trong năm
học
2.Thực trạng kỹ năng sống của học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Tân Cương
Lớp 3C Trường Tiểu học Tân Cương có cô Ngô Thị Tâm là giáo viên chủ
nhiệm lớp, cô là giáo viên đã công tác được nhiều năm ở trường nên có nhiều kinh
nghiệm giảng dạy
Lớp 3C có tổng số 34 học sinh trong đó có 18 học sinh nữ, 16 học sinh nam
Cán bộ lớp:
Lớp trưởng: Dương Hương Giang
Lớp phó: Vũ Thu Hà
Lớp phó: Phạm Băng Tâm

10


Qua thực tế giảng dạy ở lớp, tôi thấy các em khá chăm ngoan, kĩ năng sống
của một số em rất tốt nhưng còn nhiều em kỹ năng sống còn chưa cao. Tuy nhiên
để đạt được kết quả như trên chắc hẳn giáo viên giảng dạy phải có những phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học tương đối tốt.
* Kĩ năng sống học sinh chưa tốt là do những nguyên nhân sau:
- Giáo viên và người lớn chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh.
- Việc rèn kĩ năng sống qua việc tích hợp vào các môn học còn hạn chế.

Giáo viên trẻ tuổi ít hơn, năng động, sáng tạo nhưng lại khó trong công
tác bồi dưỡng do nhận thức về nghề chưa sâu sắc nên giáo viên mới thường
không an tâm công tác.
- Đối với học sinh
Trong các nhà trường ít nhiều vẫn còn có hiện tượng học sinh cãi nhau,
chửi nhau, đánh nhau, chưa lễ phép, gây mất đoàn kết trong tập thể lớp, trốn
học đi chơi,...
Khi phát biểu các em nói không rõ ràng, trả lời còn nhỏ và ít nói lời cảm
ơn, xin lỗi…
- Đối với phụ huynh học sinh
Về phía các bậc cha mẹ các em luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ
chú trọng đến việc con mình về nhà mà chưa đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm
Toán thì lo lắng một cách thái quá!
Ngoài ra, một trở ngại nữa là phụ huynh trong lớp có một số bố mẹ thì
quá nuông chiều, đồng thời lại chiều chuộng, cung phụng con cái khiến trẻ
không có kĩ năng tự phục vụ bản thân. Ngược lại, một số phụ huynh vì bận
nhiều công việc nên ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần
thiết…
Từ các nguyên nhân, tình hình thực tiễn cũng như các thuận lợi và khó
khăn nêu trên, bản thân đã cố gắng tìm nhiều biện pháp rèn luyện kĩ năng sống
cho học sinh thông qua các tiết dạy của một số môn học và hoạt động ngoài giờ
lên lớp nhằm đem lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục.

12


CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CỦA GIÁO
VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP

việc theo thời khoá biểu, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong
một thời gian nhất định. Giờ ăn, giờ học, giờ làm, giờ chơi một cách hợp lí. Kỹ
năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và
đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp các em tránh được căng thẳng do áp lực
trong việc học và việc làm .
Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng quan trọng làm chủ bản
thân. góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân .
7.Kỹ năng thể hiện sự tự tin:

14


Các em biết tự tin vào bản thân, hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở
thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị
lực để hoàn thành các nhiệm vụ. Các em thể hiện sự tự tin giúp các em giao
tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán
trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời
cũng giúp các em có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống, là yếu tố
cần thiết trong giao tiếp.
8.Kỹ năng giải quyết vấn đề:
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn, để giải quyết vấn đề
hoặc tình huống gặp phải trong tập và trong cuộc sống. Để giải quyết vấn đề có
hiệu quả, các em cần nhiều kỹ năng sống khác : Giao tiếp , xác định giá trị , tư
duy phê phán , tư duy sáng tạo , tìm kiếm sự hỗ trợ.
9. Kỹ năng hợp tác:
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong học tập,
trong công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung, các em biết chia sẻ
trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên
trong lớp, trong giờ học nhóm, hoặc những nơi khác. Sự hợp tác trong học tập

xử lí trong mọi trường hợp.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập – sinh hoạt ở nhà
trường là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo
viên cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình
giảng dạy.
Qua từng tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo
nhóm: biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận,
biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống
nhất… Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong
tập thể.
Trong sinh hoạt hằng ngày, giáo viên cần chú ý nâng dần kĩ năng giao
tiếp - tự nhận thức cho các em như biết sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi, xin
phép, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu… Biết cả thông cảm chia sẻ buồn vui với mọi
người.
Giáo dục kĩ năng sống cho mọi người nói chung và học sinh nói riêng là
điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kĩ năng cho các em để các em có
được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đồng thời giúp những em có thói quen
xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan, trò giỏi và là người có ích cho xã
hội sau này.

