Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication
Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
(CMKH – KT) hiện nay. Nú thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu
khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động
chính trị, xã hội khác. Trong giáo dục - đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các
môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn. Hiệu quả rõ rệt là chất lượng giáo
dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành. Vì thế, nú là chủ đề lớn được tổ chức
văn húa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động
trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một
cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”. Như vậy, ICT đã ảnh
hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy
học (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ
có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã có thể thực hiện được các tiêu chí mới:
Học mọi nơi (any where)
Học mọi lúc (any time)
Học suốt đời (life long)
Dạy cho mọi người (any one) và mọi trình độ tiếp thu khác nhau
Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học.
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà
nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ
thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của
Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết
CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào
giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương II khúa VIII, Luật giáo dục
(1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005),
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
Để thể hiện sự quyết tâm tiến hành cuộc cách mạng trong giáo dục trên cả
nước, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã phát động “lấy năm học 2008 – 2009 là năm
Công nghệ thông tin (CNTT). ”
Hải Dương - một tỉnh có truyền thống hiếu học. Trong nhiều năm qua tỉnh
luôn là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục. Hoà
chung với xu thế chung của cả nước, hiện nay Sở Giáo Dục Đào Tạo Hải Dương
đã đầu tư, trang bị cơ sở vật chất và đưa ra nhiều biện pháp tích cực để khuyến
khích việc sử CNTT trong nhà trường. Nhưng vấn đề đặt ra là phải sử dụng sao
cho có hiệu quả cao nhất ?
Là một sinh viên Địa lí sắp ra trường, với những kiến thức học được còn
khiêm tốn tôi xin chọn đề tài:“Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Địa
lí địa phương tỉnh Hải Dương” nhằm nghiên cứu, ứng dụng CNTT vào thiết kế
bài giảng Địa lí địa phương với mong muốn được góp một phần nhỏ trong lỗ lực
thực hiện đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy chương trình Địa lí
địa phương tỉnh Hải Dương, môn Địa lí nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung.
II. MỤC TIấU NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU
1. Mục tiêu.
Đề tài nghiên cứu ứng dụng CNTT vào dạy học theo hướng tích cực nhằm
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập về Địa lí địa phương trong
chương trình Địa lí lớp 9 trung học cơ sở(THCS). Qua đó cung cấp cho
học sinhnhững kiến thức về địa phương, đồng thời giáo dục hình thành cho các em
tình yêu quê hương đất nước, ý thức xây dựng, bảo vệ quê hương nói riêng và đất
nước nói chung.
2. Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục đích đã đề ra, đề tài cần phải:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và những vấn đề thực tiễn của việc ứng dụng
CNTT vào dạy học Địa lí địa phương tỉnh Hải Dương.
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
Bên cạnh đó còn có một số chương trình phần mềm hỗ trợ khác có thể khai
thác và ứng dụng vào dạy học Địa lí ở trường phổ thông. Tuy nhiên việc ứng dụng
CNTT trong nhà trường của nước ta mới chỉ bắt đầu và tập trung ở các trường đại
học, cao đẳng, ở các thành phố. Việc ứng dụng CNTT vào dạy học Địa lí địa
phương ở phổ thông là một vấn đề khá mới cần được xem xét, nghiên cứu.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
1. Phương pháp điều tra, quan sát
Thông qua việc trao đổi, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để tìm hiểu về thái độ của
giáo viên, học sinh để biết thực tế, thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học Địa
lí địa phương nói riêng và môn Địa lí ở tỉnh nói chung.
+ Điều tra giáo viên về việc sử dụng CNTT trong dạy họcĐịa líđịa phương -
Tỉnh Hải Dương (phiếu số 1, phiếu số 2)
+ Điều tra kết quả về việcứng dụng CNTT trong giảng dạyĐịa líđịa phương
qua 2 tiết thực nghiệm.
Xem xét, tìm hiểu các điều kiện cần và đủ cho việc khai thác ứng dụng
CNTT đồng thời rút ra những tác dụng và hạn chế của việc khai thác ứng dụng
CNTT trong dạy học Địa lí địa phương của tỉnh Hải Dương.
2. Phương pháp thu thập tài liệu
Việc thu thập tài liệu nhằm phục vụ mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài. Khi thu thập tài liệu phải chú ý chương trình Địa lí sách giáo khoa hiện hành,
tài liệu hướng dẫn giáo viên Địa lí 9.
