PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
TRƯỜNG THCS PHẠM VĂN HINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY KIỂU BÀI ĐỌC THÊM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 9 CẤP THCS
Người thực hiện: Vũ Thị Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Phạm Văn Hinh
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THẠCH THÀNH, NĂM 2016
1
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nhà trường THCS hiện nay, môn Ngữ văn chiếm một vị trí vô cùng
quan trọng, không chỉ hướng tới rèn luyện các kĩ năng nghe, nói đọc, viết; giáo
dục nhận thức, tư tưởng tình cảm, đạo đức nhân cách mà còn hình thành và phát
triển các năng lực tư duy hình tượng, khả năng liên tưởng, đánh giá, nhận xét...
để hướng tới các giá trị Chân- Thiện – Mĩ ở người học. Phân môn Văn chính là
một trong những thành tố tạo nên năng lực đó. Mỗi tác phẩm văn học ra đời là
kết quả của sự khổ công lao động, sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm mang đến
những khoái cảm thẩm mĩ, sự nhận thức để hướng tới sự tự nhận thức ở người
đọc về cuộc sống và chính bản thân mình.
Ngoài các văn bản được chọn dạy chính thức, còn có các văn bản đọc thêm
theo phân phối chương trình. Đó là những văn bản có giá trị văn học cao, phục
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Với sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp tổ chức dạy kiểu bài đọc
thêm trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cấpTHCS ” này, tôi chú trọng nghiên
cứu, tổng kết các vấn đề sau:
- Đặc trưng của văn bản Đọc thêm trong chương trình Ngữ văn 9
- Biện pháp tổ chức ghi bảng theo từng phần của bài Đọc thêm
- Biện pháp tổ chức dạy phần Hướng dẫn tìm hiểu chung
- Biện pháp tổ chức dạy phần hướng dẫn Đọc – hiểu văn bản
- Biện pháp tổ chức dạy phần Tổng kết
- Biện pháp tổ chức dạy phần Luyện tập.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
3. Phương pháp phân tích, chứng minh.
4. Phương pháp so sánh đối chiếu.
5. Phương pháp trực quan.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trước hết, cần làm rõ khái niệm về phương pháp và biện pháp dạy học:
Phương pháp dạy học là “những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh,
nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được
thế giới quan và năng lực”. Biện pháp dạy học là “cách làm, cách giải quyết
một vấn đề cụ thể trong quá trình dạy học”. Nói cách khác, biện pháp là sự cụ
thể hoá của phương pháp trong quá trình giảng dạy. Trọng tâm của phương pháp
giáo dục phổ thông hiện nay là hướng tới đối tượng người học. Nghĩa là người
thầy giữ vai trò định hướng. Người học giữ vai trò chủ đạo trong việc tiếp thu,
lĩnh hội kiến thức, nhằm “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương
thống nhất. Có người thực hiện kiểu bài này bằng các thao tác, tiến trình hoạt
động như một bài Đọc- hiểu chính khoá. Có người lại cho rằng giờ đọc thêm chỉ
đơn thuần là dành thời gian cho học sinh đọc văn bản là đủ. Ý kiến khác lại
khẳng định“đây chỉ là bài đọc thêm nên không có gì quan trọng, chủ yếu rút ra
nội dung, nghệ thuật một cách ngắn gọn là đủ”. Có thể thấy, những quan điểm
đó đều mang tính chủ quan, phiến diện một chiều. Bởi các tiết “ Đọc thêm” là
thời điểm thích hợp để rèn luyện khả năng tư duy độc lập, chủ động, tích cực
chiếm lĩnh tri thức ở học sinh theo đúng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
văn. Để làm được điều đó, vai trò của người giáo viên và phương pháp dạy học
phù hợp là điều cần thiết. Đây cũng là hướng để tôi phần nào làm rõ ở sáng kiến
