Thị trường vàng trang sức tại Hà Nội và xu hướng phát triển - Pdf 24

MỤC LỤC
Lời mở đầu............................................................................................................................3
1. Nguồn cung của thị trường vàng trang sức .................................................................4
1.1 Tình hình cung trong thị trường vàng trang sức ............................................................4
1.1.1 Tình hình chung ngành kinh doanh vàng ở Việt Nam ................................................4
1.1.2 Tình hình cung tại thị trường Hà Nội..........................................................................8
1.2 Các dịch vụ cung cấp tại thị trường vàng.....................................................................11
1.3 Sản phẩm, giá cả, chất lượng, quảng cáo truyền thông................................................12
1.3.1 Sản phẩm.....................................................................................................................13
1.3.2 Giá cả..........................................................................................................................14
1.3.3 Chất lượng..................................................................................................................16
1.3.4 Quảng cáo, truyền thông............................................................................................16
2. Nhu cầu tiêu dùng vàng trang sức ..............................................................................19
2.1 Thói quen tiêu dùng vàng trang sức của người Hà Nội ...............................................19
2.2 Cách tiêu dùng theo từng cách phân loại thị trường.....................................................21
2.2.1 Theo độ và nghề nghiệp..............................................................................................21
2.2.2 Theo thu nhập.............................................................................................................24
2.2.3 Các yếu tố khác..........................................................................................................25
3. Xu hướng phát triển của thị trường vàng trang sức ................................................27
Kết luận...............................................................................................................................30
Tài liệu tham khảo.............................................................................................................31
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất, nhu cầu làm đẹp dần trở thành
một nhu cầu không thể thiếu của con người. Từ thời nguyên thuỷ, con người đã biết sử
dụng các loại đá xâu chuỗi lại với nhau và đeo lên người làm đồ trang sức. Càng ngày
người ta càng phát hiện ra nhiều loại nguyên liệu có thể dùng để tạo ra đồ trang sức cho
mình. Trang sức vàng được phát hiện và trở thành biểu tượng cho sự giầu có và "đẳng
cấp" của những người sử dụng nó. Trước đây, chỉ có vua chúa, quan tướng, hoàng hậu,
công nương..., những người thuộc tầng lớp quí tộc mới đeo trang sức bằng vàng.
Ngày nay, vàng trang sức đã trở nên phổ biến, bất kì ai có nhu cầu và đủ khả
năng tài chính cũng có thể sử dụng. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhu cầu này

vòng 15 năm qua, thị trường vàng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của Bảo Tín Minh
Châu, SJC.., sự xuất hiện của Công ty vàng bạc đá quý Phú Quý, Bảo Tín Thanh Vân..,
và sự ra đi của một số thương hiệu lớn như Kim Quy...
Trong mấy năm gần đây, thị trường vàng trang sức Việt Nam có nhiều tiến
bộ với việc giành được một số giải thưởng của Hiệp Hội vàng Thế giới về thiết kế và chế
tác các mẫu sản phẩm trang sức (Bộ “Lạc Việt” của công ty SJC và bộ “Chất sống” của