Thu thập tài liệu trong giảng dạy Địa lí địa phương là một khâu quan trọng vì
trong thực tế nguồn tài liệu của Địa lí địa phương thường không phong phú, tình hình
kinh tế - xã hội của tỉnh lại có sự biến đổi theo thời gian.
3. Phương pháp phân tích hệ thống
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu về đổi mới phương
pháp, ứng dụng CNTT trong dạy học để thấy rằng đõy là một hướng
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
36’ đến 21
o
33’ vĩ độ Bắc và từ 106
o
30’ đến 106
o
36’ kinh Đông tiếp
giáp với 6 tỉnh.
+ Phía Bắc giáp Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Giang
+ Phía Tây giáp Hưng Yên
+ Phía Nam giáp Thái Bình
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
+ Phía Đông giáp Hải phòng
Hải Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh) có các tuyến đường bộ đường sắt quan trọng của quốc gia
chạy qua như đường 5, 18, 183, ngoài ra còn gần cảng Hải Phòng, Cái Lân và
mạng lưới giao thông đường thuỷ dày đặc. Đây là điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí
để phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh.
2. Sự phân chia hành chính
Tỉnh Hải Dương hiện nay bao gồm thành phố Hải Dương và 11 huyện là Chí
Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ,
Thanh Miện, Ninh Giang với 14 thị trấn, 11 phường và 238 xã.
II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIấN VÀ TÀI NGUYấN THIấN NHIấN
1. Địa hình
Địa hình Hải Dương được chia làm hai phần rõ rệt Địa hình Hải Dương
được chia làm hai phần rõ rệt: Phần đồi núi thấp và phần đồng bằng.
Phần đồi núi thấp có diện tích 140 Km
2
o
C, tổng nhiệt độ cả năm khoảng 8500 – 8600
o
C. Độ ẩm tương đối trung
bình dao động từ 70- 90%. Lượng mưa trung bình năm từ 1100 – 1700 mm, ít hơn
một chút so với các tỉnh khác ở Đồng Bằng sông Hồng. Lượng mưa phân bố không
đều giữa các tháng trong năm và giữa vùng đồi núi thấp với vùng đồng bằng.Bảng 1:Một số yếu tố cơ bản của khí hậu Hải Dương
(Theo số liệu quan trắc tại trạm khí tượng thuỷ văn Hải Dương - 2007)
Tháng
Các yếu tố
I II III IV V VI VII VII
I
IX X XI XII
Cả
năm
- Nhiệt độ
TB (
o
c)
- Độ ẩm (%)
- Lượng
mưa (mm)
16,
5
81
14
7
30
82
202
28,
6
87
219
26,
7
86
22
9
25,
3
81
11
5
20,
3. Thuỷ văn
Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc và trải rộng trên phạm vi toàn tỉnh. Các
dòng chính thuộc hệ thống sông Thái Bình (vùng hạ lưu) có hướng chảy đều là
hướng Tây Bắc – Đông Nam. Dòng chính Thái Bỡnh chảy trong địa phận Hải
Dương dài 63 km và phân thành 3 nhánh: sông Kinh Thầy, sông Gựa và sông Mía.
Nhánh chính Kinh Thầy lại phân thành 3 nhánh khác là Kinh Thầy, Kinh Môn và
sông Rạng. Sông Thái Bình thông với sông Hồng qua sông Đuống và sông Luộc.
Các sông này có đặc điểm là lòng rộng, độ dốc lòng sông nhỏ, có khả năng
bồi đắp phù sa, cung cấp nước cho các cánh đồng và tạo điều kiện tốt cho việc giao
lưu hàng hoá bằng đường thuỷ giữa Hải Dương với các tỉnh khác vùng Đồng bằng
sông Hồng.
Hải Dương còn có diện tích hồ, ao, đầm khá lớn như hồ Bến Tắm (35ha), hồ
Tiên Sơn (50 ha), hồ Bình Giang (45 ha) ở huyện Chí Linh, hồ Bạch Đằng (17ha)
ở thành phố HảiDương, hồ An Dương (10 ha) ở huyện Thanh Miện…Những hồ,
đầm này nước sạch, nguồn thuỷ sản phong phú, cảnh quan xung quanh đẹp, không
chỉ có tác dụng cung cấp nước cho sản xuất và đời sống, nguồn thuỷ sản lớn cho
tỉnh mà còn là những điểm du lịch, vui chơi, giải trí đầy hứa hẹn.