kinh nghiệm này.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Văn bản đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS được bắt đầu từ lớp 6
đến lớp 9. Các tác phẩm này ứng với các kiểu văn bản ở từng khối lớp – tự sự,
miêu tả, biểu cảm, nghị luận. Ở lớp 9, có sự tiếp nối ở các kiểu văn bản biểu cảm
trữ tình và văn xuôi tự sự nhưng có sự phát triển cao hơn về mặt thể hiện cảm
xúc, tình cảm (trữ tình) và nhân vật, sự kiện, cốt truyện, chủ đề, tư tưởng... (tự
sự) của các tác giả, gắn với tinh thần thời đại. Vì vậy, việc dạy và học các văn
bản này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Cụ thể:
1. Về phía người dạy
Nhiều giáo viên đã có sự tìm tòi, đầu tư cả về kiến thức lẫn phương pháp
vào việc dạy bài Đọc thêm. Vì vậy, chất lượng một số giờ Đọc thêm được cải
thiện theo chiều hướng tích cực.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại không nhỏ trong quá trình giảng dạy kiểu bài
này ở giáo viên:
4
- Không ít giáo viên chưa nắm được cách thức, phương pháp giảng dạy một bài
2014 qua các bài kiểm tra đột xuất sau giờ dạy, bài kiểm tra 15 phút và bài kiểm
tra giao về nhà cho học sinh. Kết quả thu được như sau:
Bài KT
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TS
HS SL
% SL
% SL
% SL
% SL
%
Bài KT
đột xuất
95
01
1,1
06
6,3
45,3
05
5,2
Bài KT
ở nhà
95
02
2,1
10
10,5
45
47,4
35
36,8
03
PPCT
22
57
3
Những đứa trẻ
M. Go-rơ-ki
89
4
Con cò
Chế Lan Viên
112
5
Bến quê
Nguyễn Minh
Châu
136
Thể loại
6
thiết phải đảm bảo đầy đủ như ở tiết học chính. Tuỳ vào yêu cầu mục tiêu, nội
dung, nghệ thuật của từng bài mà có thể tăng hay giảm phạm vi, mức độ kiến
thức. Nghĩa là có thể chọn vùng kiến thức để dạy sao cho làm nổi bật trọng tâm,
nội dung, kĩ năng của bài học. Mặt khác, giờ Đọc thêm là hoạt động đồng tiếp
nhận, cảm thụ và sáng tạo của cả thầy lẫn trò nhưng cần đề cao vai trò của người
học, tức học sinh phải tự học là chính dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên. Như
vậy, để giờ dạy bài Đọc thêm đạt chất lượng tốt, khâu hướng dẫn học sinh chuẩn
bị bài, soạn bài ở nhà là rất quan trọng. Học sinh có thể tìm hiểu kĩ về tác giả,
tác phẩm, những vấn đề liên quan đến tác phẩm… để có thể khai thác sâu giá trị
nội dung, nghệ thuật của bài ở trên lớp. Việc hướng dẫn của giáo viên có thể
được tổ chức xây dựng bằng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề v.v… để giao
nhiệm vụ cụ thể cho nhóm hoặc từng học sinh.
Với giờ Đọc thêm, hoạt động Đọc – hiểu là rất quan trọng. Vấn đề là đọc
thế nào để cảm nhận được tác phẩm, để có những phân tích, kiến giải phù hợp
nhằm làm rõ giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuât, tính cách, số phận nhân vật,
phong cách nhà văn…Một trong số đó là phương pháp đọc sáng tạo - đọc diễn
cảm ở phần Hướng dẫn tìm hiểu chung hoặc trong quá trình Đọc – hiểu văn
bản. Đọc sáng tạo được thể hiện qua việc đọc mẫu của giáo viên, việc phân vai
đọc của học sinh. Có nhiều cách để thể hiện hoạt động đọc sáng tạo: đọc hướng
dẫn, đọc có phân tích, kể chuyện hoặc đọc thuộc lòng, phát biểu cảm nghĩ v.v…
hay hoạt động liên môn với hội họa, âm nhạc, biểu diễn nghệ thuật… Nhằm tạo
ra sự hứng thú, sôi nổi và trải nghiệm cảm xúc trọn vẹn của học sinh vào không
gian nghệ thuật của tác phẩm, đồng thời bước đầu cảm thụ, cắt nghĩa được văn
bản. Để làm được điều đó, cần có sự hướng dẫn của giáo viên để đạt được hiệu
quả cao nhất. Vấn đề này, giáo viên phải làm rõ để học sinh thấy được vị trí, vai
trò, đặc trưng của kiểu bài Đọc thêm và nhiệm vụ của mình trong giờ học đó.
