BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ NGỌC DIỄM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC
YẾU TỐ HÌNH HỌC LỚP 4 THEO HƯỚNG
TIẾP CẬN HOẠT ĐỘNG
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIÊU HỌC)
Mã số: 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG
Vinh, 2011
2
LỜI CẢM ƠN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô trường Đại học Vinh, quý Thầy
cô trường Tiểu học Trần Khánh Dư và các anh chị, bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình sưu tầm tài liệu
và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Châu Giang,
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình làm luận
văn, để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình.
Luận văn có thể còn nhiều hạn chế nhất định, song đây chính là bước đầu
nâng đỡ cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, phục vụ thiết thực cho
Danh mục các bảng, đồ thị
5
MỞ ĐẦU
6
NỘI DUNG
10
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
10
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
10
1.2 Tiếp cận hoạt động trong dạy học.
13
1.3 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 4.
13
1.4 Nội dung YTHH trong chương trình SGK Toán 4
29
38
47
4
2.2.4. Biện pháp 4: Rèn luyện cho HS các thao tác tư duy thông qua
một số hoạt động mở rộng bài toán.
2.2.5. Biện pháp 5: Tổ chức cho HS thực hiện những hoạt động hình
học tương thích với mục tiêu và nội dung bài học.
55
67
Chương 3: Kiểm nghiệm sư phạm.
79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
116
TÀI LIỆU THAM KHẢO
119
PHỤ LỤC
122
chứng .............................................................................................. Trang 113
Bảng 3.2 Bảng kết thống kê kết quả các bài kiểm tra của lớp kiểm nghiệm
và lớp đối chứng .............................................................................. Trang 115
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp kết quả các bài kiểm tra của lớp kiểm nghiệm và
lớp đối chứng .................................................................................. Trang 116
Bảng 3.4 Bảng kết phân loại học lực của HS lớp kiểm nghiệm và đối chứng
sau các bài kiểm tra ......................................................................... Trang 117
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát chuyên gia ..................................... Trang 119
Đồ thị 3.1 Đồ thị phân loại học lực của HS lớp kiểm nghiệm và đối chứng
sau khi thực nghiệm ......................................................................... Trang 114
Đồ thị 3.2 Đồ thị tỉ lệ % trung bình chung phân loại học lực của HS lớp
kiểm nghiệm và đối chứng................................................................ Trang 118
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IV đã ra quyết định số 14 – NQTƯ về
cải cách giáo dục với tư tưởng: “Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc
cách mạng tư tưởng; Thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ
đến lúc trưởng thành; Thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện;
đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung phương pháp dạy học;(…); tạo
nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học…”.
Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 đã quy
định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
thông thông qua dạy học một số nội dung phương trình”; Lê Thị Thảo Dịu với nội
dung dạy học “Tổ chức hoạt động học tập ở Mầm non”;…Các đề tài đều lấy quan
điểm hoạt động làm cơ sở, làm nền tảng để hình thành phương pháp dạy học, hình
thành các kĩ năng cần thiết cho người học. Chẳng hạn như: bồi dưỡng cho sinh
viên năng lực tiếp cận LTHĐ trong nghiên cứu và giảng dạy Toán; kĩ năng soạn
giáo án cho sinh viên; tăng cường thái độ tích cực nhận thức cho HS trung học
phổ thông; phát triển sự sáng tạo, tính độc lập của trẻ mẫu giáo;… Qua đó cho
thấy LTHĐ được vận dụng vào các cấp học, từ Mầm non cho đến Đại học. Như
vậy, việc vận dụng LTHĐ vào lĩnh vực dạy học thực sự rất cần thiết. Tuy nhiên,
việc vận dụng lí thuyết này vào dạy học ở Tiểu học, cụ thể là mạch Yếu tố hình
học (YTHH) vốn chưa được đi sâu nghiên cứu.
Trong bốn mạch nội dung của môn Toán ở Tiểu học là Số học, YTHH, Yếu
tố đại lượng và Giải toán có lời văn, chúng tôi chọn nghiên cứu mạch kiến thức
YTHH ở lớp 4 vì YTHH phát huy thế mạnh của LTHĐ. Thêm vào đó Toán 4 mở
đầu cho giai đoạn hai (giai đoạn các lớp 4, 5), giai đoạn chuyên sâu hơn giai
đoạn một (các lớp 1, 2, 3). Ở giai đoạn này, HS được tiếp thu kiến thức ở mức
khái quát hơn, tăng hoạt động thực hành – vận dụng.