PNJ). Tuy đây chỉ là những sáng tác ban đầu thể hiện khả năng sáng tạo của các nghệ
nhân Việt Nam trong thiết kế tạo mẫu trang sức dành cho nhóm khách hàng tiêu dùng bậc
cao trên thị trường; nhưng những kết quả đó là sự đánh giá, chứng nhận cho tiềm năng
phát triển của ngành vàng trang sức Việt Nam. Năm 2003, cả nước có hơn 7000 doanh
nghiệp kinh doanh vàng lớn nhỏ - phần lớn tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong
đó có 10 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2004, Việt Nam là nước tiêu
dùng vàng lớn thứ 4 châu Á (sau Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ) - theo thống kê của
Hiệp hội vàng Thế giới. Cả nước có 2-3 công ty có số công nhân 1.500.000 đến
2.000.000 người, một số công ty khoảng vài trăm người, còn lại là các công ty nhỏ, có
vốn từ 2-3 tỉ đến 30-40 tỉ đồng Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh nhỏ thường là có
vốn tự tích luỹ, cộng với vay ngân hàng (hoặc bằng hình thức làm đại lý cho Ngân hàng)
để được tạo điều kiện về vốn. Tuy nhiên, "ngành vàng Việt Nam còn chưa phát triển
tương xứng với tiềm năng, chưa phát huy được thế mạnh cần thiết để đáp ứng xu thế hội
nhập". Nguyên nhân có nhiều như nguồn vốn qúa ít ỏi trong khi để phát triển được ngành
này cần một nguồn vốn lớn; thứ hai là do công nghệ còn lạc hậu, kĩ thuật thô sơ không đủ
điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm; thứ ba là do trình độ công nhân còn yếu, năng
suất lao động kém; ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như chính sách thuế có nhiều
bất cập gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình,... Đây cũng chính là những nguyên nhân khiến sản phẩm vàng trang sức
của Việt Nam bị cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa. Khi Việt Nam hội nhập AFTA giá
3
thuế nhập khẩu các mặt hàng nói chung - có mặt hàng vàng trang sức - đều giảm, các sản
phẩm của Việt Nam sẽ không thể cạnh tranh nổi với sản phẩm của nước ngoài do sản
phẩm của Việt Nam thua kém cả về chất lượng, mẫu mã, thậm chí giá cũng cao hơn do

vàng 70%, 75% với nhiều kiểu dáng mẫu mã phù hợp với giới trẻ; các loại vàng miếng,
4
vàng lá. Cùng với việc sản xuất và chế tác các sản phẩm, các công ty này còn xây dựng
hệ thống phân phối tại các cửa hàng bán lẻ tại khắp các tỉnh thành trong cả nước. Chỉ tính
riêng công ty PNJ đã có tới 5 cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội; tương tự, công ty SJC cũng có
một số chi nhánh tại các thành phố lớn trên khắp cả nước. Trong số này, Bảo Tín Minh
Châu là công ty tư nhân đầu tiên thành công và trở thành “cây đại thụ” trong ngành; một
công ty được coi là “chịu chơi”, sẵn sàng đầu tư công nghệ mới, tung ra thị trường những
sản phẩm mang đặc trưng của mình. Bảo Tín Minh Châu cũng là một công ty rất có uy
tín, giá vàng niêm yết tại công ty được dịch vụ trả lời giá cả thị trường qua điện thoại sử
dụng và trở thành giá chung cho thị trường Hà Nội. Các công ty khác đang tìm cách thu
hút nguồn vốn đầu tư để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và vươn ra
ngoài biên giới.
Về phía người tiêu dùng, đánh giá về thị trường vàng trang sức Việt Nam, cụ
thể là về dịch vụ cung cấp vàng trang sức hiện nay, ở mức trung bình. Lí do là mẫu mã
chưa phong phú, chất lượng không đảm bảo (cả về màu sắc lẫn tuổi vàng), đôi khi thái độ
phục vụ không tốt, các dịch vụ phụ trợ (khuyễn mãi, rửa hay si bóng đồ trang sức…)
kém. Người tiêu dùng ít dùng sản phẩm do Việt Nam sản xuất mà vẫn thích các sản phẩm
nhập từ nước ngoài (vàng Ý, vàng Ý cao cấp…), tuy đắt nhưng mẫu mã đẹp; những
người không có đủ tiền mua vàng ý thì dùng vàng tây (70%, 75%) do các công ty ở TP
HCM sản xuất. Hiện nay thị trường xuất hiện một số sản phẩm của Thái Lan, Trung
quốc, Đài Loan mẫu tương đối đẹp mà giá rẻ khoảng 300.000đ-400.000đ một món, rất
thu hút người tiêu dùng.