Phần chú thích * ( SGK) đã cung cấp khá đầy đủ thông tin về tác giả. Giáo
viên không cần thiết đặt câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời. Giáo viên có thể đặt
thêm câu hỏi về con người, hoàn cảnh quê hương, gia đình, quan điểm nghệ
thuật... để mở rộng sự hiểu biết về tác giả cho học sinh
Ví dụ: Khi dạy tiết 57 - Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của
Nguyễn Khoa Điềm ( Ngữ văn 9 kì I), giáo viên có thể đặt những câu hỏi định
hướng để học trò phát hiện và trả lời như sau:
TT
1
2
Câu hỏi
Thông tin trả lời cần đạt của học sinh
Em hiểu gì về quê
Cố đô Huế - dải đất miền Trung là quê
hương nhà thơ Nguyễn hương của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nơi
Khoa Điềm?
đây đã chứng kiến bao thăng trầm lịch sử.
Nơi mang vẻ đẹp thâm nghiêm, huyền bí mà
dịu dàng, kín đáo. Những nét đặc trưng đó
đã tạo nên hồn thơ ông trữ tình, sâu lắng, hài
hoà về trí tuệ và cảm xúc. Vì thế bài thơ “
Khúc hát… trên lưng mẹ” của ông đã mang
đậm sắc thái điệu hồn lời ru cùng vẻ đẹp
phẩm chất của người mẹ - người phụ nữ của
quê hương nhà thơ đối với con, với bộ đội
kháng chiến và buôn làng.
nát. Ở phủ chúa, Thịnh Vương Trịnh Sâm bỏ bê triều chính, ăn chơi sa đoạ, say
mê hưởng lạc cùng Đặng Thị Huệ… Chế độ phong kiến đang trên đường khủng
hoảng trầm trọng.
Như vậy, tìm hiểu kĩ hoàn cảnh thời đại, xã hội có ý nghĩa to lớn trong
việc tiếp cận, khai thác tác phẩm theo đúng hướng.
b.Tìm hiểu từ khó
Ngoài hệ thống từ khó đã được chú thích ở SGK, có thể tích hợp với phần
Tiếng Việt ở bài: Nghĩa của từ, Thành ngữ, Thuật ngữ, Từ nhiều nghĩa và hiện
tượng chuyển nghĩa của từ, Nói quá… để gợi dẫn cho học sinh hiểu được từ
khó.
Ví dụ: Khi dạy bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”( Ngữ văn
9 kì I) có thể nêu câu hỏi: Từ “lưng” ( trong lưng núi) ở bài thơ được dùng theo
nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? (nghĩa chuyển)
c. Đọc
Với bài Đọc thêm, giáo viên cần dành thời gian hướng đẫn để học sinh
nắm được cách đọc và đọc cả tác phẩm (với văn bản có dung lượng vừa phải).
Có thể chọn đoạn văn để đọc nhằm cảm nhận bước đầu về nội dung, nghệ thuật
tác phẩm. Đọc sáng tạo phải được phát huy cao độ ở kiểu bài này. Đọc để hiểu
phải tóm tắt được sự việc, nhân vật hướng tới chủ đề.( với tác phẩm truyện); nếu
là truyện dân gian, thơ trữ tình thì có thể sử dụng băng đĩa để minh hoạ nội
dung, hình ảnh, giọng đọc cho học sinh học tập. Tuy nhiên, các hoạt động đó
đều phải diễn ra xung quanh tác phẩm văn học đang được học của giờ đọc thêm.
Phần đọc sáng tạo có thể được thực hiện lồng ghép ở phần dưới – hướng
dẫn Đọc- hiểu văn bản để học sinh vừa cảm thụ, vừa cắt nghĩa, phân tích,
nhận xét, đánh giá được nội dung, nghệ thuật tác phẩm.