16


PHẦN 3:
KẾT LUẬN CHUNG
KẾT LUẬN:
Những vấn đề mà đề tài đạt được đạt được: Qua giáo dục hàng ngày trên
lớp hoặc thông qua các tiết dạy tôi thấy các em đã biết và làm quen được một
số kỹ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công, công việc, lắng nghe ý
kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực

0

0

BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Là giáo viên tương lai, bản thân hiểu rõ tầm quan trọng trong công tác
trồng người. Vì thế, bản thân luôn cố gắng trao dồi kinh nghiệm, học hỏi từ
đồng nghiệp cũng như đúc kết kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, nâng cao
đạo đức và chuyên môn, luôn tôn trọng và kiên nhẫn, nhất là tạo cơ hội cho các
em được nói, được diễn đạt, bày tỏ thoải mái ở mọi nơi mọi lúc để các em có cơ
hội phát triển một cách toàn diện.
- Bản thân luôn học tập, rèn luyện, nêu cao khẩu hiệu là một giáo viên có
tấm gương tốt cho học sinh noi theo .

17


- Học và học nữa , học mãi và không ngừng nghiên cứu thực hiện các
giải pháp phát huy cao độ tính chủ động, khả năng sáng tạo của giáo viên chủ
nhiệm
- Là giáo viên chủ nhiệm người có vai trò quan trọng trong việc nhắc nhở
động viên, phát hiện những mặt tích cực, tiêu cực của học sinh lớp mình nhanh
nhất. “Xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình giáo dục giá trị sống, rèn luyện
kỹ năng sống cho học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh một cách tích cực” mang lại một ý nghĩa rất quan trọng và là công việc
hết sức cần thiết, bởi lẽ các em sẽ học được cách rèn luyện và rút ra những kinh
nghiệm, kỹ năng mà các em sẽ gặp lại trong cuộc sống, là bài học quý báu
mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc để các em tự hoàn thiện mình. Qua đó, giúp các
em nhìn lại những việc làm của mình từ trong hành động, trong suy nghĩ, lời
nói việc làm. Nó còn giúp các em hoàn thiện hơn về nhân cách, về lối sống, các

- Yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công việc. Thương yêu học sinh như chính con
em của mình.
- Làm việc có kế hoạch để phối kết hợp giữa gia đình với các hoạt động của
trường tạo sự đồng bộ nhịp nhàng trong quá trình giáo dục học sinh.
- Tạo cơ hội cho trẻ có cơ hội nói, suy nghĩ, nhu cầu, bộc lộ cảm xúc...Từ đó có
biện pháp tạo mối quan hệ giữa Gia đình – Nhà trường - Xã hội.
- Kết hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên bộ môn.
- Giáo viên thường xuyên trao đổi, liên hệ với cha mẹ học sinh.
- Giáo viên phải biết duy trì và phát huy những nề nếp tốt, khắc phục những
mặt còn hạn chế của lớp.
- Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi
theo.
Trên đây là một số đề nghị của tôi dành cho giáo viên chủ nhiệm lớp
trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Do kinh nghiệm khả năng của bản thân còn nhiều hạn chế trong công tác
nghiên cứu khoa học, tùy đề tài đã hoàn thành xong nhưng em mong đề tài
được đóng góp thêm ý kiến để đề tài được đầy đủ và chính xác hơn để nâng cao
chất lượng giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em trân thành cảm ơn cô Vũ Thị Huê
giảng viên khoa Tâm lý giáo dục đã hướng dẫn em thực hiện đề tài này.
Em xin trân thành cảm ơn BGH Trường Tiểu học Tân Cương và cô giáo
Ngô Thị Tâm giáo chủ nhiệm lớp 3C cùng các em học sinh lớp 3C đã tạo điều
kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Thái Nguyên, ngày 5 thàng 5 năm 2016
Sinh viên nghiên cứu
Hoa
Ngô Thị Hoa
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status