4. Đất đai
a, Các nhóm đất chính
- Nhóm đất phù sa, chiếm 89% diện tích tự nhiên, tập trung ở vùng đồng
bằng. Nhóm đất này thích hợp cho việc trồng nhiều loại cây: cây lương
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
thực, màu, rau, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày. Song diện tích đất
chua, nghèo lân còn khá lớn, nếu được cải tạo và đầu tư tốt sẽ tạo khả năng thâm
canh, tăng năng suất cây trồng. Đáng chú ý là ở phía đông thuộc khu vực Nhị
Chiểu, Thanh Hà còn một phần đất bị ngậpúng vào mùa mưa.
- Nhóm đất đồi núi chiếm 11% diện tích tự nhiên, nằm gọn ở phía đông bắc
thuộc hai huyện Chí Linh và Kinh Môn. Nhóm đất này nhìn chung nghèo dinh
lượng 14 vạn tấn, sột chịu lửa có khoảng 8 triệu tấn. Ngoài ra còn có than nâu ở
Kinh Môn và Chí Linh tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành công
nghiệp vật liệu xây dựng và sành sứ.
III. DÂN CƯ VÀ LAO ĐỘNG
1. Dân số và sự gia tăng dân số
Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2007 là 1. 732. 814 người tăng 31. 614 người,
trung bình mỗi năm tăng gần 4000 người. Hiện nay dân số Hải Dương chiếm
khoảng 2, 02 % dân số của cả nước.
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của Hải Dương trong những năm gần đây có xu
hướng giảm dần, tuy nhiên có sự khác nhau theo thời gian và các vùng.
Bảng 3:Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Hải Dương
(Đơn vị %)
Năm 1997 1999 2001 2003 2005 2007
Toàn tỉnh 1. 3 1. 1 1. 05 1. 04 0. 963 0. 96
Thành thị 1. 1 1 0. 899 1. 065 1. 072 1. 038
Nông thôn 1. 3 1. 52 1. 073 1 0. 988 0. 95
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương)
Mức gia tăng dân số tự nhiên của tỉnh Hải Dương so với trung bình toàn
quốc thì thấp hơn nhưng so với một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng thì vẫn
còn cao (toàn quốc: 1.3%). Trong phạm vi của tỉnh, thành phố Hải Dương có tỉ
suất gia tăng tự nhiên thấp nhất, ngược lại các huyện Chí Linh, Kinh Môn lại có tỉ
suất gia tăng tự nhiên ở mức cao.
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
Nguyễn Trói, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiờu…Truyền thống
lịch sử- văn hoá-kiến trúc - nghệ thuật và thắng cảnh như Côn Sơn - Kiếp
Bạc,động Kính Chủ, An Phụ…
Hải Dương là một trong những trung tâm lớn của thiền phái Trúc Lâm –
đồng, giá trị hàng nhập khẩu là 435 tỉ đồng.
4.3. Bưu chính viễn thông
Hiện nay tỉnh Hải Dương đã hoàn thành và lắp đặt mạng lưới VIBA với tổng
đài vệ tinh ở khắp thành phố các huyện và xã. Năm 2007 mật độ điện thoại của
tỉnh đạt 13, 4 máy/ 100 dân gấp 3 lần năm 2003. Cao nhất là thành phố Hải Dương
với 32, 2 máy / 100 dân, tiếp đó là các huyện Chí Linh, Kinh Môn, NamSách. Đặc
biệt thuê bao Internet tăng nhanh từ 3. 022 thuê bao năm 2006 lên 14. 521 thuê bao
năm 2007.
4. 4 Du lịch
Hải Dương là trung tâm giao lưu văn hoá, kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh. Hải Dương có nhiều di sản văn hoá. Di tích lịch sử lâu đời, đây còn
lưu giữ được hàng ngàn bia đá khắc văn bản Hán – Nôm là những tài liệu lịch sử
quý hiếm. Ở đây còn có hàng trăm di tíchlịch sử được nhà nước xếp hạng
như:Quần thể du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc, khu du lịch Kính Chủ - An Phụ…Hải
Dương còn gắn với tên tuổi của nhiều vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo,
Nguyễn Trói và đại y Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trỏc…Ngoài ra còn phải kể đến các lễ hội
truyền thống, các đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước của Hải Dương. Đây là lợi
thế quan trọng tạo tiền đề cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch. Phục vụ cho
khách tham quan, các điểm du lịch còn có mạng lưới giao thông đường bô, đường
thuỷ khá thuận lợi và hệ thống khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu cùng các hoạt động
dịch vụ khác.