8
Nhận thức tầm quan trọng trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số
biện pháp tổ chức dạy học yếu tố hình học ở lớp 4 theo hướng tiếp cận hoạt
động” nhằm giúp phát triển năng lực hoạt động Toán, rèn tư duy suy luận lôgic
cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán ở Tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học YTHH ở lớp 4 theo hướng tiếp
cận hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán cho HS Tiểu học.
- Phương pháp phân loại – hệ thống hóa lý thuyết.
- Phương pháp cụ thể hóa lý thuyết
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
-
Phương pháp quan sát.
Phương pháp thực nghiệm.
Phương pháp điều tra.
Phương pháp trò chuyện.
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học:
- Thống kê các số liệu thu được làm cơ sở kiểm tra tính khả thi của giả
thuyết khoa học đặt ra.
7. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề cương luận
văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy học YTHH ở lớp 4 theo hướng tiếp
cận hoạt động.
Chương 3: Kiểm nghiệm sư phạm.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về LTHĐ của một số nhà nghiên cứu:
* Ở nước ngoài:
10
11
− Theo Nguyễn Bá Kim: “PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho người
học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và
sáng tạo.” [11, Tr 125]
− Theo Phan Trọng Ngọ về quan điểm dạy học hiện đại thì người dạy với
sứ mạng là nhà tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học của người học. Là
người tham vấn, người trợ giúp hoạt động học của người học. Còn người học là
chủ thể tích cực, năng động sáng tạo trong quá trình học. Quá trình dạy học là sự
tác động hai chiều giữa hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người
học. [18]
− Nguyễn Thanh Hưng: “ PPDH là một hệ thống các tác động liên tục của
người dạy nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để
người học lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt
được mục tiêu đã định”. [10, Tr22].
Các tác giả đã khái quát quá trình dạy học thực chất là quá trình thực hiện
một chuỗi các hoạt động dạy và hoạt động học. GV với vai trò là người hướng
dẫn, điều khiển hoạt động học của HS giúp cho các em tự giác, tích cực hoạt
động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Bên cạnh đó, còn có một số đề tài vận dụng LTHĐ vào dạy học như:
- GS. Đào Tam (Chủ biên) – TS. Lê Hiển Dương với nội dung “Tiếp cận
Lí thuyết hoạt động trong nghiên cứu và thực hành dạy học Toán ở trường Đại
học và trường phổ thông” [20, Tr5]. Tác giả đã đề cập những vấn đề sau: Khái
quát một số kiến thức cơ bản về LTHĐ; Từ đó, tác giả đề xuất một số cách rèn
luyện cho học sinh, sinh viên năng lực nắm các khái niệm, quan hệ toán học,
năng lực khai thác tiềm năng sách,…; Cuối cùng là ý kiến về việc cần chú ý hơn
đến các biện pháp rèn luyện các năng lực mà tác giả đã đề xuất.
- PGS.TS Nguyễn Văn Khôi với đề tài: “Sử dụng phương tiện và kĩ thuật
dạy học theo hướng tương tác trong dạy học kĩ thuật” [44]. Tác giả đã vận dụng
quan điểm hoạt động làm cơ sở cho việc xây dựng kĩ thuật dạy học theo hướng
-
(1) Tiếp liền với. VD: vùng tiếp cận thành phố.
-
(2) Tiến sát gần. VD: bí mật tiếp cận sào huyệt địch.
13
-
(3) Đến gần để tiếp xúc. VD: từng bước tiếp cận với giám đốc; chưa
được tiếp cận với thực tế.
-
(4) Từng bước, bằng những phương pháp nhất định để tìm hiểu một vấn
đề, công việc nào đó. VD: tiếp cận vấn đề; tìm cách tiếp cận với công nghệ mới.
1.2.2. Tiếp cận hoạt động là gì?
Từ định nghĩa về “tiếp cận” chúng ta có thể hiểu “Tiếp cận hoạt động” là
bằng những phương pháp nhất định để từng bước đi sâu nghiên cứu một dạng
hoạt động đặc thù nào đó.
