1
Chuyên đề 1.
TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CẤP XÃ
I. QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
1. Khái niệm về hệ thống chính trị
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của chủ thể cầm quyền được thực
hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ thống chính
trị. Hệ thống chính trị là tổng thể các cơ quan, tổ chức nhà nước, đảng phái, đoàn thể
xã hội, nói chung là các lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa các lực lượng đó,
chi phối sự tồn tại và phát triển đời sống chính trị của một quốc gia, thể hiện bản chất
của chế độ chính trị của quốc gia, con đường phát triển của xã hội.
Cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các tổ chức và các quan
hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp độ nhìn theo hai
chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống.
Có các cấp độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể)
qui định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trên với cấp dưới
trong phạm vi một tổ chức với sự tác động của bộ máy tương ứng với từng cấp. Hệ
thống chính trị được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có các cấp độ này, biểu
hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương và cơ sở.
Giữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ thống và
trong từng cấp độ. Cụ thể, ở cấp trung ương là quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể. Ở cấp tỉnh là quan hệ giữa Đảng bộ cấp tỉnh
với chính quyền cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc với các đoàn thể cấp tỉnh. Ở cấp cơ sở
xã, phường, thị trấn là quan hệ giữa Đảng bộ cấp xã với chính quyền và Mặt trận Tổ
quốc cùng các đoàn thể trong xã, phường, thị trấn.
Ở đây ta đang xem xét khái niệm cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở trên quan
điểm xã hội học chính trị và quản lý xã hội. Đây là những khái niệm xuất phát,
những khái niệm công cụ để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cải cách hệ
thống chính trị, đặc biệt là hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta hiện nay. Cơ sở được
nhằm thực hiện và đảm bảo cho sự ủy quyền đó phải được bắt đầu từ xã mà nhân dân
là chủ thể. Bao nhiêu quyền hành đều là của dân, bao nhiêu lợi ích cũng thuộc về
dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Dân có quyền làm chủ, đồng thời có
nghĩa vụ của người chủ. Do ở xã - phường - thị trấn là nơi làm việc và sinh hoạt hàng
ngày của dân chúng, là nơi thể chế được dân trực tiếp tổ chức nên và dân thường
xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với những người đại diện cho
mình, đồng thời dân cũng có điều kiện biết rõ sự hoạt động của thể chế, của con
người và tổ chức bộ máy, mặt hay cũng như mặt dở, mặt tốt cũng như mặt xấu với
những khuyết tật của nó…nên quan hệ và thái độ của dân đối với thể chế ở xã cho
thấy rõ nhất hiện trạng của thể chế nói chung. Động lực, nội lực của sự phát triển hay
vật cản kìm hãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy rõ nhất ngay ở xã - phường -
thị trấn. Những yếu kém diễn ra trong thể chế ở xã làm tổn hại đến uy tín và ảnh
hưởng xã hội của thể chế nói chung. Những phản ứng, bất bình của dân đối với cán
bộ xã là khởi đầu cho những mất ổn định, thậm chí trở thành tình huống, thành điểm
nóng gây hại tới sự bình yên của chế độ. Do vậy, mấu chốt của xã - phường - thị trấn
là chất lượng cán bộ, công chức, là hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sao cho
giữ được dân, làm cho dân yên ổn, phấn khởi làm ăn, sinh sống, liên kết cộng đồng,
quan tâm và bảo vệ thể chế, phát triển xã hội, phát triển sức dân.
