Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton từ năm 1993 đến năm 2001 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
LỘC THỊ THỦY

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ DƯỚI
THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2001

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.02.06

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thế Quế
Hà Nội, 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chương 1.NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON 11
1.1.Tình hình quốc tế 11
1.2. Tình hình nước Mỹ 14
1.3. Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bush (Cha) 18
Chương 2.CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ TỪ NĂM 1993 ĐẾN
NĂM 2001 22
2.1. Mục tiêu, nội dung và lợi ích quốc gia của Mỹ trong chính sách đối
ngoại dưới thời Tổng thống Bill Clinton 22
2.1.1. Mục tiêu 22
2.1.2. Nội dung 26
2.1.3. Lợi ích quốc gia 35
2.2. Sự triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ 37
2.2.1. Đối với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương 37
2.2.2. Đối với khu vực Châu Âu 51
2.2.3. Đối với khu vực Trung Đông 57
2.2.4. Đối với Châu Phi 62
2.2.5. Đối với khu vực Mỹ La Tinh 65
2.3. Nhận xét về sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của chính
quyền Clinton 72
Chương 3. ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ DƯỚI
THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN
QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM 78
3.1. Một số đánh giá về việc triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ
dưới thời Tổng thống Bill Clinton 78
3.1.1. Những thành tựu 78

2
3.1.2. Những hạn chế 86
3.2. Tác động của chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á-Thái Bình Dương
ARF
ASEAN Regional Forum

Diễn đàn An ninh khu vực
ASEAN
ASEAN
The Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
ASEM
Asia - Europe Meeting
Hội nghị cấp cao Á-Âu
BTA
Bilateral Trade Agreement
Hiệp định Thương mại song
phương
EAS
Forum East Asia Summit
Diễn đàn Đông Á
IMF
International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
FTAA
Free Trade Area of the
Americas
Khu vực thương mại tự do
Châu Mỹ

South American Common
Market
Khối thị trường chung Nam
Mỹ
NATO
North Atlantic Treaty
Organization
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NMD
National Missible Defense
Hệ thống phòng thủ quốc gia
NICs
Newly Industrialized Countries
Các nước công nghiệp mới
NTR

Normal Trade Relation
Quy chế quan hệ thương mại
bình thường
OAS
Organization of American
States
Tổ chức các Quốc gia Châu
Mỹ
OAU
Organization of African Unity
Tổ chức Thống nhất Châu Phi
POW
Prisoners of War
Tù binh chiến tranh

1. Lí do chọn đề tài
Chiến tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô và Đông Âu. Tình hình thế giới có nhiều biến động và thay đổi lớn.
Đứng trước tình hình đó, các quốc gia trên thế giới đều phải có những sự thay
đổi và điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với tình hình quốc tế và khu vực.
Để phù hợp với sự thay đổi của tình hình nói trên, Mỹ cũng đã có sự điều
chỉnh chính sách đối ngoại.
Đây là giai đoạn trật tự thế giới hai cực không còn nữa, lợi thế nghiêng
về phía Mỹ. Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton
đã có những ảnh hưởng nhất định đến quan hệ quốc tế cũng như an ninh chính
trị của các quốc gia trên thế giới.
Sau khi nhậm chức ngày 20/1/1993, về đối nội, chính quyền của Tổng
thống Bill Clinton tập trung giải quyết những vấn đề nước Mỹ đang phải đối
mặt như: sức mạnh quân sự bị giảm sút do cuộc chạy đua vũ trang làm cho
chi phí quốc phòng tăng, khiến cho nền kinh tế của Mỹ bị giảm sút nghiêm
trọng, các cuộc xung đột sắc tộc, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng.
Điều này đã dẫn đến những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội của
nước Mỹ.
Về đối ngoại, Mỹ tiếp tục thực hiện mục tiêu duy trì "vị trí siêu cường
số một" thế giới. Để đạt được mục tiêu trên, chính quyền Clinton đã đưa ra
các biện pháp tiếp cận mềm dẻo, linh hoạt, thực dụng đối với các vấn đề quan
hệ quốc tế, kết hợp sức mạnh quân sự với sức mạnh mềm, chuyển từ ngoại
giao đơn phương sang đa phương, thúc đẩy quan hệ đồng minh với các đối tác
chiến lược như Nhật Bản, NATO, tăng cường hợp tác với các nước thuộc lục
địa Á - Âu. Bên cạnh đó, chính quyền Clinton luôn sử dụng các chiêu bài dân
chủ và nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để gây sức ép và can thiệp vào công việc
nội bộ của các nước khác.