1.2.3. Tiếp cận hoạt động trong dạy học.
Vận dụng quan điểm trên vào lĩnh vực dạy học ta có quan điểm về “Tiếp
cận hoạt động trong dạy học”. Dạy học theo hướng tiếp cận hoạt động là một quá
trình tổ chức, điều khiển quá trình dạy học nhằm phát huy tối đa các hoạt động
học tập của HS để đạt được các mục tiêu dạy học. Xuất phát từ nội dung bài học
cứng nhắc, gò bó, học thuộc quy tắc một cách khiên cưỡng.
- Tư duy của HS đã bước sang thời kì mới, các em đã biết dựa trên các dấu
hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung, bản chất của sự vật, hiện tượng
để khái quát hóa thành khái niệm, quy luật. Các em đã nhìn thấy một sự vật có
thể diễn biến theo nhiều hình thức, một bài Toán được giải bằng nhiều cách khác
nhau.
Từ đặc điểm này ta thấy, trong QTDH GV cần sử dụng hình thức tổ chức
dạy học theo hướng tiếp cận hoạt động để phát triển năng lực trí tuệ (phân tích,
tổng hợp, trừu tượng hóa, khả năng phán đoán và suy luận…), bồi dưỡng những
phẩm chất của hoạt động trí tuệ (tính nhanh nhạy, linh hoạt,…). Trên cơ sở đó
giúp HS lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nhân cách.
- Trí nhớ: khả năng ghi nhớ của HS đã phát triển mạnh, việc ghi nhớ từ tài
liệu trực quan đã có hiệu quả cao. Trí nhớ logic có sự “lột xác” so với các lớp
dưới. Song việc ghi nhớ đó phải dựa trên tài liệu trực quan, hình tượng để đảm
bảo bền vững.
15
Như vậy, việc tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận hoạt động sẽ giúp cho
các em chiếm lĩnh kiến thức tốt hơn vì các em dễ ghi nhớ và nhớ lại tốt những gì
được trực tiếp tác động lên đó hơn là những gì chỉ được giảng giải.
- Tưởng tượng của HS giai đoạn này thường dựa trên những tri giác đã có
từ trước và dựa trên vốn ngôn ngữ. Khả năng điều ứng đã có nhiều biến đổi như
biết vận dụng những kiến thức cũ để giải quyết những tình huống mới. Bởi các
em đã biết tưởng tượng sáng tạo dựa vào ngôn ngữ để xây dựng những trường
hợp khái quát (xây dựng cách giải cho những dạng toán), đi từ những trường hợp
khái quát đến cụ thể (Tìm cách tóm tắt gọn, dễ hiểu; Đưa những cách giải hay,
độc đáo; Sáng tạo những bài toán mới).
- Khả năng tập trung và phân phối chú ý, vốn ngôn ngữ và khả năng diễn
việc,…), đảm bảo cho HS phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc
chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, quan trọng hơn là dạy các em phương pháp tự học
thông qua các hoạt động học tập.
1.4. Nội dung YTHH trong chương trình SGK Toán 4
1.4.1. Đặc điểm cấu trúc nội dung YTHH trong SGK Toán 4
1.4.1.1. Thời lượng chương trình:
Tổng thời lượng dạy học Toán 4 có 175 tiết học. Nếu chia Toán 4 thành 4
mạch nội dung (gồm số học, đo lường, yếu tố hình học, giải toán có lời văn) thì
thời lượng dạy học các YTHH gồm 16 tiết, chiếm khoảng 9% tổng thời lượng
dạy học Toán 4.
1.4.1.2. Cách sắp xếp các nội dung đan xen nhau:
Nội dung YTHH cùng với số học, các yếu tố đại lượng và giải toán có lời
văn được sắp xếp xen kẽ nhau trong từng chủ đề, từng chương, trong phần lớn
các tiết học, tất cả tạo ra sự gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình dạy học
Toán 4.
Các nội dung giáo dục khác (như những hiểu biết về tự nhiên và xã hội,
giáo dục môi trường,…) được tích hợp trong dạy học và thực hành các YTHH,
đặc biệt trong thực hành phát hiện và giải quyết các vấn đề gần gũi trong đời
sống, góp phần thực hiện học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn,…
17
1.4.1.3. Cách trình bày nội dung YTHH trong SGK:
Tính trực quan của các hình ảnh hình học đã được quan tâm một cách đúng
mức, đa dạng và phong phú hỗ trợ đối với đổi mới PPDH. Các dạng bài luyện
tập thực hành; nhận dạng hình; đo độ dài, tính chu vi, diện tích; vẽ hình; gấp, xếp
hình,… được tăng cường nhằm rèn luyện, phát triển tư duy, trí tưởng tượng cho
HS.