- Xã - phường - thị trấn là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từ vĩ mô
phải tác động tới. Xã - phường - thị trấn là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi
quyết định, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
phải tìm đến. Đường lối, nghị quyết có đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có
được tổ chức hành động trong phong trào rộng khắp để biến khả năng thành hiện
thực hay không; đường lối, chính sách có tác dụng, hiệu quả đến đâu, đúng sai ra sao
3
được chứng thực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành động thực tế của
dân chúng. Vì vậy, xã - phường - thị trấn tuy là cấp thấp nhất trong hệ thống quản lý
nhưng có tầm quan trọng đặc biệt, là vấn đề sống còn, thành bại của chế độ. Xã -
phường - thị trấn là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống
xã hội.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã - phường - thị trấn có vai trò hạt nhân trong lãnh đạo
chính trị, lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối, chính sách của
Đảng được cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi. Tổ chức đảng ở xã - phường - thị
trấn có vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt hoạt động trong xã - phường - thị trấn, lãnh
đạo chính quyền và các đoàn thể quần chúng.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã - phường - thị trấn là nơi giáo dục, rèn luyện đảng
viên và phát triển Đảng. Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, rèn
4
luyện ý chí, trau dồi quan điểm, lập trường cách mạng cho đảng viên, động viên đảng
viên tham gia các phong trào giữ gìn an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương; là nơi vận động và bồi dưỡng những người ưu tú, xuất sắc trong phong trào
quần chúng, kết nạp họ vào Đảng nhằm xây dựng, phát triển, tăng cường số lượng và
sức chiến đấu của Đảng.
Tổ chức cơ sở đảng ở xã - phường - thị trấn là đơn vị chiến đấu cơ bản của
Đảng và là chỗ dựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở. Bằng việc đưa
đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống ở xã, tổ chức quần chúng thực hiện
thắng lợi đường lối chủ trương, của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước;
phát triển lực lượng đảng viên mới trong quần chúng, các tổ chức Đảng ở xã thực sự
là “một đơn vị chiến đấu cơ bản” của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính
trị và là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân ở cơ sở.
* Chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấn (chính quyền cấp xã)
Theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi)
- Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc
trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành
vụ của công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đoàn thể
nhân dân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng
tham gia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát
triển kinh tế - xã hội ở cơ sở.
* Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị xã, phường, thị
trấn
Như trên đã nói, hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm ba bộ phận cấu thành:
Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân; mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức
năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống thống nhất.
Tính hệ thống của hệ thống chính trị cơ sở hiện nay thể hiện trên các mặt cụ
thể có tính nguyên tắc sau:
- Các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở cùng tồn tại và hoạt
động trên cùng một địa bàn lãnh thổ - dân cư, đó là đơn vị hành chính cấp xã.
- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của tổ
chức cơ sở Đảng về những nội dung cơ bản như đường lối, chủ trương, phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội và công tác tổ chức, cán bộ.
- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất tiến hành các mặt hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và sự quản lý, điều hành của chính quyền
địa phương theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ,
nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
- Tuy có chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức và phương thức hoạt động khác
nhau, các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất cùng hướng tới các mục tiêu
chung là phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân địa phương, tất cả vì mục tiêu chung của xã hội là thực hiện “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”.
Trong sự thống nhất của hệ thống chính trị, Đảng là bộ phận hạt nhân, giữ vai
trò lãnh đạo của hệ thống; chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản lý, điều
hành và các đoàn thể nhân dân là tổ chức đại diện quyền làm chủ của các tầng lớp
nhân dân. Tổ chức đảng cơ sở vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo
chính quyền và là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cơ sở. Chính quyền cơ sở
chính trị, là cơ sở của thể chế nhà nước, của chế độ chính trị ở xã. Nó khác biệt với
các loại hình cơ sở khác thuộc các lĩnh vực khác gắn với ngành nghề với những tổ
chức tương ứng của nó: doanh nghiệp, công ty, bệnh viện, trường học, công sở,
nhóm xã hội hay từng tế bào của xã hội là gia đình. Ở xã, phường, thị trấn là nơi nảy
sinh từ thực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết để khái quát thành lý luận, để
điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách do thường xuyên phải giải
quyết những tình huống của cuộc sống đặt ra. Đổi mới đã manh nha, nảy mầm từ
những nhu cầu bức xúc ở xã, phường, thị trấn, và từ xã, phường, thị trấn đã nhanh
chóng nhập cuộc với đổi mới, hành động theo đường lối đổi mới của Đảng, bởi đổi
mới là hợp với qui luật phát triển và thuận với lòng dân.