Ví dụ:
Dạy bài “Con cò” của Chế Lan Viên – tiết 112 (SGK Ngữ văn 9, kì II). Phần
đọc sáng tạo, giáo viên có thể gợi dẫn để học sinh hát các làn điệu dân ca “ Con
9
tích)
Với loại bài “Đọc thêm”, để làm rõ nội dung và nghệ thuật tác phẩm,
ngoài hệ thống câu hỏi ở SGk, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở
để định hướng phương pháp Đọc – hiểu cho học sinh theo hai dạng văn bản:
+ Nếu là văn bản thơ: chú ý đến chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình, mạch
cảm xúc ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu…
+ Nếu là văn bản truyện: Chú ý đến sự việc, chuỗi sự việc, cốt truyện, nhân
vật, tư tưởng chủ đề…
Trong giờ Đọc thêm, câu hỏi chủ yếu là các câu hỏi khái quát, câu hỏi nêu
vấn đề, câu hỏi mở rộng, nâng cao, so sánh, nhận định, đánh giá chung về nội
dung tư tưởng, giá trị thẩm mĩ… có liên quan đến tác giả, thời đại, xã hội và
những kĩ năng sống cơ bản cũng như bài học đạo lí làm người cho học sinh.
Ví dụ: Dạy Văn bản “ Bến quê”, tiết 136 ( SGK Ngữ văn 9, tập II). Giáo
viên có thể hướng dẫn học sinh phần Đọc – hiểu bằng các nội dung sau:
10
Hoạt động của thầy và trò
YÊU CẦU cần đạt
1. Đặc điểm nhân vật
GV?: Nhân vật Nhĩ được xây dựng
tập trung ở những khía cạnh nào của
tác phẩm?
HS: Diễn biến nội tâm nhân vật dưới
tác động của những tình huống,
nghịch lí cuộc đời; điều Nhĩ nhậ ra
sau năm tháng bôn tẩu, cống hiến và
hoàn cảnh trớ trêu anh gặp phải phút
bản theo sự chỉ định của GV.
GV?: Hãy tìm và chỉ ra các chi tiết
đắt ( nghệ thuật đặc sắc) trong truyện?
11
HS: Các chi tiết đắt: Vẻ đẹp bãi bồi
bên kia sông, hình ảnh người vợ Nhĩ,
những suy ngẫm của Nhĩ về gia đình
về chính mình và về cuộc đời…
GV?: Các chi tiết nghệ thuật trên
được khắc hoạ cụ thể bằng những từ
ngữ, hình ảnh nào? Nhận xét về nghệ
thuật miêu tả của tác giả từ các chi tiết
đó? Thông điệp tác giả gửi tới bạn
đọc từ các chi tiết nghệ thuật ấy là gì?
Ví dụ: Chi tiết Nhĩ suy ngẫm về
chính mình được thể hiện qua các
hình ảnh “ tiếng đất lở, tiếng cơn lũ
đầu nguồn dồn về, những tảng đất đổ
oà vào giấc ngủ”, câu Nhĩ hỏi vợ về
thời gian…
( Phần này, giáo viên có thể tách ý a. Vẻ đẹp bãi bồi bên kia sông
để tổ chức cho học sinh thảo luận
- Bức tranh thiên nhiên trong sáng,
nhóm để trao đổi, thống nhất ý kiến tươi đẹp, bình dị, mang vẻ đẹp của quê
và trình bày quan điểm của nhóm hương, đất nước.
mình trước tập thể lớp).
-> Vẻ đẹp ấy không ở đâu xa xôi mà
gần gũi ngay chính xung quanh mình.
- Biểu tượng cho những gì thân thiết,
gần gũi, neo đậu tâm hồn con người.
Nhìn vào ví dụ trên, ta thấy sau phần định hướng cho học sinh giải quyết
các vấn đề thuộc về nội dung, nghệ thuật của văn bản, giáo viên có thể ghi bảng
ngắn gọn, khái quát nội dung, nghệ thuật. Mặt khác, giáo viên có thể bình mở
rộng một số ý, một số chi tiết nhằm tạo thêm hứng thú cho học sinh.