6
Trong bối cảnh chính quyền Clinton đã thực hiện và điều chỉnh chính

7
4. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill
Clinton đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả và các nhà nghiên
cứu của nước Mỹ, Việt Nam, cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài. Công
trình nghiên cứu đó có thể chia thành các nhóm sau:
Trong nhóm công trình nghiên cứu về Chính sách đối ngoại của Mỹ
dưới thời Tổng thống Bill Clinton có thể kể một số công trình tiêu biểu của
các nhà nghiên cứu Mỹ như sau: Preparing America's Foreign Policy for the
21th Century của David L. Bore and Edward J. Perkin xuất bản năm 1999.
Trong cuốn sách này tác giả tập trung nghiên cứu và phân tích chính sách đối
ngoại của Hoa Kỳ và những sự điều chỉnh để chuẩn bị đối phó với những biến
động của thế kỷ XXI. Nhóm nghiên cứu của những học giả nước ngoài khác
về chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton như: Bill
Clinton (A Taking Part Book); Sherrow Victoria; Library Binding; Published
1993; The Agenda: Inside the Clinton White House; Bob Woodward, Julie
Rubenstein (Editor); Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu về chính
sách đối ngoại của Mỹ đối với Việt Nam như Why the US should Normalize
with Vietnam của tác giả Frederick. Brown đăng trên VBJ tháng 12/1993.
Trong bài này tác giả đi sâu vào phân tích nguyên nhân vì sao Hoa Kỳ phải
bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Mass Market Paperback, Published
1995; Clinton’world: Remarking America Foreign Policy, William G.
Hyland. Smith, Tony (1994). American mission: The United States and the
worldwide strugger for democracy in the twentieth century, Princetor, NJ.
Princeton University Press. Thomas Dye. R. (1997), Politics in America,
Prentice Hall Inc, New Jersey. US Vietnam Normalize – Past, Present, Future
của Frederick. Brown xuất bản năm 1997. Trong công trình này, tác giả đi sâu
vào phân tích quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ quá
khứ đến hiện tại và tương lai.
Trong nhóm các công trình nghiên cứu Chính sách đối ngoại của Mỹ

thừa những bài viết, công trình đã công bố, tác giả đi sâu vào nghiên cứu và
phân tích đề tài này. 9
5. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn "Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống
Bill Clinton (từ năm 1993 đến năm 2001) là một đề tài nghiên cứu mang tính
chất liên ngành, vừa là một vấn đề của lịch sử thế giới hiện đại, vừa là vấn đề
thuộc lịch sử quan hệ quốc tế. Do đó, trong việc nghiên cứu đề tài tác giả đã
sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp nghiên cứu quan hệ
quốc tế.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số các phương pháp như: phương
pháp logic; phương pháp hệ thống hóa và khái quát hóa; phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương pháp so sánh.
5.2. Nguồn tư liệu
Các văn bản gốc bao gồm các bài diễn văn, tuyên bố, hiệp định, thông
điệp liên bang của chính quyền Tổng thống Bill Clinton.
Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung
và chính sách đối ngoại của chính quyền Clinton nói riêng do các học giả Mỹ,
nước ngoài và Việt Nam nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
- Thông qua việc phân tích, nghiên cứu, đề tài góp phần làm rõ cơ sở
hình thành, mục tiêu, nội dung và sự triển khai chính sách đối ngoại của Mỹ
dưới thời Tổng thống Bill Clinton và những tác động của nó đến quan hệ
quốc tế.
- Luận văn sẽ đóng góp thêm vào tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu và giảng dạy về lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại.
7. Kết cấu của luận văn
11
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
1.1.Tình hình quốc tế
Dưới thời tổng thống Bill Clinton, những biến động của môi trường chính
trị, an ninh và kinh tế quốc tế luôn là nhân tố chi phối mạnh mẽ đến chính
sách cũng như hoạt động đối ngoại Mỹ. Trước hết, đó là sự kết thúc của trật
tự thế giới hai cực, một hình thái biểu hiện của cuộc đối đầu Đông - Tây khốc
liệt kéo dài gần nửa thế kỷ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, cùng với
sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới tan rã, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khủng
hoảng, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, so sánh lực lượng thế giới
nghiêng về có lợi cho Mỹ và chủ nghĩa tư bản. Những sự kiện này làm thay
đổi sâu sắc cục diện thế giới, cơ cấu địa - chính trị và sự phân bố quyền lực
toàn cầu bị đảo lộn.
Trong bối cảnh đó, trên thế giới đã diễn ra những thay đổi mang tính
đan xen nhau rất phức tạp, thậm chí trái chiều nhau. Hoà bình, hợp tác và phát
triển trở thành một xu thế lớn trong quan hệ quốc tế. Với nhiều cấp độ khác
nhau, tiến trình cải thiện quan hệ giữa các nước được thúc đẩy, hình thành
nhiều phương thức hợp tác, liên kết mới trên các lĩnh vực theo xu hướng chú
trọng lợi ích dân tộc và mục tiêu phát triển. Các quốc gia độc lập, có chủ

