CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1
H - NMR : Proton Nuclear Magnetic Resonance
Spectroscopy (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton)
13
C - NMR : Carbon - 13 Nuclear Magnetic Resonance
Spectroscopy (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân cacbon-13)
DEPT : Distortionless Enhancement by Polarisation
Transfer (PhổDEPT)
1
H -
1
H-COSY:
1
H -
1
H- Correlated Spectroscopy ( Phổ tương tác proton)
HSQC : Heteronuclear Single Quantum Coherence
HMBC : Heteronuclear Multiple Bond
Correlation (Phổ tương tác dị hạt nhõnqua nhiều liên
kết)
IR : Infrared Spectroscopy (Phổ hồng ngoại)
ESI - MS : ElectronSpray Ionisation - Mass Spectroscopy
(Phổ khối bụi electron)
SKLM : Sắc ký lớp mỏng
DMSO : DiMethylSulfoxide
TMS: T : Tetramethylsilan
s : singulet
s (br): singulet t : singulet tù
d: dublet : dublet
dd : dublet của dublet
dt: dublet c : dublet của triplet
m:: multiplet : multiplet
t: triplet : triplet
td: triplet c : triplet của dublet
J (Hz): H : Hằng số tương tác tớnh bằng Hz
δ (ppm): : Độ dịch chuyển hoá học tớnh bằng ppm DANH MỤC CÁC BẢNG
Tran
g
Bảng 2.1: Số liệu các phân đoạn thu được chất tinh khiết 13
Bảng 2. 2 : Số liệu phổ
1
H - NMR của chất A2 (500 MHz, CDClMỞ ĐẦU
Nguồn cây cỏ trên đất nước ta vô cùng phong phú và đa dạng. Nú đã, đang và sẽ
trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần giải quyết các nhu cầu của đời sống chúng ta về ăn,
mặc, ở, thuốc chữa bệnh, v.v. Cùng với việc tìm hiểu để sử dụng mặt có lợi của cây cỏ, từ
lâu người ta đã quan tâm đến mặt trái của vấn đề này, đó là những tác hại của cây độc đối
với con người và động vật.
Lĩnh vực nghiên cứu cây độc, có liên quan đến giám định hoá phápcác vụ ngộ độc
và bị đầu độc bằng cây cỏ. Nhưng quan trọng hơn cả là mối liên hệ giữa cây độc và cây
thuốc. Người ta đã sử dụng nhiều cây độc để làm thuốc như cà độc dược, mã tiền, ô đầu
bởi vì hoạt tính của những cây này có tác dụng chữa bệnh khi dùng đúng liều lượng và
đúng bệnh khi đó cây độc trở thành cây thuốc. Ngược lại, một số cây thuốc khi dùng
không đúng chỉ định cũng có thể gây độc cho người bệnh. Sự nhầm lẫn đó thường xảy ra
và dẫn tới những vụ ngộ độc đáng tiếc không chỉ ở những nước sử dụng rộng rói cây cỏ
để làm thuốc như nước ta, mà còn ở nhiều nơi trên thế giới.
Cây Lá ngón (Gelsemium elegans Benth.) chứa hàm lượng alcaloid có độc tính rất
mạnh [5]. Hàng năm ở nước ta xảy ra nhiều vụ ngộ độc cây Lá ngón do sử dụng nhầm
lẫn, đầu độc, tự sát. Theo thống kê của Viện Pháp y Quốc gia, từ năm 2000-2004 số
người tử vong do ngộ độc cây Lá ngónđược giámđịnh húa pháp ở các tỉnh miền Bắc là 82
người. Để đáp ứng yêu cầu giám định y pháp và phục vụ công tác cấp cứu nạn nhân ngộ
độc cây Lá ngón tại các trung tâm chống độc cần phải có các chất chuẩn, phục vụ cho các
phương pháp phân tích.
Trong luận văn này chúng tôi xin đóng góp một phần vào việc chiết tách, tinh chế,
xác định cấu trúc một số hợp chất alcaloid trong rễ cây Lá ngón (Gelsemium
elegansBenth.) ở Việt Nam.
Trong quá trình phơi sấy chế biến cây cỏ cũng làm thay đổi một số tính chất của
chúng, vì có chứa các chất độc dễ bay hơi. Ngược lại, các cây độc chứa alcaloid, độc tính
không hề thay đổi khi phơi hoặc sấy. Các cây độc chứa glycozit khi ủ làm thức ăn cho gia
súc thì các quá trình lên men phát triển dẫn tới sự phá huỷ hoàn toàn các glycozit độc.
Trong khi đó ở một số cây, chất độc mới lại được hình thành trong quá trình phơi sấy, chế
biến hay ủ làm thức ăn [5].
1. 1. 2 Hợp chất alcaloid trong cây độc
Alcaloid là những hợp chất hữu cơ, có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản
ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi trong động vật, thường có hoạt tính sinh
học mạnh và cho phản ứng hoá học với một số thuốc thử gọi là thuốc thử chung của
alcaloid [12].