1.4.1.4. Mức độ yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cơ bản của nội dung
C
D
Nhận xét: Hình thoi có hai đường chéo vuông góc với nhau và cắt nhau tại
trung điểm của mỗi đường.
1.4.2. Nội dung cụ thể
1.4.2.1. Vị trí, vai trò của YTHH trong SGK Toán 4
a) Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, số học là nội dung trọng tâm,
là hạt nhân của toàn bộ môn Toán từ lớp 1 đến lớp 5. Các nội dung về đo lường,
yếu tố hình học, yếu tố thống kê, giải bài toán có lời văn được tích hợp với nội
dung số học và tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nội dung của môn Toán, tạo
thành môn Toán thống nhất trong nhà trường Tiểu học.
Sau đây là một số ví dụ về nội dung dạy học các YTHH đã “hỗ trợ” cho
dạy học số học và các mạch kiến thức khác trong Toán 4 như thế nào.
- Khi HS vận dụng các công thức để tính chu vi, diện tích các hình (hình
vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thoi), HS được củng cố cách tính giá
trị biểu thức có chứa chữ.
VD3: Chu vi P của hình chữ nhật có chiều dài a, chiều rộng b là P = (a + b)
x 2. Tính chu vi diện tích hình chữ nhật biết a = 45m, b = 15m. (Bài 5, Tr .
46,Toán 4)
- Khi HS giải các bài có nội dung hình học, các em được củng cố về kĩ
năng thực hiện các phép tính trên các số đo đại lượng (độ dài, diện tích) hoặc đổi
các đơn vị đo đại lượng (về cùng một đơn vị đo)… Mặt khác, HS được củng cố
về cách giải và trình bày bải giải bài toán có lời văn.
19
VD4: “Để lát nền một viên gạch hình chữ nhật, người ta dùng loại gạch
men hình vuông có cạnh 20cm. Hỏi cần bao nhiêu viên gạch để lát kín phòng
- Bổ sung, mở rộng về quan hệ giữa hai đường thẳng:
Ở các lớp 1, 2, 3 HS được học điểm, đoạn thẳng với sự hỗ trợ của các “hình
ảnh” trực quan (kéo dài về hai phía một đoạn thẳng ta được một đường thẳng).
Bước đầu HS được làm quen với hai đường “cắt nhau” và “điểm giao nhau” của
hai đường thẳng đó, rồi nhận ra “điểm giao nhau” của hai cạnh trong một hình đã
học (qua hình ảnh đỉnh của các hình tam giác, hình tứ giác, đỉnh của một góc là
“điểm giao nhau” của hai cạnh của hình hoặc hai cạnh của góc…).
Đến lớp 4, HS được làm quen với hai đường thẳng “không cắt nhau” tức là
hai đường thẳng song song; và hai đường thẳng “cắt nhau” đặc biệt đó là hai
đường thẳng vuông góc với nhau. Như vậy, đến lớp 4, HS được học “hệ thống”
các “quan hệ” thường gặp đối với hai đường thẳng (hai đường thẳng cắt nhau,
hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song).
- Khái quá hóa quy tắc tính chu vi, diện tích các hình:
Ở lớp 3, HS đã biết tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật. Đến
lớp 4, HS được tiếp tục biết cách tính chu vi, diện tích hình bình hành, hình thoi.
Hơn nữa, các quy tắc tính chu vi, diện tích các hình được nêu dưới dạng khái
quát bằng các công thức tính bằng chữ, chẳng hạn:
* P = a x 4 ; S = a x a (với a là độ dài cạnh hình vuông, P là chu vi hình
vuông, S là diện tích hình vuông).
* S = a x h (S là diện tích hình bình hành, a là độ dài đáy, h là chiều cao).
* S = (S là diện tích hình thoi; m, n là độ dài của hai đường chéo).
1.4.2.2. Mục tiêu của việc dạy học YTHH ở lớp 4
Giúp HS:
- Nhận biết góc nhọn, góc tù, góc bẹt.