giữa các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để bóc lột về kinh tế, áp đặt về
chính trị với các lực lượng đấu tranh chống toàn cầu hóa phi nhân bản, bảo
vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự tiến bộ xã hội. Do đó, toàn
cầu hóa không chỉ thuần tuý là một quá trình kinh tế - kỹ thuật, mà còn là
cuộc đấu tranh kinh tế - xã hội, kinh tế - chính trị và văn hoá- tư tưởng rất
gay gắt với thời cơ và thách thức đan xen nhau đối với nhiều nước, nhất là
các nước đang phát triển.
Sau chiến tranh Lạnh, tính chất và nội dung giao lưu quốc tế cũng thay
đổi một cách cơ bản. Trong quan hệ quốc tế, vị trí ưu tiên hàng đầu thuộc về
yếu tố kinh tế. Phương thức tập hợp lực lượng trên thế giới cũng thay đổi
mạnh và được quy định trước hết và chủ yếu từ lợi ích kinh tế - chính trị của

13
các quốc gia. Mặt khác, phương thức tập hợp lực lượng quốc tế ngày càng trở
nên cơ động, linh hoạt, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Sự tập trung quyền lực
và sự hình thành các trung tâm quyền lực trên thế giới dựa trên cơ sở tập trung
sức mạnh kinh tế- chính trị và hình thành các trung tâm kinh tế- chính trị hùng
mạnh. Việc mở rộng không gian, tăng cường về lực lượng của các trung tâm đó
làm cho cuộc cạnh tranh quyền lực trên thế giới, cũng như ở các khu vực ngày
càng trở nên gay gắt. Đây là một tiền đề thúc đẩy khuynh hướng hình thành trật
tự thế giới đa cực trong quan hệ quốc tế hiện đại. Các trung tâm quyền lực quốc
tế, mặc dù có sự khác biệt về quyền lợi quốc gia và chế độ chính trị- xã hội,
nhưng không đối đầu với nhau, mà vừa đấu tranh quyết liệt kiềm chế lẫn nhau,
lại vừa có khả năng thỏa hiệp và hợp tác với nhau.[77, 85]
Trong điều kiện cách mạng khoa học- công nghệ và toàn cầu hoá, sự
cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn đang làm thu hẹp đáng kể khoảng cách
chênh lệch về thực lực kinh tế với nhau. Mối quan hệ giữa các nước thay đổi
nhanh chóng, từ chỗ mất cân bằng chuyển sang tìm kiếm sự cân bằng mới,
kiềm chế bất đồng, tránh xung đột mang tính chất đối kháng. Đặc biệt là sau
sự kiện 11/9/2001 các nước đều tiến hành điều chỉnh chiến lược và chính sách