Trong cây, các alcaloid thường ở dạng muối của các acid malic, limonic, oxalic,
sucxinic, … Chúng đều dễ tan trong nước, vì vậy dễ hấp thụ qua bộ máy tiêu hoá của
người và động vật. Khi ở dạng tự do, chúng khó tan trong nước nhưng lại dễ tan trong
các dung môi hữu cơ như ethanol, ether, chloroform [5].
Các alcaloid khi tác dụng với một số acid như acid silicotungstic,
acidphotphomolipdic và tanin, dễ dàng bị tủa, trở thành chất khó tan trong nước. Lợi
dụngtính chất này người ta dùng acid tanic hoặc nước sắc các cây có chứa tanin để giải
độc khi bị ngộ độc alcaloid [5].
Hàm lượng của alcaloid trong cây dễ dàng thay đổi. Ngày nay, với những
phương pháp hiện đại người ta có thể phát hiện được vết của chúng trong nhiều loài,
nhưng chỉ quy ước nói cây có alcaloid khi hàm lượng của chúng lớn hơn một phần vạn.
Tỷ lệ alcaloid trong nhiều cây chiếm từ một phần vạn đến vài phần trăm so với trọng
lượng khô của cây. Đặc biệt, trong vỏ cây canhkina có thể tới 10 phần trăm [5].
Nhiều tổng kết cho thấy đại đa số cây có chứa alcaloid là cây hai lá mầm. Theo
thống kê đến nay thì cây thuộc thảo và cây bụi có nhiều alcaloid hơn cây gỗ. Cây một
năm thường chứa nhiều alcaloid hơn cây lưu niên [7].1. 2 Cây Lá ngón
mửa, tiếp theo là hoa mắt, răng cắn chặt, sùi bọt mép, thân nhiệt hạ, huyết áp hạ,
cuốicúng là chết do ngừng hụ hấp [11]. Trong dân gian người ta thường dùng mỡ lợn, dầu
lạc để uống, hoặc dùng dịch chiết rau má và rau muống để làm hồi tỉnh lại [1].
Theo Võ Văn Chi, cây Lá ngón có vị đắng, cay, tính nóng, rất độc; có tác dụng
thanh nhiệt, tiêu thũng, bạt độc, giảm đau, sát trùng, chống ngứa. Lá cây tươi giã nhỏ đắp
ngoài hoặc nấu nước rửa ngoài để trị các bệnh như: eczema, nấm ở chân, ở thân; đòn ngã
tổn thương, đụng giập; trĩ, tràng nhạc; đinh nhọt, viêm mủ da; phong hủi [1].
Trong y học cổ truyền của Nhật Bản, người ta cũng sử dụng cây Lá ngón để trị các
bệnh lở loét, viêm da, ung nhọt [16]. Ở Trung Quốc và Bắc Mĩ bên cạnh những sử dụng
tương tự như trên người ta con sử dụng rễ để chữa các bệnh động kinh và giảm đau [6].
Gần đây đó có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tác dụng dược lý như:
giảm đau, chống viêm, chống ung thư từ cây Lá ngón [3, 16, 18].
1. 2. 3 Các hợp chất alkaloid
Những năm gầnđõy, các nhà khoa học trên
thế giớiđã nghiờn cứu nhiều về cõyđộcGelsemium elegans Benth., thu hái tại Bắc Mĩ,
Thái Lan, Trung Quốc. Nhiều alcaloidcó nhõn indol(1) đãđược phõn
lập và xácđịnh cấu trỳc, chủ yếu là các alcaloid thuộcphõn nhúmoxindolvà indolenin[3,
19]. (1)
Chúng ta có thể chia các alcaloid có nhõn indol trong cõy Lá ngún thành 5 phõn
nhúm[19].
- Nhúm 1: Các alcaloid loại sarpagin
- Nhúm2: Các alcaloid loại koumin
- Nhúm3: Các alcaloid loại humantenin
- Nhúm4: Các alcaloid loại gelsemin
- Nhóm 5: Các alcaloid loại gelsedin và gelselegin
Trong đó các alcaloid thuộc nhóm 1 có nhõn indol, thuộc nhúm 3, 4,5 có khung
oxindol [19], còn các alcaloid thuộc nhóm 2 có khung indolenin [3].
1
= HR R
2
= OCH
3
:
gelsemicin
(28) R
1
= OHR R
2
= H: 14 - ò -
h : 14 - ß - hydroxygelsedin
(29) R
1
= OHR R
2
= OCH
3
: 14 - ò -
hydroxygelsemicin
Koumin
Phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton và carbon 1 chiều và 2 chiều (1D,
2D,
1
proton thơm (4 proton: H
12
, H
9
, H
11
và H
10
), cho thấy mỗi proton thơm tương tác với 2
proton gần nú ở vị trí othor (Jor = 7, 5 Hz) và meta (Jm = 1, 5 Hz).