Ví dụ: Cũng ở văn bản “ Bến quê” của Nguyễn Minh Châu, từ sự thức tỉnh
của Nhĩ về thiên nhiên, gia đình, cuộc đời, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh
bình, liên hệ và rút ra triết lí về cuộic sống và bài học cho chính mình, nhằm rèn
luyện kĩ năng sống cho các em:
“Vẻ đẹp, giá trị cuộc sống không ở nơi đâu xa mà gần gũi ngay chính xung
quanh ta. Đó chính là thiên nhiên quê hương, là người thân gia đình. Mỗi người
học sinh chúng ta cần biết yêu quý, trân trọng, gìn giữ và bảo vệ, bởi tình cảm,
thái độ ấy cũng chính là sự biểu biện của tình yêu gia đình, quê hương, đất
nước. Mặt khác, cuộc sống thường có những nghịch lí vượt ra khỏi dự định của
chúng ta, cái vòng vèo, chùng chình rất dễ cuốn chân ta vào như trò chơi điện
tử hấp dẫn, hay cái vui thú bất kì nào đó khiến ta say mê, quá đà làm sao nhãng
việc học tập. Hãy bản lĩnh, cố gắng thoát ra khỏi nó để đạt được mục tiêu, lí
tưởng sống cao đẹp của đời mình, các bạn nhé!”
Ở đây, vai trò của người thầy vừa là người hướng dẫn, tổ chức cho trò hoạt
động tìm hiểu, vừa là thư kí chắt lọc, ghi lại kết quả tự tìm hiểu của từng cá
nhân, tập thể nhằm giúp đỡ với tinh thần và góp thêm một cách hiểu để định
hướng, làm phong phú thêm khả năng cảm thụ của các em.
3.3. Biện pháp tổ chức dạy phần Hướng dẫn phần Tổng kết
Đây là phần cơ bản về nội dung và nghệ thuật mà văn bản cần đạt, học sinh
cần rút ra nhằm rèn luyện thêm khả năng cảm thụ tác phẩm văn học. Ở phần này,
giáo viên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi khái quát, để cho học sinh tự rút ra
nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Giáo viên cần định hướng để học sinh tự chắt
lọc, tự ghi lại nội dung cơ bản. Đây chính và thao tác quan trọng nhằm rèn luyện
kĩ năng tổng hợp, khái quát, kĩ năng nói cho học sinh. Giáo viên có thể mở rộng
hiểu biết, tình cảm, thái độ, ý thức của học sinh đối với tình bạn của mình. Qua
đó, các em sẽ thêm quý trọng, giữ gìn, bảo vệ tình bạn trong sáng, bền chặt,
đồng thời rèn luyện kĩ năng, vốn sống cho bản thân một cách thiết thực, hữu ích.
Ví dụ 3: Với bài đọc thêm “ Con cò” của Chế Lan Viên, giáo viên có thể
đặt câu hỏi:
Nếu em là người con, được lắng nghe những lời ru ngọt ngào, sâu nặng tình
yêu thương, chở che ấm áp của mẹ, em sẽ làm gì để thể hiện tình yêu, lòng biết
ơn mẹ của mình?
Câu hỏi này nhằm đặt các em vào vị trí người con được mẹ quan tâm, chở
che bằng tình yêu thương vô bờ bến, bằng lời ru ngọt ngào, từ đó biết suy nghĩ
làm thế nào để sống có đạo đức, báo hiếu công ơn sinh thành, dưỡng dục của
cha mẹ. Mặt khác, câu hỏi này cũng hướng tới việc rèn luyện kĩ năng nói của
các em trước tập thể một cách tự tin, diễn cảm và sâu sắc những điều mình nghĩ.
Ngoài các hình thức đặt câu hỏi như trên, giáo viên có thể giao việc luyện
tập cho học sinh bằng phiếu học tập, đóng tiểu phẩm, đọc phân vai hay tham gia
trò chơi đoán chữ v.v… Đây là những hình thức khá thú vị và bổ ích nhằm tạo
điều kiện để các em động não tư duy; trải nghiệm cảm xúc trong không gian
nghệ thuật;
đặt mình vào vị trí nhân vật để suy ngẫm, lựa chọn cách giải quyết phù hợp, để
từ đó tự rút ra những kinh nghiệm quý giá cho bản thân và cuộc sống.
