PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu. Tình hình thế giới có nhiều biến động và thay đổi lớn.
Đứng trước tình hình đó, các quốc gia trên thế giới đều phải có những sự thay
đổi và điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với tình hình quốc tế và khu vực. Để
phù hợp với sự thay đổi của tình hình nói trên, Mỹ cũng đã có sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại.
Đây là giai đoạn trật tự thế giới hai cực không còn nữa, lợi thế nghiêng về
có lợi cho Mỹ. Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton
đã có những ảnh hưởng nhất định đến quan hệ quốc tế, cũng như an ninh chính
trị của các quốc gia trên thế giới.
Sau khi nhậm chức ngày 20/1/1993, về đối nội, chính quyền Tổng thống
Bill Clinton tập trung giải quyết những vấn đề nước Mỹ đang phải đối mặt như:
sức mạnh quân sự bị giảm sút do cuộc chạy đua vũ trang, chi phí quốc phòng
tăng khiến cho nền kinh tế của Mỹ bị giảm sút nghiêm trọng. Các cuộc xung đột
sắc tộc, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng. Điều này đã dẫn đến rất nhiều
những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội của nước Mỹ.
Về đối ngoại, Mỹ luôn thục hiện mục tiêu duy trì "Vị trí siêu cường số 1"
thế giới. Để đạt được mục tiêu trên chính quyền Clinton đã đưa ra các biện pháp
tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt, thực dụng đối với các vấn đề quan hệ quốc tế, kết
hợp sức mạnh quân sự với sức mạnh mềm, chuyển từ ngoại giao đơn phương
sang đa phương, thúc đẩy quan hệ đồng minh với các đối tác chiến lược như
Nhật Bản, NATO, tăng cường hợp tác với các nước trong lục địa Á-Âu. Bên
cạnh đó, chính quyền Clinton luôn sử dụng các chiêu bài dân chủ và nhân
quyền, dân tộc, tôn giáo để gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của các
nước khác.
Trong điều chỉnh chiến lược đối ngoại, Mỹ coi trọng và quan tâm nhiều
đến lục địa Á-Âu, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam
Á nói riêng. Chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton sang Trung Quốc, Việt
Nam, Ấn Độ và các nước SNG sau khi nhậm chức thể hiện rất rõ điều này. Tiếp
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích
Nhằm làm rõ nội dung và sự triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ dưới
thời Tổng thống Bill Clinton trong hai nhiệm kỳ (từ năm 1993 đến năm 2001).
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích nêu trên này, luận văn cần thực hiện những
nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích những nhân tố tác động đến việc điều chỉnh và hoạch định
chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993-
2001);
- Phân tích nội dung và sự triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ với các
nước, khu vực trên thế giới;
- Đánh giá những tác động của chính sách đến quan hệ quốc tế nói
chung, Việt Nam nói riêng và nhưng đối sách của Việt.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về " Chính sách đối ngoại của Mỹ
dưới thời Tổng thống Bill Clinton (từ 1993 đến 2001)", trong quá trình thực
hiện luận văn phải luôn đảm bảo duy trì nguyên tắc: đứng từ góc độ là người
Mỹ để nghiên cứu và phân tích chính sách đối ngoại (từ năm 1993 đến năm
2001)
Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của đề tài "Chính sách đối ngoại của
Mỹ từ năm 1993 đến năm 2001".
4. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton đã
thu hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả và các nhà nghiên cứu của nước
Mỹ, Việt Nam, cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài. Công trình nghiên cứu
đó có thể chia thành các nhóm sau:
Trong nhóm công trình nghiên cứu về Chính sách đối ngoại của Mỹ
dưới thời Tổng thống Bill Clinton có thể kể một số công trình tiêu biểu của
các nhà nghiên cứu Mỹ như sau: Preparing America's Foreign Policy for the
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch
sử, phản ánh trung thực chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton (1993-
2001), nhìn nhận và đánh giá chính sách đối ngoại của Mỹ trong bối cảnh lịch
sử cụ thể.
Ngoài ra, đề tài luận văn "Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng
thống Bill Clinton (từ 1993 đến 2001) là một đề tài nghiên cứu mang tính chất
liên ngành, vừa là một vấn đề của Lịch sử thế giới Hiện đại, vừa là vấn đề thuộc
Lịch sử Quan hệ quốc tế. Do đó, trong việc nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng
phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số các phương pháp như: phương
pháp lịch sử và phương pháp logic; phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa;
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh và dự báo.