Nhìn nhận một thực tế, ngành kinh doanh vàng trang sức của Việt Nam còn
tương đối yếu. Các sản phẩm chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách hàng. Khách
hàng thường xuyên đi xem và muốn có thêm nhiều mẫu mã để lựa chọn, trong khi hầu hết
mẫu mã được chế tác và bày bán trên thị trường Việt Nam là những mẫu được “copy”
của nước ngoài, một số ít là do các công ty tư nhân thiết kế, còn rất “nghèo nàn”, trùng
lặp, thiếu sáng tạo. Đấy là chưa kể vấn đề chất lượng vàng (tuổi vàng) chưa đạt tiêu
chuẩn quốc tế (theo thông tin từ báo "Sài Gòn tiếp thị", báo 24h.com, cùng một số báo tạp

6
nghiệp để tạo ra những nét mới, thị trường vàng trang sức Việt Nam đang là một thị
trường có tiềm năng, đang phát triển và tiến bộ. Hi vọng ngày càng có nhiều sáng kiến
cũng như những kết quả mới tốt đẹp của ngành vàng trang sức Việt Nam.
1.1.2 Tình hình cung trên thị trường vàng trang sức Hà Nội
Trên địa bàn Hà Nội hiện nay, có khoảng trên 400 doanh nghiệp kinh doanh
vàng trang sức bán lẻ lớn nhỏ, cung cấp kịp thời các sản phẩm đến người tiêu dùng tại
các khu vực khác nhau. Mỗi doanh nghiệp có một mô hình và quan điểm kinh doanh
riêng, tạo nên sự phong phú đa dạng của ngành kinh doanh này. Các cửa hàng quy mô
trung bình tại Hà Nội có số vốn khoảng 2.5–3 tỉ đồng, có từ 2- 3 công nhân chế tác hoặc
gia công sản phẩm, hoạt động chính của họ là bán hàng và trao đổi ngoại tệ. Các công ty
này thuê một số lượng nhân viên không nhiều, tính cả nhân viên và giám đốc là khoảng
8-10 người.
Trong đó, doanh thu trong một ngày được gọi là có hiệu quả ở khoảng trên
dưới 10 triệu đồng, chưa kể những ngày ế ẩm do giá vàng cao hoặc thời tiết xấu không có
khách đến xem hàng. Sau khi tính giá gốc, lợi nhuận thu được mỗi ngày là khoảng
800.000đ-1.200.000đ. Con số này là cao nhất trong trường hợp các sản phẩm bán được là
trang sức vàng nhập hoặc vàng tây, nếu là vàng mỹ nghệ 9999 thì con số này là khoảng
300.000đ-400.000đ. Như vậy, lợi nhuận của ngành vàng không lớn: lãi suất kinh doanh
vàng nguyên chất khoảng 1%-2% (giá vàng mua vào bán ra chênh lệch từ 20.000đ-
30.000đ_tuỳ từng cửa hàng), vàng 70% - 75% (nói chung) có lãi suất cao hơn (con số cụ
thể không được cung cấp). Tại Hà Nội , một số doanh nghiệp lớn thường được nhắc đến
như Công ty vàng bạc Bảo Tín Minh Châu, các chi nhánh của Công ty PNJ, công ty kinh
doanh Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam…, một số công ty mới có vốn lớn như công ty Vàng bạc Đá quý Phú
Quý…, trong đó Công ty Vàng bạc Bảo Tín Minh Châu là một công ty lớn có thị phần
chiếm trên dưới 20% thị trường Hà Nội , các công ty khác hầu như là các cửa hàng có
đăng kí kinh doanh với tư cách pháp nhân của một công ty, tuy nhiên hoạt động kinh
doanh còn nhỏ lẻ và chưa có khả năng phát triển mạnh.
Có rất nhiều doanh nghiệp đã bước vào kinh doanh vàng trang sức vì nhìn thấy

bày bán, tầm ảnh hưởng của các hãng này tại thị trường Hà Nội rất nhỏ bé (mới chỉ thấy
sự xuất hiện của sản phẩm trang sức Dorgay Paris tại Hà Nội Tower trên phố Hai Bà
Trưng). Các cửa hàng vàng nhập một số mẫu của các hãng này nhằm làm phong phú
thêm cho các mặt hàng của mình, chờ đón cơ hội thị trường và một bộ phận khách hàng
“chơi sang”. Các sản phẩm này sẽ hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới.