14
3.5. Biện pháp tổ chức Củng cố bài học cho học sinh
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc thuộc lòng, diễn cảm bài thơ, đoạn
thơ hoặc đóng vai để kể lại câu chuyện, diễn biến tâm trạng nhân vật. Cũng có
thể đặt câu hỏi dẫn dắt để học sinh tự trình bày những kiến thức cần nhớ về nghệ
thuật, nội dung văn bản hay những điều mình đã nắm từ bài học đó….Nhằm
củng cố, khắc sâu nội dung bài học.
3.6 Biện pháp tổ chức Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà
Từ những suy nghĩ trên của Nhĩ, viết bài văn nghị luận ( khoảng 30 dòng),
suy nghĩ của em về những “ cái vòng vèo, chùng chình” thường cuốn em vào
trong học tập và cuộc sống.
15
Ví dụ 3: Bài tập dành cho học sinh đối tượng là học sinh yếu, kém:
Câu 1. Từ bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên, hãy lựa chọn một khổ thơ
để chép theo trí nhớ và cho biết vì sao em thích khổ thơ ấy?
Câu 2. Viết đoạn văn ( khoảng 10 dòng) giới thiệu tác giả Nguyễn Minh
Châu và truyện ngắn Bến quê.
Như vậy, với đối tượng học sinh từ khá trở xuống, cách ra bài tập về nhà
của giáo viên có phần nhẹ nhàng, phù hợp với năng lực của trò. Nhưng đối với
học sinh giỏi, bài tập cần phải được nghiên cứu cụ thể, có tính đến các tình
huống khác nhau, thậm chí cần có sự đào sâu, mở rộng, đối chiếu, so sánh với
các tác phẩm khác cùng đề tài trong quá trình làm bài tập. Đây là cơ sở để đánh
giá đúng năng lực các em, cũng là điều kiện thuận lợi để các em bộc lộ rõ khả
năng, sự trải nghiệm và sáng tạo của mình.
3.7 Đổi mới kiểm tra đánh giá phần Đọc thêm
Quan điểm tiến bộ, tích cực của việc dạy học Văn trong giai đoạn hiện tại
và tương lai là không chỉ thiên về cung cấp tri thức mà còn hướng đến phát triển
năng lực người học. Quan điểm này đã chi phối cả khâu kiểm tra đánh giá theo
định hướng năng lực. Vì vậy, đổi mới kiểm tra đánh giá phần Đọc thêm là cần
thiết nhằm góp phần phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh.
Việc đổi mới kiểm tra phần Đọc thêm cần được tiến hành theo hướng sau:
- Căn cứ vào phân phối chương trình cho bài Đọc thêm để ra đề hợp lí, đúng
tiến độ. Có thể đưa bài Đọc thêm vào các tiết kiểm tra thường xuyên, định kì, thi
học sinh giỏi…
- Mức độ câu hỏi kiểm tra cần đa dạng từ dễ đến khó, từ câu hỏi có tính phát
hiện đến câu hỏi mở, câu hỏi nâng cao nâng cao ở mức vận dụng sáng tạo.
Như vậy, đổi mới kiểm tra, đánh giá phần Đọc thêm chính là nhằm củng cố,
thúc đẩy giờ Đọc hiểu văn bản đạt hiệu quả tốt nhất, phát huy được năng lực
cảm thụ và tạo lập văn bản ở học sinh đối với môn học ở tất cả các kiểu bài,
trong đó đó dạng bài Đọc thêm.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Khi áp dụng sáng kiến trên vào thực tế dạy học, tôi thấy học sinh đã có sự
thay đổi về chất đối với việc học tập môn Ngữ văn nói chung và kiểu bài Đọc
thêm nói riêng. Cụ thể các em đã thực sự hứng thú, say mê, sôi nổi trong giờ
Đọc thêm. Nhiều em vốn lâu nay trầm, ít phát biểu ý kiến thì giờ đây lại rất hăng
hái xây dựng bài. Giờ học thêm không còn gây nhàm chán, mỏi mệt bởi sự khô
khan, khuôn mẫu máy móc của người dạy nữa. Năng lực cá nhân của các em
được bộc lộ rõ qua phần đọc sáng tạo, nhận xét, đánh giá về nội dung, nghệ
thuật văn bản trước tập thể lớp. Hoạt động học tập hợp tác giữa các cá nhân
cũng mang lại hiệu quả rõ rệt. Việc soạn bài ở nhà của các em cũng được chuẩn
bị chu đáo, công phu hơn trong niềm háo hức chờ đón được trải nghiệm, được
sống trong không gian nghệ thuật cùng văn bản.