5.2. Tư liệu
Các văn bản gốc bao gồm các bài diễn văn, tuyên bố, hiệp định, thông
điệp liên bang của chính quyền Tổng thống Bill Clinton.
Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và
chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton nói riêng do các học giả Mỹ, nước
ngoài và Việt Nam nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
- Chính sách đối ngoại của Mỹ được coi là một phần rất quan trong trong
Quan hệ quốc tế. Bởi lẽ, Mỹ là một siêu cường trên thế giới, việc hoạch định
đường lối đối ngoại của Mỹ ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ, sự phát triển
của các nước trên thế giới. Do đó, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ
nói chung và chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton.
- Thông qua việc phân tích, nghiên cứu, đề tài góp phần làm rõ mục tiêu
bên trong và sự triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống
Bill Clinton từ đó đưa ra những đánh giá.
- Luận văn sẽ đóng góp thêm vào tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy về lịch sử Quan hệ quốc tế hiện đại.
7. Kết cấu của luận văn
xã hội lâm vào thoái trào khiến so sánh lực lượng thế giới nghiêng về có lợi cho
Mỹ và chủ nghĩa tư bản. Những sự kiện này làm thay đổi sâu sắc cục diện thế
giới, cơ cấu địa - chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn.
Trong bối cảnh đó, trên thế giới đã diễn ra những thay đổi có tính chất xu
thế đan xen nhau phức tạp, thậm chí trái chiều nhau. Hoà bình, hợp tác và phát
triển trở thành một xu thế lớn trong quan hệ quốc tế. Với nhiều cấp độ khác
nhau, tiến trình cải thiện quan hệ giữa các nước được thúc đẩy, hình thành nhiều
phương thức hợp tác, liên kết mới trên các lĩnh vực theo xu hướng chú trọng lợi
ích dân tộc và mục tiêu phát triển. Các quốc gia độc lập, có chủ quyền nỗ lực
vươn lên khẳng định vị thế là những chủ thể có vai trò ngày càng tăng trong hệ
thống các quan hệ quốc tế hiện đại. Ý thức độc lập tự chủ, tự cường quốc gia, tự
cường khu vực của các nước vừa và nhỏ, các nước đang phát triển trỗi dậy mạnh
mẽ.[77]
Mặt khác, trật tự thế giới hai cực mất đi làm giảm các cuộc xung đột bắt
nguồn từ cuộc đối đầu Xô - Mỹ trước đó, nhưng đồng thời nó cũng làm mất đi
giới hạn kiềm chế đối với các xung đột khác, hoặc làm bộc lộ rõ nét và ngày
càng gay gắt thêm một số mâu thuẫn vốn tiềm ẩn. Điều đó lý giải vì sao trong
lúc không ít cuộc nội chiến, xung đột kéo dài đã từng bước đi đến giải pháp
chính trị, thì tại nhiều khu vực, hàng loạt cuộc xung đột mới lại bùng lên dữ dội.
Môi trường an ninh toàn cầu sau chiến tranh lạnh vẫn tiếp tục trở nên không
chắc chắn. Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn
dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh
chấp về lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên xảy ra ở nhiều nơi, nhất là tại khu
vực các nước đang phát triển. Nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống xuất hiện
bên cạnh những vấn đề toàn cầu cấp bách, mà không một quốc gia riêng lẻ nào
có thể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương. Tính chất nghiêm
trọng và phức tạp của những vấn đề này rõ ràng đòi hỏi các nước, nhất là các
nước phát triển cần đóng góp tích cực hơn nữa trong sự phối hợp, hợp tác hành
động một cách hiệu quả thiết thực.
Dưới tác động của cách mạng khoa học- công nghệ và toàn cầu hoá, quá
Trong điều kiện cách mạng khoa học- công nghệ và toàn cầu hoá, sự cạnh
tranh gay gắt giữa các nước lớn đang làm thu hẹp đáng kể khoảng cách chênh
lệch về thực lực kinh tế giữa họ. Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh
chóng, từ chỗ mất cân bằng chuyển sang tìm kiếm sự cân bằng mới, kiềm chế
bất đồng, tránh xung đột mang tính chất đối kháng. Các nước lớn, nhất là sau sự
kiện 11/9/2001 đều tiến hành điều chỉnh chiến lược và chính sách một cách linh
hoạt, coi trọng việc xác lập và củng cố những điều kiện quốc tế có lợi, tăng
cường hệ số an toàn quốc gia, tập trung phát huy nội lực làm nền tảng của sức
mạnh tổng hợp quốc gia nhằm duy trì, mở rộng ảnh hưởng, giành giật lợi ích về
nhiều mặt.