khác, quá trình triển khai chiến lược toàn cầu của Mỹ đối với phong trào cách
mạng, tiến bộ trên thế giới sau chiến tranh Lạnh diễn ra không như Mỹ dự
kiến. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tuy chưa hoàn toàn vượt qua
khủng hoảng, nhưng có những dấu hiệu phục hồi rõ rệt. Các nước xã hội chủ
nghĩa không chỉ tiếp tục đứng vững, mà còn giành được nhiều thành tựu quan
trọng trong cải cách, đổi mới và nâng cao vị thế quốc tế. Làn sóng cánh tả
ngày càng lan rộng tại khu vực Mỹ Latinh vốn được coi là “sân sau” của Mỹ.
Những biến động của tình hình nước Mỹ và quốc tế như đã nêu vừa tạo
ra những cơ hội thuận lợi, vừa đem lại khó khăn, thách thức đối với chính
quyền Tổng thống Bill Clinton trong quá trình triển khai chiến lược toàn cầu,
cũng như việc hoạch định, thực thi và điều chỉnh chính sách đối ngoại thời kỳ
sau chiến tranh Lạnh.
1.2. Tình hình nước Mỹ
Nước Mỹ (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ- The United States of America)
được thành lập ngày 04/7/1776, nằm ở tây bán cầu, phía bắc lục địa Châu Mỹ.

15
Sau hơn 300 năm phát triển, ngày nay nước Mỹ gồm 50 tiểu bang và 2 quận
Liên bang, với diện tích hơn 9,6 triệu km2, đứng thứ tư trên thế giới sau Liên
bang Nga, Canađa, Trung Quốc và chiếm 6,2% diện tích toàn cầu.[40, 54]
Ngoài hai tiểu bang là Alaska nằm phía Tây Bắc Canađa và Hawaii
nằm trên Thái Bình Dương, phần lục địa chính của nước Mỹ hai mặt giáp
biển: Đại Tây Dương ở phía Đông, Thái Bình Dương ở phía Tây; từ Bắc
xuống Nam rộng 2500 km, từ Đông sang Tây rộng 4500 km, trải dài trên bốn
múi giờ. Dân số của nước Mỹ khoảng 300 triệu người (năm 2006), đứng thứ
ba thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ. Thành phần dân cư đa chủng tộc, với
31 nhóm sắc tộc có số dân trên 1 triệu người, người Mỹ da trắng chiếm
73,9%, người Mỹ gốc châu Phi- 12,4%, người Mỹ gốc châu Á- 4,4%, số còn
lại là người gốc bản địa và các chủng tộc khác [32, 10]. Với đặc điểm địa lý
tự nhiên và xã hội đa dạng, nguồn tài nguyên phong phú, nước Mỹ có điều

thường trực 1,4 triệu người được triển khai ở 1.100 căn cứ quân sự trong
nước, 270 nghìn quân ở 209 căn cứ quân sự tại 35 nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới. Mỹ có kho vũ khí hạt nhân chiến lược lớn nhất thế giới, khoảng
7.100 đầu đạn hạt nhân với 3 loại là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn
đạo đặt trên tàu ngầm nguyên tử và máy bay ném bom chiến lược mang đầu
đạn hạt nhân. Mỹ đi đầu trong các công nghệ quân sự và có nguồn tài chính,
nhân lực lớn để có thể biến nhiều ý tưởng quân sự thành hiện thực. Ngân sách
quốc phòng của Mỹ liên tục tăng, chiếm 41% ngân sách quốc phòng của thế
giới, năm 1999 Mỹ chi 276,2 tỷ USD cho các vấn đề an ninh Quốc phòng. Mỹ
đã cam kết hỗ trợ phòng thủ hoặc ủng hộ các nỗ lực quân sự của 31 nước và
ký hiệp định hợp tác quân sự với 29 nước khác. Sức mạnh quân sự của Mỹ
không chỉ ở số quân và các căn cứ trên toàn cầu, mà còn thể hiện ở trình độ
công nghệ cao và kỹ thuật ứng dụng hiệu quả trong quốc phòng, tỷ trọng vũ
khí công nghệ cao được Mỹ sử dụng ngày càng tăng.
Về khoa học công nghệ, giữa thập niên 90 của thế kỷ XX có 30 nước
trong tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) chiếm 85% thành tựu
khoa học công nghệ mới của thế giới, thì riêng Mỹ chiếm 65% số bản quyền
của thế giới. 2/3 số người đạt giải Nobel về kinh tế và khoa học trên thế giới
là công dân Mỹ. Chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Mỹ chiếm