Ở vùng dịch chuyển húa học ở trường cao hơn δ=4, 83 ppm, proton H
18
là proton olefin
(H
18α
và H
18β
) tương tác với H
19
có hằng số tương tác lớn (J = 11 Hz và J = 18 Hz). Cóđộ
dịch chuyển húa học δ=4, 81 ppm là proton H
3
có tín hiệu là triplet (t) tương tác với 2
proton H
14α
và H
14β
, proton H
3
này đã dịch chuyển mạnh về phía trường thấp do hiệu ứng
H
4, 83 ; 4, 74/δ
C
115, 74 đó là proton H
18
- C
18
; δ
H
4, 14 ; 3, 51/ δ
C
60, 5 đó là
proton H
21
-C
12
; δ
H
3, 05 ; 2, 96/ δ
C
56, 9 đó là proton H
17
- C
17
; δ
H
2, 58 ; 1, 67/ δ
C
24, 7 đó là
proton H
); 143, 8 (C
8
); 137, 5 (C
19
); 127, 9 (C
11
); 125, 8 (C
10
); 123, 1 (C
9
);
120, 4 (C
12
); 115, 7 (C
18
); 69, 9 (C
3
); 60, 5 (C
21
); 57, 4 (C
7
); 56, 9 (C
17
); 55, 8 (C
5
); 44, 8
(C
20
); 42, 2 (N-CH
3
1.
Cất quay thu hồi cồn1. Nước cất
2. Lọc loại tạp Chiết bằng Ethyl acetate
1. Dung dịch NH
3
25%
2. Lọc 1. Hoà tan bằng
cồn- acid Chiết bằng CHCl
3
ợng
(%)
I 1 - 16 98 : 2 120, 1 2, 310
II 17 - 27 98 : 2 246, 5 4, 74
III 28 - 59 98 : 2 301, 5 5, 798
IV 60 - 66 98 : 2 106,9 2, 055
V 67 - 74 98 : 2 192, 5 3, 701
VI 75 - 94 96 : 4 240, 7 4, 629
VII 95 - 108 96 : 4 605, 5 11, 644
VIII 109 - 130 96 : 4 39, 4 0, 758
IX 131 - 153 9 : 1 28, 0 0, 538
X 154 - 165 9 : 1 35,5 0, 683
XI 166 - 175 9 : 1 180,7 3, 475
XII 176 - 186 9 : 1 27, 1 0, 521
XIII 187 - 196 85 : 15 14, 2 0, 273
XIV 197 - 206 85 : 15 70, 5 1, 356
XV 207 - 219 85 : 15 40, 6 0, 780
XVI 220 - 233 85 : 15 35, 0 0, 673
XVII 234 - 246 8 : 2 36, 5 0, 702
XVIII 247 - 260 8 : 2 115, 8 2, 227
XIX 261 - 268 8 : 2 150, 0 2, 896Dựa vào kiểm tra sắc ký lớp mỏng, chúng tôi thấy phõn đoạn II và IV
là phõnđoạn sạch. Hai chất thu được từ hai phõn đoạn này là các alcaloid
lần lượtđược ký hiệulà A1, A2. A1 là chất dầu có màunõu đỏ, A2 là chất bột không màu.
Phõn đoạn VII chúng tôi thu được chất rắn tương đối sạch, bằng phương
phápkết tinh lại chúng tôi thu được một alcaloid tinh khiết, ký hiệu là A4. A4 là tinh
thể hìnhkhối, không màu.
Các chất tinh khiết ký hiờụ A2, A4 đã được ghi phổ để xác định cấu trúc hoá học,
thích hợp, đã phát hiệnđược 8 vết alcaloid trong rễ cõy
Lá ngún, trong đó vết A4 và A8 làđậm nhất.
2. Sử dụng phương phápacid -
baseđãđịnh lượng thành phần alcaloid trong rễ cõy Lá ngún là:
0, 87 %.
3. Đã chiết xuấtđược alcaloid toàn phần từ rễ cõy Lá ngún. Phõn
lậpđược 2 alcaloid tinh khiết là A2 và A4.
4. Bằng các phương phápphõn tíchphổ hiệnđại: phổ hồng ngoại;
phổ cộng hưởng từhạt nhõn một chiều (
13
C-NMR,
1
H-NMR,
DEPT); phổ cộng hưởng từ hạt nhõn hai chiều (COSY, HSQC,
HMBC); phổ khối lượng, đã nhận dạng A2 làgelsevirin, A4
là koumin.
5. Bướcđầu tạođược chất chuẩn so sánhphục vụ tốt cho
việcgiám định hoá pháp các vụ ngộ độc và bị đầu độc
bằng cõy Lá ngónở ViệtNam.
ĐỀ NGHỊ:
Trên đõy chỉ là nhưng kết quả nghiên cứu bướcđầu về cõy
Lá ngúnởViệtNam. Đề tài này cũn rất nhiều vấnđề cần nghiên
cứu sõu hơn về thành phần húahọc,đặc biệt là chiết xuất và phõn
lập các alcaloid, thửđộc tớnh, cấp cứu, giảiđộcvàtác dụng sinh
học.
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2, tr. 133 - 135.
3. Viện Dược liệu (2006), Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, Nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 231 - 232.