Sự thay đổi đáng kể về so sánh thực lực giữa các nước lớn sau chiến tranh
lạnh khiến Mỹ trong khi theo đuổi mục tiêu duy trì vị trí siêu cường và chi phối
tình hình quốc tế, nhưng cũng phải thỏa hiệp nhiều hơn với các nước lớn khác.
Trung Quốc, ưu tiên duy trì môi trường hoà bình, ổn định ở trong nước và khu
vực nhằm phục vụ cho lợi ích cao nhất là tăng cường thế và lực thông qua phát
triển kinh tế, đồng thời ổn định quan hệ với các nước lớn khác, chủ động can dự
và phát huy ảnh hưởng ở khu vực, từng bước thể hiện vai trò nước lớn. Nhật
Bản tiếp tục cải cách kinh tế, nỗ lực nâng cao vị thế trên trường quốc tế kể cả về
chính trị và an ninh. Nga tập trung ổn định tình hình trong nước, phát triển kinh
tế, thực hiện chính sách đối ngoại thực dụng trên nhiều hướng, với nhiều đối
tượng, nhất là các nước lớn, đồng thời ngày càng tỏ rõ sự kiên quyết đấu tranh
bảo vệ lợi ích sống còn ở không gian SNG trước sự lấn lướt của Mỹ và phương
Tây nhằm thu hẹp phạm vi ảnh hưởng của Nga. Liên minh châu Âu (EU) chú
trọng vào các vấn đề mở rộng và thống nhất nội bộ, theo đuổi chủ nghĩa đa
phương, tăng cường quan hệ với các nước lớn khác nhằm đối phó với chủ nghĩa
đơn phương của Mỹ. Ấn Độ đẩy mạnh cải cách và phát triển kinh tế, điều chỉnh
lại quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai mạnh mẽ chính sách hướng sang phía
đông, gắn chặt hơn với Đông Á- Thái Bình Dương.[58]
Cùng với việc phải đối phó trước sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa
các cường quốc và xu hướng hình thành các trung tâm quyền lực quốc tế mới,
nguồn tài nguyên phong phú, nước Mỹ có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng- an ninh, mở rộng giao lưu quốc tế và phát huy
ảnh hưởng trên thế giới về nhiều mặt
Dưới thời tổng thống Bill Clinton trong những nhân tố hàng đầu chi phối
quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại Mỹ là những ưu thế vượt
trội của Mỹ trên lĩnh vực kinh tế, quân sự và khoa học- công nghệ.
Về kinh tế, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong ba
trung tâm kinh tế tư bản quốc tế lớn nhất hiện nay. Thập niên 90 của thế kỷ XX
là thời kỳ kinh tế Mỹ tăng trưởng liên tục và khá ổn định, GDP của Mỹ từ chỗ
chiếm 21,5% tổng GDP của toàn thế giới năm 1993 tăng lên 31% vào năm 2000,
bằng 4 nền kinh tế lớn tiếp sau Mỹ (Nhật Bản, Đức, Pháp và Anh) cộng lại.
Bên cạnh thực lực kinh tế lớn, quan hệ thương mại và đầu tư rộng khắp
hành tinh, Mỹ cũng là nước đóng vai trò chủ đạo trong các tổ chức quốc tế, các
thiết chế kinh tế, tài chính, thương mại chủ chốt của thế giới. Mỹ đóng góp tài
chính lớn nhất cho Liên hợp quốc (22%) và chiếm 38% cổ phần của Ngân hàng
thế giới (WB), đóng góp lớn nhất vào ngân sách của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)
với mức 18,25% [36, tr 34] . Do đó, Mỹ có tiếng nói và giữ vai trò chi phối
trong các thiết chế quốc tế lớn như đã nêu. Thị trường chứng khoán của Mỹ có
vai trò trung tâm trong đời sống tài chính, tiền tệ quốc tế. Các công ty xuyên
quốc gia khổng lồ của Mỹ phát triển nhanh chóng và cứ 10 công ty xuyên quốc
gia lớn nhất của thế giới thì Mỹ chiếm 7 công ty.