Tính đến năm 2007 số đơn vị kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực du lịch,
dịch vụ là 7. 995 cơ sở tăng hơn 7 lần so với năm 2000. Doanh thu năm 2007 đạt
388. 360 triệu đồng gấp 6, 4 lần năm 1999 và chiếm 5, 6 % trong GDP của khu vực
dịch vụ.
Nhìn chung ngành dịch vụ, du lịch của Hải Dương chưa phát triển tương sứng
với tiềm năng, chưa thu hút được đông đảo du khách du lịch, doanh thu cũnhạn chế,
đóng góp của ngành vào GDP của tỉnh còn thấp. Vấn đề đặt ra là
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
- Sử dụng các phương pháp tích cực: phương phápđàn thoại gợi mở, nêu
và giảiquyết vấnđề… kết hợp với các hoạtđộng nhúm (nhúm nhỏ, theo bàn, theo
cặp)
- Phương pháp khai thác tri thức từ bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, tài liệu
IV. TIẾN TRèNH DẠY HỌC TRấN LỚP
1. Ổn định và kiểm tra bài cũ (5 phút)
2. Mở bài (định hướng và gợi động cơ – 3 phút)
Để thu hút học sinh vào bài học, giáo viên (GV) giới thiệu với học sinh (HS)
một số hình ảnh nổi tiếng, đặc trưng của Hải Dương và hỏi: = > HS: Trả lời
=> GV: Nhận xét câu trả lời của học sinh và nói: Hải Dương có rất nhiều sản
phẩm, đặc sản nổi tiếng khắp trong và ngoài nước đặc biệt là Vải Thiều
(Thanh Hà) – mang hương vị riêng không nơi nào có được. Bài hôm nay chúng ta
sẽ tìm hiểu về vị trí địa lí – lãnh thổ và điều kiện tự nhiên đồng thời đánh giá ý
nghĩa của tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương. (GV trình
diễn slide 2).
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
GV: Cho học sinh quan
sát một sốhìnhảnh về các ngành kinh
tế của tỉnh.
trường, phần lớn giáo viên Địa lí cũng như các giáo viên khác trong tổ chuyên môn
đến dự giờ đều đánh giá cao vai trò của công nghệ thông tin.
Đối với học sinh ở lớp thực nghiệm, khi tiến hànhứng dụng CNTT trong
giảng dạy, do mớiđược làm quen nên bỡ ngỡ nhưng rất tò mò, hứng thú trong
họctập. Nhất là trong tiết thực hành, đa sốhọc sinh hứng thú với việc
vẽ biểuđồ, đõy làcông việc mà học sinh vốn rất lười làm.
Có thể nói kết quả thực nghiệmđãđánh giáđúng tớnh hiệu quả của việcứngdụ
ng CNTT trong giảng dạyĐịa líđịa phương tỉnh Hải Dương ở lớp 9A. So vớilớp 9B
(lớpđối chứng), tỉ lệ học sinhđạtđiểm khá, giỏi lớp 9A cao hơn lớp 9B,
ngược lại tỉ lệ học sinh trung bình, yếu thấp hơn nhiều.
Tuy nhiên, trong quá trình thực nghiệm vẫn cũn môt số hạn chế,
cụ thể là:trong bài 41 - Vị tríđịa lí, phạm vi lónh thổ vàđiều kiện tự nhiên do chưa
quen vớicách học mới nên một số học sinh không ghi bài,
chỉ chúýđến các hìnhảnh, hiệuứng…Nhưng hạn chếđóđã dầnđược khắc phục trong
tiết dạy thực hành.
Qua đõy tôi thấyứng dụng CNTT vào dạy họcĐịa líđịa phương Hải Dương
nói riêng, Địa líđịa phương các tỉnh nói chung là rất cần thiết.
Với việcáp dụngCNTT trong dạy học sẽ làm thay đổi quan niệm của giáo viên,
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
- Khi thiết kế giáo án phải sử dụng các hiệu ứng, phông, nền, kiểu chữ đơn
giản, tránh cầu kỳ, nhiều hoạ tiết.
- Khi ứng dụng CNTT giáo viên không nên coi đó là phương tiện chỉ để cung
cấp, bổ sung thêm hình ảnh, bản đồ, video mà phải biết phối hợp với cử chỉ, lời nói
và kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực để đạt kết quả cao.