- Quản lý và tự quản. Một vấn đề nổi bật ở xã, phường, thị trấn cả về vai trò,
đặc điểm và tính chất của nó là trên địa bàn xã, phường, thị trấn không chỉ diễn ra
hoạt động quản lý mà đồng thời còn có cả hoạt động tự quản của dân, tự quản của
từng hộ gia đình, của các đoàn thể tự nguyện đến cả cộng đồng, tập trung tiêu biểu
nhất là ở thôn, làng, tổ dân phố, ấp, bản, với vai trò của trưởng thôn, trưởng bản, tổ
trưởng tổ dân phố do dân bầu trực tiếp. Tự quản là nét đặc thù ở xã, phường, thị trấn.
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải phát huy được sức mạnh,
7
năng lực tự quản này của dân để qua đó dân tham gia trực tiếp vào việc kiểm tra,
giám sát chính quyền, tham gia quản lý, xây dựng và phát triển cuộc sống cộng đồng.
Đổi mới hệ thống chính trị vừa là vấn đề khoa học sâu sắc vừa là vấn đề chính
trị thực tiễn nhạy cảm nhất trong đời sống cộng đồng, dân tộc. Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính
trị”. Cụ thể trong công cuộc đổi mới hiện nay có đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị -
xã hội, đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
1. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, các phương pháp
8
vị trí lãnh đạo. Nghiên cứu và xây dựng phương thức lãnh đạo không chỉ là cải tiến
lề lối làm việc đơn thuần mà phải có cơ sở lý luận và thực tiễn về Đảng cầm quyền.
Cùng với việc xây dựng kiện toàn tổ chức, phương thức lãnh đạo phải trở thành nội
dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng.
- Một phương thức lãnh đạo đúng đắn bao giờ cũng vừa bảo đảm thực hiện
đúng định hướng chính trị, vừa phát huy được tính chủ động, tinh thần nhiệt tình,
sáng tạo và nhân lên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhân dân,
nhằm thực hiện đạt hiệu quả cao nhất mục tiêu đề ra.
2. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Cái đích quan trọng nhất của đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là nâng cao hiệu lực quản lý bằng cách
thực hiện nghiêm chỉnh đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo
điều kiện thuận lợi cho các hộ dân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật và nâng
cao đời sống, tổ chức và quản lý tốt các mặt trật tự, an ninh ở địa bàn, thực hiện Pháp
lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Bằng cách đó, xây dựng chính quyền
cơ sở thành một chính quyền được lòng dân, được dân tin tưởng và ủng hộ. Như vậy
cần phải chú ý tới những biện pháp đổi mới nào để nâng cao hiệu lực và uy tín của
chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và hỗ trợ hoạt động
của dân ở cơ sở ?
Trước hết, chính quyền cơ sở phải thể hiện, cụ thể hóa phương hướng, chủ
trương, nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở trong công tác quản lý của chính quyền
với tinh thần chủ động và sáng tạo, đề cao tinh thần phụ trách và chịu trách nhiệm về
những nhiệm vụ được giao.
Cán bộ, công chức chính quyền phải nắm vững và am hiểu chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải quyết cho đúng, không tùy tiện,
tắc trách. Quan hệ của người dân với chính quyền (giữa công dân với nhà nước) là
một trong những mối quan hệ cơ bản của quản lý dựa trên pháp luật qui định. Để
nâng cao hiệu lực quản lý và tạo điều kiện cho các công dân thực hiện đúng những
chính - ngân sách vốn liên quan mật thiết tới cuộc sống của dân và được dân rất
quan tâm.
Phải đặc biệt đề cao vai trò và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, của đại
biểu Hội đồng nhân dân, tăng cường những tiếp xúc giữa đại biểu với cử tri, mở rộng
môi trường hoạt động của các đại biểu, để họ kiêm nhiệm thêm các công tác xã hội
tại cơ sở, cùng tham gia vào các hoạt động tự quản với dân.
Đối với Ủy ban nhân dân xã vừa là cơ quan chấp hành vừa là cơ quan hành
chính của dân ở cơ sở, là nơi thực hiện chức năng hành pháp ở cơ sở, cần hết sức chú
trọng tới năng lực của cán bộ, trước hết là năng lực tổ chức, điều hành của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân, quan hệ giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân với Chủ tịch Hội đồng
nhân dân và Bí thư Đảng ủy cơ sở. Cũng như vậy phải có sự phân công rành mạch
giữa Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và cần tăng cường chức trách của Ủy viên Ủy ban nhân
dân xã.