Về quân sự, Mỹ là siêu cường về tiềm lực và sức mạnh với đội quân
thường trực 1,4 triệu người được triển khai ở 1.100 căn cứ quân sự trong nước,
270 nghìn quân ở 209 căn cứ quân sự tại 35 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Mỹ hiện có kho vũ khí hạt nhân chiến lược lớn nhất thế giới, khoảng 7.100 đầu
đạn hạt nhân với 3 loại là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo đặt trên
tàu ngầm nguyên tử và máy bay ném bom chiến lược mang đầu đạn hạt nhân.
Mỹ đi đầu trong các công nghệ quân sự và có nguồn tài chính, nhân lực lớn để
có thể biến nhiều ý tưởng quân sự thành hiện thực. Ngân sách quốc phòng của
Mỹ liên tục tăng, chiếm 41% ngân sách quốc phòng của thế giới, năm 1999 Mỹ
buộc, luật chơi được quốc tế công nhận, có thể góp phần giải quyết xung đột
một cách hoà bình và thúc đẩy hợp tác.
Trong quan điểm quốc tế, các tổng thống thuộc Đảng Dân chủ (B. Clinton,
B. Ôbama) có khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tự do, trong khi các tổng thống
thuộc Đảng Cộng hoà (G.Bush, G.W Bush) lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ chủ
nghĩa hiện thực. Chính sách đối ngoại Mỹ còn chịu sự chi phối của các quan điểm
cạnh tranh khác trong giới hoạch định chính sách, cũng như ảnh hưởng không nhỏ
của các nhóm lợi ích. Trên thực tế, dù thiên về chủ nghĩa tự do nhưng chính sách
của Đảng Dân chủ cũng có những thành tố của chủ nghĩa hiện thực, còn Đảng
Cộng hòa cũng chịu ảnh hưởng quan trọng của chủ nghĩa tự do.
Tuy có những ưu thế nổi trội của một siêu cường trên các lĩnh vực như đã
nêu, song nước Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh cũng luôn phải đối mặt với
không ít khó khăn nội bộ, ảnh hưởng đến việc hoạch định và triển khai chính
sách đối ngoại. Đặc biệt, bước sang thế kỷ XXI, nước Mỹ phải gánh chịu tổn
thất lớn từ thảm họa tấn công khủng bố ngày 11/9/2001. Sự kiện này đặt nước
Mỹ đứng trước thách thức lớn của vấn đề an ninh phi truyền thống. Các cuộc
chiến do chính quyền Mỹ phát động nhân danh chống khủng bố quốc tế ở
Afganistan và nhằm “ngăn chặn phổ biến vũ khí giết người hàng loạt” ở Iraq,
đang làm phân hóa nội bộ nước Mỹ bởi sự hao tổn nguồn lực tài chính, con
người và nguy cơ bị sa lầy. Mặt khác, cũng từ năm 2001 nền kinh tế Mỹ bắt đầu
suy giảm tăng trưởng. Vì vậy trên phương diện chính sách đối ngoại, chính
quyền B.Clinton cũng hướng tới việc duy trì và củng cố vị thế siêu cường duy
nhất của Mỹ trên thế giới.
1.3. Khái quát chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bush
(Cha).