17
40,6% của toàn thế giới và bằng 6 nước còn lại trong Nhóm G7 cộng lại.
Trong tổng số 29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, Mỹ đứng đầu 20
ngành, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, không
gian điều khiển học, v.v.
Về chính trị - xã hội, từ sau chiến tranh Lạnh Mỹ với vị thế siêu cường
duy nhất, có vai trò chi phối đáng kể nền chính trị thế giới. Tình hình chính
trị- xã hội trong nước nhìn chung ổn định với sự thay nhau cầm quyền, điều
hành đất nước của hai đảng tư sản lớn là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà.
Việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của cả hai đảng này

trên phương diện chính sách đối ngoại, chính quyền B.Clinton cũng hướng tới
việc duy trì và củng cố vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ trên thế giới.
1.3. Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng thống Bush (Cha)
Có thể nói rằng, mỗi một thời kỳ Tổng thống Mỹ đều có những chính
sách đối ngoại riêng để phù hợp với từng mục tiêu và thời kỳ phát triển trên
thế giới và nước Mỹ. Nếu như các đời Tổng thống trước của Mỹ đều lấy tên
của mình để đặt cho chính sách đối ngoại của nhiệm kỳ đó như Tổng thống
Truman có "học thuyết Truman", Tổng thống Kenedy có "học thuyết
Kenedy", thì Tổng thống Bush (Cha) lại lấy học thuyết “Vượt trên ngăn chặn”
làm chính sách đối ngoại cho nhiệm kỳ của mình.
Chiến lược "Vượt trên ngăn chặn" được xuất hiện trong một diễn văn
của Tổng thống Bush (cha) vào 12/5/1989, trong đó Tổng thống Bush (Cha)
cũng nêu rõ mục tiêu của Mỹ đối với chiến lược này là: "Mục tiêu của Mỹ là
ngày càng vượt quá một sự bao vây đơn giản đối với chủ nghĩa bành trướng
Xô Viết. Chúng ta có ý định đưa Liên Xô nhập vào cộng đồng các dân tộc, và
trong một chừng mực Liên Xô đi đến một sự cởi mở lớn hơn và dân chủ hơn,
trong chừng mực người ta đối phó với nhiều thách thức bằng một thái độ
quốc tế có trách nhiệm thì chúng ta cũng sẽ có những biện pháp của chúng
ta". [48, 22]
Những mục tiêu chiến lược "Vượt trên ngăn chặn" của Tổng thống
Bush (cha)
Thứ nhất, tăng cường sự ổn định chiến lược có lợi cho Mỹ bằng cách
theo đuổi những hiệp định kiểm soát vũ khí, đồng thời hiện đại hóa lực lượng

19
răn đe, phát triển các kỹ thuật phòng thủ chiến lược và tăng cường khả năng
vũ khí thông thường của Mỹ.
Thứ hai, thực hiện quan điểm "An ninh quốc gia và sức mạnh kinh tế
không thể tách rời" ra sức "phát triển một nền kinh tế Mỹ hùng mạnh, thịnh
vượng và có sức cạnh tranh".