Hiện nay có rất nhiều trung tâm mua bán, siêu thị mọc lên và là cơ hội để trưng
bày và bán sản phẩm. Vàng trang sức được bày bán nhiều nhất tại ba trung tâm là Tràng
Tìên Plaza (đường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm), Hà Nội Tower (đường Hai Bà Trưng,
Hoàn Kiếm) và Vincom (đường Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng). Tại đây hầu hết là các sản
phẩm cao cấp, mẫu mã đẹp, giá bán cao. Những trung tâm như thế này đã gây được sự
chú ý của người dân bởi quy mô và sự đảm bảo về chất lượng của các sản phẩm được bày
bán. Ngoài ra còn có một số trung tâm khác như BigC (Khu đô thị Trung Hoà Nhân
Chính), Star Bowl (đường Phạm Ngọc Thạch)... tuy lượng hàng còn ít nhưng cũng đã tạo
cơ hội cho khách hàng được ngắm và chọn mua một số sản phẩm trang sức mà mình
thích khi đi siêu thị. Tuy nhiên, với nhiều người thì các trung tâm mua bán, các siêu thị
vẫn là những nơi có giá tương đối cao và họ chỉ đến ngắm, đến xem cho biết. Do vậy,
một số công ty cho trưng bày sản phẩm tại đây phần nhiều để quảng cáo, giới thiệu sản
phẩm và tên tuổi của mình.
Ngoài các trung tâm, các hiệu vàng trang sức thường tập trung tại những khu dân
cư đông đúc, có nhu cầu mua sắm và làm đẹp, như khu phố Cầu Gỗ, phố Hàng Bạc, Hàng
Bông; khu phố Trần Nhân Tông (nơi "đại bản doanh " của cửa hàng vàng trang sức Bảo
Tín Minh Châu), Khâm Thiên, đường Giảng Võ... Tại những khu này, hoạt động mua bán
vàng trang sức, trao đổi, thanh toán diễn ra khá sôi nổi và thường xuyên. Đặc biệt, có một
số cửa hàng luôn luôn đông khách, điển hình như cửa hàng Bảo Tín Minh Châu tại số 29
Trần Nhân Tông. Tại cửa hàng này, lượng khách hàng có mặt trung bình 25-30người/1h.
Trên phố cổ, hoạt động mua bán còn sôi nổi hơn do đây là nơi có nghề truyền thống về
8
chạm khảm chế tác đồ trang sức bằng các loại chất liệu nên gây được sự chú ý của công
chúng từ khá lâu nay; việc hình thành các tuyến phố đi bộ cũng khiến hoạt động mua bán
ở đây trở nên sầm uất

cũng tăng lên. Môi trường này đang tạo ra những cơ hội lợi nhuận trên thị trường vàng
trang sức hiện nay và thu hút ngày càng nhiều hơn các nhà kinh doanh tham gia, tạo nên
sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp và sự phát triển sôi nổi của thị trường này.
Thị trường vàng trang sức mang những đặc thù riêng biệt, không có ở bất cứ thị trường
nào khác. Nhìn nhận những đặc điểm, nhu cầu thị trường, những cơ hội mới và khả năng
có được của mỗi doanh nghiệp, chọn cho mình một hướng đi thích hợp tạo tiền đề cho sự
phát triển và mở rộng: đó là việc mà mỗi doanh nghiệp kinh doanh vàng trang sức cần
làm trong giai đoạn hiện nay.
1.2 CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH VÀNG TRANG SỨC
Dịch vụ chủ yếu của thị trường vàng trang sức hiện nay bao gồm bán, mua, trao
đổi các loại vàng trang sức: vàng Ý, Ý cao cấp, vàng Nga, vàng mĩ nghệ (làm từ vàng
9999), vàng tây (vàng 70%, 75% thường gọi là vàng Sài Gòn), vàng công nghệ Italy,
vàng trắng, vàng Hàn Quốc, vàng Thái... Mới đây trên thị trường có một số sản phẩm
được giới thiệu là vàng Trung Quốc, vàng Đài Loan... Đây là những dịch vụ đáp ứng cho
nhu cầu chính của công chúng về sản phẩm này.