Đối với bản thân người giáo viên trực tiếp giảng dạy như tôi và các đồng
nghịêp trong và ngoài nhà trường, giờ Đọc thêm không còn khiến chúng tôi lúng
túng hay soạn giảng theo cách đối phó, hình thức nữa. Sự trăn trở, miệt mài
chuẩn bị cho tiết dạy khiến chúng tôi cảm thấy yêu nghề, say nghề hơn bởi
chính chất lượng, hiệu quả bài dạy mang lại cho tôi và các học trò của mình.
Khảo sát tình hình học tập của học sinh tại trường THCS Phạm Văn Hinh,
năm học 2014 – 2015 qua các bài kiểm tra đột xuất sau giờ dạy, bài kiểm tra
thường xuyên và bài kiểm tra giao về nhà cho học sinh. Kết quả thu được như
sau:
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
45 47,4
0
0,0
0
0,0
11
11,5
43
45,3
41 43,2
0
0,0
0
0,0
20
Việt – Tập làm văn. Qua việc thực hiện làm sáng kiến kinh nghiệm này, tôi nhận
thấy, để giờ dạy học Ngữ văn nói chung và giờ Đọc thêm đạt hiêu quả tốt, cần
rất nhiều yếu tố, một trong số đó là vai trò của giáo viên và học sinh:
Về phía giáo viên: Mỗi thầy cô phải nỗ lực hết mình để tìm được phương
pháp giảng dạy phù hợp cho từng kiểu bài. Không nên chỉ chú trọng vào những
tiết dạy thuộc năng khiếu, sở trường mà bỏ qua những tiết học khó, ít có tài liệu
hướng dẫn. Cũng không nên dạy trò theo kiểu học gì thi nấy mà quên mất một
trong những dạng bài có thể phát huy cao độ năng lực trí tuệ, cảm xúc của các
em như bài Đọc thêm trong chương trình. Sự định hướng, dẫn dắt, gợi mở đúng
đắn của giáo viên sẽ giúp học trò tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động,
sáng tạo. Chất lượng giảng dạy vì thế mà không ngừng được cải thiện tốt hơn.
Về phía học sinh: Bản thân các em phải có sự miệt mài, đam mê với môn
học, giờ học. Nhu cầu được khám phá, chiếm lĩnh kiến thức phải luôn thường
trực trong các em ở tất cả kiểu bài. Đặc biệt, với bài đọc thêm, các em cần nhận
thức được đây là loại bài có tác dụng làm giàu vốn văn chương, rèn luyện kĩ
năng tự học, tự cảm thụ và bước đầu xây dựng cho học sinh một văn hóa đọc. Vì
vậy, không có phương pháp nào tốt bằng phương pháp tự học để nắm vững kiến
thức. Sự chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp, làm bài tập đầy đủ khi được
giao về nhà, sự hợp tác tập thể để giải quyết nhiệm vụ phức tạp và sự độc lập tư
duy dưới nhiều góc độ - phản biện, phê phán, so sánh, đối chiểu… ở các em sẽ
góp phần tạo nên thành công cho giờ Đọc thêm văn bản.
2. Kiến nghị
Đối với mỗi giáo viên: Không ngừng học tập, tự bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy cho bản thân; luôn trăn trở, tìm tòi để đúc rút
kinh nghiệm giảng dạy qua những cách làm hay, những sáng kiến kinh nghiệm
có chất lượng nhằm gửi tới đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
cho tỉnh và huyện nhà.
Đối với tổ chuyên môn và nhà trường:
Cần tổ chức hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn về phương pháp
giảng dạy những kiểu bài khó, để các giáo viên có thể trao đổi, chia sẻ kinh
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Kim Tân, ngày 20 tháng 03 năm 2016
Tôi xin cam đoan SKKN là do tôi tự làm,
không sao chép của người khác.
Người viết SKKN
Vũ Thị Phương
19