Chính quyền cơ sở là bộ phận then chốt và là một khâu đặc biệt quan trọng của
hệ thống chính trị ở cơ sở. Không có một chính quyền cơ sở thực sự vững mạnh thì
việc thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân như Pháp lệnh dân
chủ ở cơ sở đã được Đảng và Nhà nước ban hành sẽ vấp phải những khó khăn trở
ngại lớn. Những giải pháp, biện pháp nêu trên chính là nhằm vào đổi mới và nâng
cao hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở, nhất là chính quyền xã, coi đó là khâu
đột phá của đổi mới.
3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội
Muốn phát huy vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, phải đổi
mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể ở xã cho phù hợp với tình
hình thực tế của xã hội, của địa phương và ý nguyện của người dân. Cần chú trọng
thúc đẩy sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để đẩy mạnh việc thực
hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Có thể coi đây là trọng điểm
10
công tác của các đoàn thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên
trong tổ chức của mình. Công tác đoàn thể nhiệt tình, tận tụy, gắn bó với phong trào,
11
Chuyên đề 2.
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
I. CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Hiến pháp 2013 (sửa đổi) quy định:
1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc
trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành
phường và xã; quận chia thành phường.
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
2. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính
phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định.
3. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính -
kinh tế đặc biệt do luật định.
5. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp
luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm
tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
6. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở
chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền
kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến
nghị của đại biểu.
14. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình
của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe
ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế -
xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân động viên Nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh ở địa phương.
15. Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và
được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên
quan.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HĐND CẤP XÃ (Theo quy định tại
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003)
1. Chức năng
a. Chức năng quyết định
Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng
để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế
- xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả
nước.
Thực hiện chức năng năng quyết định, HĐND cấp xã được quyền ban hành
các nghị quyết nhằm để quản lý các mặt đời sống ở địa phương.
b. Hoạt động giám sát của HĐND cấp xã
Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND cấp xã; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của
HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.
trường mầm non; thực hiện bổ túc văn hoá và xoá mù chữ cho những người trong
độ tuổi;
- Quyết định biện pháp giáo dục, chăm sóc thanh niên, thiếu niên, nhi đồng;
xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyền thống đạo đức tốt
đẹp; giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngăn chặn việc truyền bá văn hoá
phẩm phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục, phòng, chống các tệ nạn xã hội ở
địa phương;
- Quyết định biện pháp phát triển hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể
thao; hướng dẫn tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
- Quyết định việc xây dựng, tu sửa trường lớp, công trình văn hoá thuộc địa
phương quản lý;
14
- Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh, xử lý rác thải, phòng, chống
dịch bệnh, biện pháp bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý; biện pháp thực hiện
chương trình y tế cơ sở, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình;
- Quyết định biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh
binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, thực hiện công tác
cứu trợ xã hội và vận động nhân dân giúp đỡ gia đình khó khăn, người già, người tàn
tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; biện pháp thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
c. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Hội đồng
nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự; xây dựng
lực lượng dân quân, tự vệ và quốc phòng toàn dân; thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại
chỗ; thực hiện chính sách hậu phương quân đội và chính sách đối với các lực lượng
vũ trang nhân dân ở địa phương;
- Quyết định biện pháp bảo đảm giữ gìn an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã
hội; phòng, chống cháy, nổ; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi
phạm pháp luật khác trên địa bàn.
ở địa phương để đề nghị cấp trên xem xét, quyết định.
h. Hội đồng nhân dân phường thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn quy định
trên và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quyết định biện pháp thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
và quy hoạch đô thị; thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng; bảo đảm trật tự giao
thông đô thị, trật tự xây dựng trên địa bàn phường;
- Quyết định biện pháp xây dựng nếp sống văn minh đô thị; biện pháp phòng,
chống cháy, nổ, giữ gìn vệ sinh; bảo vệ môi trường, trật tự công cộng và cảnh quan đô
thị trong phạm vi quản lý;
- Quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống nhân dân trên địa bàn
phường.
3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
a. Cơ cấu tổ chức
* Thường trực Hội đồng nhân dân
- Hội đồng nhân dân cấp xã có Thường trực Hội đồng nhân dân do Hội đồng
nhân dân cùng cấp bầu ra.
- Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân. Thành viên Thường trực Hội đồng nhân dân không thể đồng thời là
thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
- Kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã phải được
thường trực HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn (ở Hải Phòng, do thực hiện thí điểm
không tổ chức Hội đồng nhân dân nên việc phê chuẩn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện trực tiếp phê chuẩn).
* Đại biểu Hội đồng nhân dân
- Vị trí pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của
nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước;
tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách pháp luật và tham gia vào việc
quản lý nhà nước.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri địa phương bầu ra theo quy định của
trung ương tới cơ sở.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn
2.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND xã, thị trấn
a. Trong lĩnh vực kinh tế, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân
dân cùng cấp thông qua để trình Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt; tổ chức thực hiện kế
hoạch đó;
- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa
phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân
sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài
chính cấp trên trực tiếp;
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà nước
cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và báo cáo về
ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu
công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao
thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;
17
- Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý
các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng
đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
b. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ
công nghiệp, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
- Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến
khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và
18
- Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao; tổ
chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hoá và
danh lam thắng cảnh ở địa phương theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ,
những người và gia đình có công với nước theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo; vận động nhân dân giúp đỡ các gia
đình khó khăn, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; tổ chức
các hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng chính sách ở địa phương theo quy
định của pháp luật;
- Quản lý, bảo vệ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ; quy hoạch, quản lý nghĩa địa ở địa
phương.
đ. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi hành
pháp luật ở địa phương, Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục xây dựng quốc phòng toàn dân, xây dựng làng
xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ địa phương;
- Thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự và tuyển quân theo kế hoạch; đăng ký,
quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử
dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng
phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng
ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương;
- Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người
nước ngoài ở địa phương.
e. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban
nhân dân xã, thị trấn có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính
sách dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa
cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và báo cáo về
ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu
công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao
thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;
- Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý
các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng
đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
b. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu thủ
công nghiệp, Uỷ ban nhân dân phường thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
- Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến
khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và
hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo
quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;
- Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo vệ
đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn
kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;
- Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền thống ở
địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành,
nghề mới.
c. Trong lĩnh lực xây dựng, giao thông vận tải, Uỷ ban nhân dân phường
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư
nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và
xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;
20
- Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và
quản lý quân nhân dự bị động viên; tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, sử
dụng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng
phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc vững mạnh; thực hiện biện pháp phòng
ngừa và chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương;
- Quản lý hộ khẩu; tổ chức việc đăng ký tạm trú, quản lý việc đi lại của người
nước ngoài ở địa phương.
e. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, Uỷ ban
nhân dân phường có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn và bảo đảm thực hiện chính sách
21
dân tộc, chính sách tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa
phương theo quy định của pháp luật.
f. Trong việc thi hành pháp luật, Uỷ ban nhân dân phường thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp luật và
tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo
thẩm quyền;
- Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành
án theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các quyết định về xử lý vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật.
g. Uỷ ban nhân dân phường thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn quy trên
và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức thực hiện thống nhất kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch
đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, phòng, chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật
tự vệ sinh, sạch đẹp khu phố, lòng đường, lề đường, trật tự công cộng và cảnh quan đô
thị;
- Thanh tra việc sử dụng đất đai của tổ chức, cá nhân trên địa bàn phường theo
chức HĐND huyện, quận, phường, do vậy:
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân phường do Chủ tịch
UBND quận bổ nhiệm.
- Kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn do Chủ tịch Ủy
ban nhân dân huyện phê chuẩn.
IV. THÔN, TỔ DÂN PHỐ
1. Thôn, tổ dân phố
- Thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, (gọi chung là thôn); thôn được
tổ chức ở xã; dưới xã là thôn.
- Tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu, (gọi chung là tổ dân phố);
tổ dân phố được tổ chức ở phường, thị trấn; dưới phường, thị trấn là tổ dân phố.
- Thôn, tổ dân phố không phải là một cấp hành chính mà là tổ chức tự quản
của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực ở một xã, phường,
thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã); nơi thực hiện dân chủ trực
tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản, tổ chức nhân dân thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm
vụ cấp trên giao.
2. Tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
a) Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
- Thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền cấp xã.
Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ pháp luật, dân chủ, công khai, minh
bạch; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền cấp xã và sự
hướng dẫn, triển khai công tác của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
cấp xã.
- Không chia tách các thôn, tổ dân phố đang hoạt động ổn định để thành lập
thôn mới, tổ dân phố mới.
- Khuyến khích việc sáp nhập thôn, tổ dân phố để thành lập thôn mới, tổ dân
phố mới nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền
cấp xã và nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của thôn, tổ dân
phố.
sinh môi trường; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp ở địa phương; xây
dựng, giữ vững và phát huy danh hiệu “Thôn văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”;
phòng chống các tệ nạn xã hội và xóa bỏ hủ tục lạc hậu.
- Thực hiện dân chủ ở cơ sở; xây dựng và thực hiện quy chế, hương ước, quy
ước của thôn, tổ dân phố; tích cực tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào, các cuộc vận động do các tổ
chức chính trị - xã hội phát động.
- Thực hiện sự lãnh đạo của chi bộ thôn, tổ dân phố hoặc Đảng ủy cấp xã hay
chi bộ sinh hoạt ghép (nơi chưa có chi bộ thôn, chi bộ tổ dân phố), củng cố và duy trì
hoạt động có hiệu quả của các tổ chức tự quản khác của thôn, tổ dân phố theo quy
định của pháp luật.
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và Phó
Trưởng thôn, Tổ phó tổ dân phố. Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân,
Ban giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn.
- Các nội dung hoạt động của thôn, tổ dân phố theo quy định trên được thực
hiện thông qua hội nghị của thôn, tổ dân phố.
d) Hội nghị của thôn, tổ dân phố
- Hội nghị thôn, tổ dân phố được tổ chức mỗi năm 2 lần (thời gian vào giữa
năm và cuối năm); khi cần có thể họp bất thường. Thành phần hội nghị là toàn thể cử
tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố. Hội nghị do Trưởng thôn,
Tổ trưởng tổ dân phố triệu tập và chủ trì. Hội nghị được tiến hành khi có trên 50% số
cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố tham dự.
- Việc tổ chức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp
có thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 3,
24
Điều 4 và Điều 5 của Hướng dẫn ban hành kèm theo Nghị quyết liên tịch số
09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ và
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
lập thôn mới, tổ dân phố mới; tổng hợp các ý kiến và lập thành biên bản lấy ý kiến về
Đề án.
- Đề án thành lập thôn mới, tổ dân phố mới nếu được trên 50% số cử tri hoặc
cử tri đại diện hộ gia đình trong khu vực thành lập thôn mới, tổ dân phố mới tán
thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã hoàn chỉnh hồ sơ (kèm theo biên bản lấy ý kiến)
trình Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua tại kỳ họp gần nhất. Trong thời hạn mười
25
ngày làm việc kể từ ngày có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân
dân cấp xã hoàn chỉnh hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.
- Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ do
Ủy ban nhân dân cấp xã chuyển đến, Ủy ban nhân dân cấp huyện có Tờ trình (kèm
hồ sơ thành lập thôn mới, tổ dân phố mới của Ủy ban nhân dân cấp xã) gửi Sở Nội
vụ để thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thời hạn thẩm định của Sở Nội vụ
không quá mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận được Tờ trình và hồ sơ của Ủy
ban nhân dân cấp huyện.
- Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm:
+ Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp huyện (kèm theo Tờ trình và hồ sơ thành
lập thôn mới, tổ dân phố mới của Ủy ban nhân dân cấp xã trình Ủy ban nhân dân cấp
huyện);
+ Văn bản thẩm định của Sở Nội vụ.
- Căn cứ vào hồ sơ trình của Ủy ban nhân dân cấp huyện và kết quả thẩm định
của Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét
ban hành Nghị quyết thành lập thôn mới, tổ dân phố mới. Sau khi có Nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Quyết định
thành lập thôn mới, tổ dân phố mới.
f) Quy trình và hồ sơ ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có
- Đối với trường hợp ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có: Sau khi
có quyết định về chủ trương của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp
xã xây dựng Đề án ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có. Nội dung chủ yếu