Có thể nói rằng, mỗi một thời kỳ Tổng thống Mỹ đều có những chính
sách đối ngoại riêng để phù hợp với từng mục tiêu và thời kỳ phát triển trên thế
giới và nước Mỹ. Nếu như các đời Tổng thống trước của Mỹ đều lấy tên của
mình để đặt cho chính sách đối ngoại của nhiệm kỳ đó như Tổng thống Truman
có "học thuyết Truman", Tổng thống Kenedy có "học thuyết Kenedy", thì Tổng
bộ phận là hình thành môi trường an ninh quốc tế, đối phó với những thách thức,
khủng hoảng và chuẩn bị cho một tương lai bất trắc có thể xẩy ra. Để hình thành
môi trường an ninh quốc tế theo quan điểm của Mỹ, Nhà Trắng xác định những
hoạt động như ngoại giao, hợp tác kinh tế, kiểm soát vũ khí hạt nhân. Những
hoạt động trên phải tăng cường an ninh khu vực, hỗ trợ các hoạt động quân sự,
duy trì ảnh hưởng của Mỹ ở các khu vực chiến lược;
Trong các hoạt động an ninh Mỹ dành ưu tiên cao nhất cho việc giám sát
các mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh của Mỹ. Đó là những quốc gia
được coi là thù địch với Mỹ, những mối đe dọa xuyên quốc gia như khủng bố,
buôn bán ma túy, các tội ác quốc tế khác, các cuộc xung đột khu vực đang tiềm
tảng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Mỹ. Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng ba khu
vực quan trọng là bán đảo Triều Tiên, Trung Đông và Tây Nam Á;
Đối với việc triển khai hoạt động quân sự chiến lược, Mỹ duy trì sự có
mặt ở nước ngoài để thúc đẩy ổn định khu vực, ngăn ngừa phát triển những
khoảng trống quyền lực. Chính quyền Bush (Cha) luôn duy trì vai trò lãnh đạo
của Mỹ tại các khu vực ảnh hưởng của mình;
Sau chiến tranh Lạnh, có thể thấy quan điểm sức mạnh là quan điểm cố
hữu của các chính quyền Mỹ. Sức mạnh Mỹ được coi là sức mạnh tổng hợp bao
gồm kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao, trong đó sức mạnh quân sự vẫn giữ
vai trò quan trọng. Thang 8/1991, Tổng thống Bush (cha) đưa ra quan điểm sức
mạnh quân sự của Mỹ là nguồn đảm bảo và là cơ sở cho nền an ninh trên phạm
vi khu vực toàn cầu;
Thứ hai, thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ thông qua nỗ lực trong và ngoài
nước. Đây là mục tiêu cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh
lạnh. Tổng thống Bush (cha) khẳng định những lợi ích kinh tế và an ninh Mỹ
gắn chặt với nhau, không tách rời nhau. Sự thịnh vượng ở trong nước phụ thuộc
vào ổn định ở khu vực chủ chốt mà Mỹ buôn bán hoặc xuất nhập khẩu hàng hóa.
Chính mục tiêu thúc đẩy sự thịnh vượng này đòi hỏi Mỹ phải có sự lãnh đạo khu
vực và thế giới theo cách của Mỹ thì mới có thể thực hiện được những mục tiêu
Mỹ đề ra như việc thúc đẩy một hệ thống buôn bán mở cửa, tăng cường tính
cường số một trên thế giới. Đây chính là lí do vì sao tư tưởng chỉ đạo trong
chính sách đối ngoại của Mỹ là dựa vào sức mạnh quốc gia là chính.
CHƯƠNG 2
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2001
2.1. Mục tiêu, nội dung, lợi ích chính sách đối ngoại của dưới thời Tổng
thống Bill Clinton
2.1.1. Mục tiêu
Chiến lược toàn cầu của Mỹ được triển khai ngay sau khi chiến tranh thế
giới thứ II kết thúc đã xác định rõ mục tiêu vươn lên làm bá chủ thế giới. Trong
suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, nước Mỹ nhiều lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu,
mà nội dung trọng tâm là làm thế nào để ngăn chặn ảnh hưởng và đi đến thủ tiêu
chủ nghĩa cộng sản, địch thủ số 1 cản trở tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ. Bởi
vậy, đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ, sự tan rã Liên Xô và hệ thống xã
hội chủ nghĩa là thời cơ thuận lợi để nước Mỹ hoàn tất mục tiêu chiến lược toàn
cầu đã được vạch ra.
Các đời tổng thống Mỹ, dù thuộc Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ, kể cả
dưới thời Tổng thống Bill Cliton từ năm 1993 dến 2001 đều khẳng định mục tiêu
chiến lược bao trùm trong chính sách đối ngoại là duy trì và củng cố vị trí siêu
cường duy nhất, xác lập vai trò “lãnh đạo thế giới” của nước Mỹ, phục vụ cho mục
tiêu chiến lược toàn cầu xuyên suốt, mang tính nhất quán, lâu dài là trở thành bá
chủ thế giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế- thương mại,
quân sự- an ninh B. Clinton trong diễn văn nhậm chức tổng thống ngày
20/1/1993 nhấn mạnh, “được sự hỗ trợ bởi một nền quốc phòng có hiệu quả và
một nền kinh tế mạnh mẽ hơn, dân tộc chúng ta sẽ sẵn sàng lãnh đạo một thế
giới đang bị thách thức ở khắp mọi nơi”[16].