- Nhận biết hai đường thẳng vuông góc với nhau, song song với nhau;
nhận biết hình bình hành, hình thoi và một số đặc điểm của mỗi hình.
- Biết vẽ hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, đường
cao của hình tam giác; biết tính chu vi và diện tích hình bình hành, hình thoi.
22
hăng hái, tích cực hơn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới, cũng như hình
thành thói quen tự học.
Như chúng ta đã biết, các YTHH đều có cơ sở Toán học là những khái
niệm, tính chất, quan hệ hình học trừu tượng. Vì thế chúng ta cần dựa trên những
cơ sở này để tổ chức hoạt động tương thích cho HS thực hiện. Từ đó các em có
thể hình thành các khái niệm toán học mới một cách cụ thể nhờ những hình ảnh
trực quan phù hợp với tư duy của các em. Việc vận dụng biện pháp “Tổ chức các
hoạt động dạy học dựa trên cơ sở toán học của những khái niệm, tính chất, quan
hệ hình học” cũng hết sức cần thiết.
Và một trong những mục tiêu quan trọng của dạy học YTHH là nhằm rèn
luyện cho HS các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tưởng
tượng không gian,…). Để đạt được mục tiêu này chúng ta có thể thông qua việc
tổ chức cho HS thực hiện một số hoạt động như: “Hoạt động mở rộng bài toán”;
“Các hoạt động hình học (cắt, ghép,vẽ hình, phân tích hình…)”;…
Tóm lại, tổ chức dạy học YTHH lớp 4 theo hướng tiếp cận hoạt động là
chúng ta cần dựa vào mục tiêu, nội dung cụ thể của từng bài học để lựa chọn
biện pháp tổ chức các hoạt động học tập cho HS một cách phù hợp. Đó có thể là
các biện pháp dựa trên con đường khảo sát bằng quy nạp, biện pháp hình thành
động cơ cho HS trong hoạt động tìm tòi tri thức, biện pháp mở rộng bài toán,...
nhằm rèn luyện và hình thành cho HS các hoạt động hình học cũng như các thao
tác tư duy toán học.
1.6. Thực trạng dạy học YTHH ở lớp 4 theo hướng tiếp cận hoạt động.
1.6.1. Mục đích khảo sát thực trạng.
Nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức và tổ chức dạy học theo hướng tiếp
cận hoạt động trong dạy học YTHH ở lớp 4.
1.6.2. Đối tượng khảo sát .
Trả lời đúng
Trả lời chưa đúng
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Câu 1
12
37.5
20
62.5
Câu 2
10
31.25
22
8
25.0
c. Không cần thiết
2
6.25
Từ kết quả trên cho thấy đa số GV đánh giá cao việc sử dụng các hình
thức tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận LTHĐ trong dạy học YTHH ở lớp 4.
Có tới gần 69% GV được hỏi cho rằng sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
theo hướng tiếp cận LTHĐ trong dạy học YTHH là rất cần thiết. Và đa số GV
cho rằng việc sử dụng các biện pháp tổ chức dạy học này sẽ phát huy tính tích
cực, chủ động, gây hứng thú học tập ở HS.
Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận LTHĐ
trong dạy học YTHH ở lớp 4
Bảng 1.3: Bảng khảo sát thực trạng GV (Câu 4)
25
(Câu 4: Trong dạy học yếu tố hình học lớp 4 quý Thầy cô có thường sử
dụng các hình thức tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận Lí thuyết hoạt động để
tổ chức hoạt động cho học sinh phát hiện và lĩnh hội tri thức mới ?
a. Thường xuyên
b. Thỉnh thoảng
c. Chưa bao giờ )
Các mức độ
đề (khoảng 30 %) để cung cấp kiến thức mới cho HS mà chưa chú trọng nhiều
đến việc tổ chức, thiết kế bài học thành các hoạt động cụ thể theo mục tiêu bài
dạy để HS tìm kiếm phát hiện tri thức.
Ghi chú: Bảng các câu hỏi khảo sát xem phần phụ lục 1.
1.6.7. Phân tích chung về kết quả khảo sát.
Từ sự phân tích thực trạng trên với các chủ đề: Nhận thức của GV về khái
niệm tiếp cận LTHĐ trong dạy học, vai trò của dạy học theo hướng tiếp cận