đạo của Mỹ tại các khu vực ảnh hưởng của mình.
Sau chiến tranh Lạnh, có thể thấy quan điểm sức mạnh là quan điểm cố
hữu của các chính quyền Mỹ. Sức mạnh Mỹ được coi là sức mạnh tổng hợp
bao gồm kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao, trong đó sức mạnh quân sự
vẫn giữ vai trò quan trọng. Tháng 8/1991, Tổng thống Bush (cha) đưa ra
quan điểm sức mạnh quân sự của Mỹ là nguồn đảm bảo và là cơ sở cho nền
an ninh trên phạm vi khu vực toàn cầu.
Thứ hai, thúc đẩy sự thịnh vượng của Mỹ thông qua nỗ lực trong và
ngoài nước. Đây là mục tiêu cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ sau
chiến tranh Lạnh. Tổng thống Bush (cha) khẳng định những lợi ích kinh tế và
an ninh Mỹ gắn chặt với nhau, không tách rời nhau. Sự thịnh vượng ở trong
nước phụ thuộc vào ổn định ở khu vực chủ chốt mà Mỹ buôn bán hoặc xuất
nhập khẩu hàng hóa. Chính mục tiêu thúc đẩy sự thịnh vượng này đòi hỏi Mỹ
phải có sự lãnh đạo khu vực và thế giới theo cách của Mỹ thì mới có thể thực
hiện được những mục tiêu đề ra như việc thúc đẩy một hệ thống buôn bán mở
cửa, tăng cường tính cạnh tranh của nước Mỹ trên cơ sở duy trì những lợi thế
về công nghệ.
Thứ ba,thúc đẩy dân chủ và nhân quyền. Sau chiến tranh Lạnh chính
quyền Tổng thống Bush (Cha) đã tìm cách khuếch trương vấn đề dân chủ và
nhân quyền, coi đó là quốc sách để nâng cao vị thế của Mỹ trên trường quốc
tế. Mỹ coi phát triển dân chủ nhân quyền trên thế giới là để đảm bảo về an
ninh của Mỹ ở các khu vực có liên quan.[37, 23- 24]
Nếu như chiến lược "ngăn chặn" chủ trương dùng các biện pháp cứng
rắn như đối đầu quân sự, cô lập chính trị, bao vây kinh tế để chống lại Liên
Xô và các nước XHCN, thì đến chiến lược "Vượt trên ngăn chặn" chính
quyền Bush lại dùng chính sách và các biện pháp toàn diện hơn trên tất cả các
lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế, quân sự, ngoại giao. Hình thức thực hiện

21
chiến lược này chính là dùng con bài "Diễn biến hòa bình" để trấn áp các

Chiến lược toàn cầu của Mỹ được triển khai ngay sau khi chiến tranh thế
giới thứ II kết thúc đó là vươn lên làm bá chủ thế giới. Trong suốt thời kỳ chiến
tranh Lạnh, nước Mỹ nhiều lần điều chỉnh chiến lược toàn cầu, mà nội dung
trọng tâm là làm thế nào để ngăn chặn ảnh hưởng và đi đến thủ tiêu chủ nghĩa
cộng sản, địch thủ số một cản trở tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ. Bởi vậy,
đối với giới hoạch định chính sách ở Mỹ, sự tan rã của Liên Xô và hệ thống xã
hội chủ nghĩa là thời cơ thuận lợi để nước Mỹ hoàn tất mục tiêu chiến lược
toàn cầu đã được vạch ra.
Các đời tổng thống Mỹ, dù thuộc Đảng Cộng hòa hay Đảng Dân chủ đều
khẳng định mục tiêu chiến lược bao trùm trong chính sách đối ngoại là duy trì
và củng cố vị trí siêu cường duy nhất, xác lập vai trò “lãnh đạo thế giới” của
nước Mỹ, phục vụ cho mục tiêu chiến lược toàn cầu xuyên suốt, mang tính
nhất quán, lâu dài là trở thành bá chủ thế giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị,
tư tưởng, kinh tế- thương mại, quân sự - an ninh Tổng thống Bill Clinton
trong diễn văn nhậm chức Tổng thống ngày 20/1/1993 nhấn mạnh, “Được sự
hỗ trợ bởi một nền quốc phòng có hiệu quả và một nền kinh tế mạnh mẽ hơn,
dân tộc chúng ta sẽ sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp
mọi nơi”[17, 8].
Cũng trong bài diễn văn trên Tổng thống B.Clinton tuyên bố: " Ngày
hôm nay chúng ta cầu cho kỷ nguyên bế tắc, trôi giạt sẽ ra đi và cho một mùa
đổi mới trên đất nước Hoa Kỳ bắt đầu. Để thay đổi nước Hoa Kỳ, chúng ta
cần phải cả gan và dám làm những gì mà các thế hệ trước chưa làm, " [81,
1319]. Sự "thay đổi" mà Tổng thống W.J. Clinton nói đến là phải phục hồi sự
phát triển của nền kinh tế và thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo.

23
Để đạt được điều đó, chính quyền Clinton tập trung xây dựng chiến lược mới
thay thế cho chiến lược "Vượt trên ngăn chặn" không còn phù hợp nữa.
Tháng 9/1993, chiến lược "mở rộng" đã được tuyên bố. Tháng 7/1994, chính
quyền Clinton đưa ra chiến lược "Cam kết và mở rộng". Chiến lược “Cam kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status