Trong bài diễn văn nhậm chức Tổng thống B. Clinton tuyên bố: " ngày
hôm nay chúng ta cầu cho kỷ nguyên bế tắc, trôi giạt sẽ ra đi và cho một mùa
đổi mới trên đất nước Hoa Kỳ bắt đầu. Để thay đổi nước Hoa Kỳ, chúng ta cần
phải cả gan và dám làm những gì mà các thế hệ trước chưa làm, "[30, tr.1319].
Sự "thay đổi" mà Tổng thống W.J. Clinton nói đến là phải phục hồi sự phát
tuý, tội phạm quốc tế, các cuộc xung đột khu vực tiềm tàng có ảnh hưởng đến an
ninh quốc gia của Mỹ, các mối đe doạ đối với lợi ích và công dân Mỹ ở nước
ngoài. Trong vấn đề kiểm soát không phổ biến vũ khí hạt nhân, Mỹ đặc biệt coi
trọng ba khu vực thiết yếu là bán đảo Triều Tiên, Trung Đông và Tây Nam Á.
Đối với việc triển khai hoạt động quân sự chiến lược, Mỹ chú trọng duy trì sự có
mặt ở nước ngoài để thúc đẩy “ổn định khu vực”, ngăn ngừa phát triển những
khoảng trống quyền lực, đảm bảo quyền tự do đi lại trên biển và bay trên vùng
trời các đại dương của thế giới. Quyền tiếp cận không bị cản trở và sử dụng
khoảng không vũ trụ được coi là một lợi ích sống còn, thiết yếu cho việc bảo vệ
an ninh quốc gia, tạo điều kiện thúc đẩy thịnh vượng cho Mỹ. Về các hoạt động
quân sự, bên cạnh các lực lượng đa quốc gia, quân đội Mỹ được xác định đóng
vai trò thiết yếu trong việc hình thành môi trường an ninh quốc tế, đồng thời Mỹ
duy trì các lực lượng hạt nhân chiến lược đủ để ngăn chặn bất cứ đối thủ tiềm
tàng nào có khả năng hoặc tìm cách sử dụng các lực lượng hạt nhân.
Hai là, thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ thông qua những nỗ lực ở trong
và ngoài nước. Chính quyền B. Clinton khẳng định trong việc hoạch định và
triển khai chính sách đối ngoại, những lợi ích kinh tế và an ninh gắn chặt với
nhau, không thể tách rời. Sự thịnh vượng ở trong nước phụ thuộc vào sự ổn định
ở những khu vực chủ chốt mà Mỹ buôn bán với, hoặc nhập khẩu các hàng hóa
quan trọng như dầu lửa và khí đốt. Mục tiêu thúc đẩy sự thịnh vượng đòi hỏi Mỹ
phải có vai trò lãnh đạo trong các thể chế tài chính và buôn bán quốc tế. Các nhà
hoạch định chính sách Mỹ chủ trương tăng cường sự phối hợp về tài chính, thúc
đẩy một hệ thống buôn bán mở cửa, tăng cường tính cạnh tranh của nền kinh tế
Mỹ trên cơ sở duy trì những lợi thế về công nghệ, kiểm soát và hỗ trợ xuất khẩu,
bảo đảm an ninh năng lượng, v.v.
Trong chiến lược an ninh quốc gia của tổng thống B. Clintơn, vấn đề kinh
tế luôn là một trọng điểm, theo đó việc giành vị thế lãnh đạo đối với nền kinh tế
thế giới cũng luôn được coi là ưu tiên và lợi ích quốc gia sống còn. Chính quyền
B. Clinton xác định việc kiên trì theo đuổi tự do hoá thương mại là biện pháp
chiến lược quan trọng nhất và là động lực của chính sách kinh tế đối ngoại.
XX.
2.1.2. Nội dung
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có nhiều biến động và
tương quan so sánh lực lượng nghiêng về có lợi cho CNTB. Đứng trước tình
hình thế giới như vậy, đòi hỏi các quốc gia phải có sự điều chỉnh chính sách của
mình cho phù hợp với yêu cầu và tính chất của tình hình thế giới. Sự sụp đổ của
Liên Xô đã làm cho Mỹ loại bỏ được một đối thủ và Mỹ ngày càng khẳng định
được vị trí siêu cường số một thế giới của mình. Việc đưa ra đường lối chính
sách của Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của thế giới trên tất cả các
lĩnh vực.