Trước đây, khi chưa hình thành một thị trường với đầy đủ các nhu cầu và nguồn
cung như hiện nay, các hoạt động này chỉ phục vụ cho một phần nhỏ thị trường, dưới góc
độ của một nghề truyền thống: nghề chạm bạc. Ngày nay, với xu thế phát triển, mọi hoạt
động đều chịu sự điều chỉnh của thị trường, phụ thuộc thị trường, cần có sự phong phú đa
dạng về các loại hình dịch vụ đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ khác
như chế tác các mẫu sản phẩm do khách hàng yêu cầu, tư vấn tiêu dùng, hướng dẫn lựa
chọn và bảo quản trang sức, si bóng, khắc chữ, sửa chữa các sản phẩm...hình thành trong
quá trình phát triển. Tất cả các hoạt động này đều là các hoạt động phụ trợ nhằm thúc đẩy
hiệu quả kinh doanh, tạo thiện cảm và uy tín đối với khách hàng. Bên cạnh các yếu tố về
chất lượng sản phẩm, mẫu mã, giá cả thì những dịch vụ này hiện nay rất cần thiết. Một
nhu cầu không mới nhưng phải đến bây giờ những nhu cầu như thế này mới được một số
cửa hàng quan tâm và cũng chỉ có một số làm tốt. Các cửa hàng chỉ có thể cạnh tranh
nhau qua các dịch vụ này. Tuy vậy, nói chung các dịch vụ này ở Hà Nội chưa thực sự tốt,
các doanh nghiệp cần đưa thêm nhiều tiện ích mới, dịch vụ mới , mở rộng nhu cầu của
11

can bo sung.... 5 7.1 8.2 98.4
Khongquantam 1 1.4 1.6 100.0
Total 61 87.1 100.0
Missing System 9 12.9
Total 70 100.0
12
Bảng 1
1.3 CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING - MIX CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH
DOANH VÀNG TRANG SỨC
Một cách tổng quan, sản phẩm giá cả và chất lượng của vàng trang sức trên thị
trường hiện nay ở mức trung bình. Dù không mong muốn nhưng đây là một thực tế
không thể phủ nhận. Các doanh nghiệp vẫn đang cố gắng rất nhiều nhằm cải thiện tình
hình.
1.3.1 Sản phẩm
Sản phẩm bao gồm dây đeo cổ, nhẫn, hoa tai, vòng, lắc, kiềng, mặt (dùng kèm
với dây); trong đó dây, nhẫn và hoa tai là nhiều nhất. Đây là những sản phẩm quen thuộc
với người tiêu dùng và được sử dụng nhiều nhất. Chất liệu bao gồm: các loại vàng 9999,
vàng 70%, 75%, vàng 58.5% (vàng Nga). Sau một thời gian lên cơn sốt về việc người dân
thi nhau mua vàng 9999 về đeo, xu hướng này ngày nay đã nhường chỗ cho các sản phẩm
làm từ vàng 70%, 75% vừa rẻ vừa nhiều màu sắc để chọn lựa. Hiện nay trên thị trường có
xuất hiện một số loại vàng được kí hiệu là vàng 68%, 67%, 66%... nhưng chưa rõ tiêu
chuẩn do cơ quan nào cung cấp. Vấn đề tuổi vàng đã và đang là vấn đề đau đầu của
những nhà quản lí ngành kinh doanh này. Chất lượng sản phẩm là điều khó đánh giá, vì
người tiêu dùng chỉ nhìn thấy vẻ ngoài sáng bóng, thấy đẹp là chọn mua, còn vấn đề tuổi
vàng vốn khó xác định, đôi khi chính họ cũng không để ý. Hơn nữa, trong quan điểm của
một số người, trang sức chỉ cần thoả mãn một yếu tố là làm đẹp; trong đa số khách hàng
yêu cầu vàng cần đủ chất lượng xứng đáng với số tiền họ bỏ ra. Trong những khách hàng
được hỏi có 18.5% số người tự cho là có thể phân biệt các loại vàng, 81.5% số còn lại
không phân biệt được hoặc còn nhầm lẫn. Đơn giản chỉ là phân biệt các loại như vàng ta,
vàng ý, vàng Nga hay vàng Sài Gòn đôi khi còn nhầm lẫn, nên việc không thể xác định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status