- Khi soạn giáo án điện tử phải chắt lọc những kiến thức cơ bản nhất, không
nên đưa quá nhiều kênh chữ, đặc biệt khi trình chiếu không nên lướt quá nhanh.
Giáo viên có thể kết hợp ghi lên bảng dàn ý của bài và nội dung trọng tâm để học
sinh dễ khắc sâu nội dung bài học hơn.
dựng tàiliệu vềĐịa líđịa phương
tỉnh Hải Dương, đề tàiđãáp dụng CNTT để thiết kế giáoánđiện tử.
Qua quá trình nghiên cứu, những nhiệm vụ của đề tài đã thực hiện được là:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việcứng dụng CNTT vào dạyhọc
Địa líđịa phương trong chương V - Địa líđịa phương tỉnh, thành phố,
chương trìnhĐịa lí lớp 9 Trung học cơ sở.
- khai thác khả năng của máy vi
tớnh và các phần mềmứng dụnglàmphương tiện thiết kế bài giảng, xõy
dựng bảnđồ giáo khoa (bảnđồ hành chớnh), khai thác bảnđồ trên Internet,
vẽ biểu đồ, thu thập hìnhảnh về tự nhiên, văn hoá, con người Hải Dương.
- Sử dụng phần mềmpowerpointđể thiết kế hai bài giảngĐịa líđịa phương
tỉnh Hải Dương.
- Tổ chứcthựcnghiệm tại hai lớp bằng phương pháp dạy học tích cực
với sựhỗ trợ của máy tớnh, máy chiếu Projector,
bướcđầuđãđạtđược hiệu quả, khả quan về nhiều mặt. Qua đó thấyđược vai
trò và chức năng của CNTTtrong giảngdạyĐịa líđịa phương nói riêng
vàĐịa lí cũng như các môn học khác nói chung theo phương
pháp dạy học học tích cực.
Bên cạnh những kết quảđạtđược, khi
thực hiệnđề tài cũng có một số khókhăn: việcứng dụng CNTT
vào dạy họcĐịa líđịa phương phụ thuộc nhiều
Lớp: K55A – Khoa Địa lý Trường ĐHSP Hà
Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà
vào cơ sở vật chất của trường, khả năng sử dụng máy vi tớnh của giáo viên. Bên
cạnhđó học sinh chưa quen với cách học trên nên mớiđầu giáo viên
phải mất nhiềuthời gian cho công tác hướng dẫn, chia nhúm, giao nhiệm vụ cho
học sinh. Ngoàira, các phần mềm có thể khai thác và tài liệu tham
khảođể giảng dạyĐịa líđịaphương không nhiều… nên việc thiết kế giáoánđiện
tử vềĐịa líđịa phương tỉnhHải Dương cũnđơn giản, thiếu sót chưa đápứngđược yêu
3. Nguyễn Dược - Phần mềm PC Fact với giảng dạy Địa lí.
Nhà xuất bản Giáo dục – 1998.
4. Địa lí tỉnh Hải Dương – 2000: Sở Giáo dục và Đào Tạo
tỉnh Hải Dương.
5. Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương - Cục thống kê tỉnh
Hải Dương. Nhà xuất bản thống kê Hà Nội – 2007.
6. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008.
7. Lê Thông - Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam. Nhà
xuất bản giáo dục- 2004.
8. Lê Huỳnh, Nguyễn Minh Tuệ - Giáo trình nghiên cứu Địa
lí địa phương. Nhà xuất bản Giáo dục – 1995.
9. Nguyễn Minh Tuệ, Phạm Tế Xuyên - Địa lí địa phương
trong nhà trường phổ thông – tài liệu bồi dưỡng giáo viên.
Bộ giáo dục và Đào tạo - Vụ giáo viên, 1994.
10. Nguyễn Viết Thịnh, Nguyễn Tường Huy – Modul:Trình
bày trực quan các kết quả nghiên cứu bài giảng Địa lí
bằng Power Point (Đề tài QS – 98 – 07), Hà Nội – 2000.
11. Đặng Minh Hoàng - Sử dụng PowerPoint. Nhà xuất bản
Thống Kê – 2002.
12. Nguyễn Viết Thịnh, Phạm Kim Chung, Đỗ Thị Minh Đức,
Nguyễn Tường Huy:Windows Ms Office Internet dùng
trong giảng dạy và nghiên cứu Địa lí– NXB Đại học sư
phạm – 2005.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Hà