Trong bối cảnh đó, nước Mỹ có sự thay đổi về bộ máy chính quyền,
Washington đã tìm cho mình một người lãnh đạo mới để đứng lên giải quyết các
vấn đề trong nước và thế giới. Tháng 9/1993 Bill Clinton lên làm Tổng thống
thứ 42 của nước Mỹ và đưa ra chính sách đối ngoại mới cho Mỹ. Đó là "Chiến
lược mở rộng". Sau hơn 1 năm điều chỉnh, tháng 2/1995 Nhà Trắng chính thức
ra công bố chiến lược "Cam kết và Mở rộng". Đây được coi là chiến cuối cùng
của Mỹ trong những năm còn lại của thế kỷ XX.
Về tư tưởng, Mỹ luôn cho rằng chỉ có tăng cường “Cam kết và mở rộng”
mới có thể giảm bớt mối đe dọa với Mỹ và đảm bảo chắc chắn an ninh quốc gia
lợi ích cho Mỹ;
Về nhiệm vụ của chính sách đối ngoại, Mỹ đề ra 5 nhiệm vụ chính như
sau:
- Phải xây dựng một Châu Âu thống nhất dân chủ và hòa bình;
- Hình thành một đại gia đình Châu Á-Thái Bình Dương hùng mạnh và ổn
định;
- Mỹ là một lực lượng hòa bình quan trọng nhất thế giới, tiếp tục đảm
nhận vai trò lãnh đạo thế giới;
- Thông qua thể chế mậu dịch mở cửa hơn và có tính cạnh tranh hơn, sẽ
tạo ra cho nhân dân Mỹ nhiều cơ hội về việc làm;
- Mỹ tăng cường hợp tác quốc tế trong viêc đối phó với các mối đe dọa an
tr.173] và bốn yếu tố của chiến lược “mở rộng” là:
Thứ nhất, tăng cường củng cố cộng đồng các nền dân chủ thị trường lớn-
các nước tư bản phát triển nhất nhằm tạo ra nòng cốt cho sự phát triển mở rộng.
Thứ hai, giúp đỡ duy trì, củng cố các nền dân chủ mới và kinh tế thị
trường ở những nơi có thể, nhất là trong những nước có tầm quan trọng và cơ
hội, đặc biệt các nước SNG và Đông Âu.
Thứ ba, phải đối phó với sự xâm lược và ủng hộ sự tự do hóa ở các nước
thù địch với nền dân chủ và thị trường.
Thứ tư, theo đuổi chương trình nhân đạo bằng cách cung cấp viện trợ và cả bằng
hành động giúp đỡ nền dân chủ và kinh tế thị trường ở những khu vực thuộc mối
quan tâm nhân đạo lớn.[57, tr179]
"Cam kết" ở đây có thể được hiểu là Mỹ vẫn cần tham gia vào các vấn đề
quốc tế, không chỉ tham gia mà còn lãnh đạo, không những phải can thiệp mà
còn đi đầu. Bởi lẽ chính quyền Mỹ cũng nhận thấy trong thế giới công nghệ
thông tin cực kỳ nhanh nhạy như hiện nay, xu thế nhất thể hóa kinh tế khu vực
và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới tăng lên, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các
nước ngày càng lớn. Đây chính là lý do khiến Mỹ đưa ra chính sách "Cam kết
và mở rộng".
Nội dung chiến lược "Cam kết và mở rộng" bao gồm những nội dung
như sau:
Thứ nhất, củng cố cộng đồng các nền dân chủ thị trường lớn trong đó Mỹ
là hạt nhân;
Thứ hai, khuyến khích và củng cố các nền dân chủ mới và các nền kinh tế
thị trường ở nơi có thể, đặc biệt là ở các nước có tầm quan trọng đặc biệt và cơ
hội đặc biệt;
Thứ ba, chống lại sự xâm lược và ủng hộ sự giải phóng ở các nước thù
địch với dân chủ và thị trường;[11, tr.10-11]
Theo đuổi chương trình nhân đạo, không chỉ đang cung cấp viện trợ mà
còn trợ giúp cho "dân chủ và thị trường".
Bản chất của chiến lược "Cam kết và Mở rộng" là phát huy vai trò siêu