ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
(1993-2001)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
(1993-2001)
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60 22 03 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH DŨNG
Hà Nội - 2017
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương
4
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5
- ASEAN: Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc
gia Đông Nam Á)
- GDP: Gross Domestic Product (tổng sản phẩm quốc nội)
- NASA: National Aeronautics and Space Administration (Cục Quản trị
Không Gian và Hàng Không Quốc gia – Hoa Kỳ)
- KH&CN: Khoa học và công nghệ
- R&D: Research & development (Nghiên cứu và triển khai)
- OECD: Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
- WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
6
Là một quốc gia trẻ tuổi, luôn đi tiên phong trong cuộc cách mạng
KH&CN, coi công nghệ là công cụ “chìa khóa vàng” đối với sự phát triển đất
nước, Mỹ đã rất nhạy bén khi tiến hành điều chỉnh chiến lược phát triển trong
đó nổi bật là sự điều chỉnh trong chính sách KH&CN dưới thời cầm quyền của
Tổng thống Bill Clinton (1993 - 2001). Trải qua quá trình phát triển song hành
cùng sự phát triển của đất nước, chính sách KH&CN dưới thời Bill Clinton
đánh dấu bước phát triển về chất của KH&CN Hoa Kỳ, phù hợp với nhu cầu
phát triển của đất nước và xu thế khách quan của thời đại. Nó mang đậm dấu
ấn riêng của một thời kỳ lịch sử đặc biệt và để lại nhiều bài học giá trị cho
nhân loại.
Sự điều chỉnh kịp thời, đúng đắn của Chính phủ Clinton đã phát huy tối
đa tiềm lực của quốc gia về KH&CN, khiến cho nước Mỹ đạt được những
thành tựu đáng kinh ngạc. Giai đoạn 1993-2001 là thời kì tăng trưởng thịnh
vượng dài nhất trong lịch sử nước Mỹ với tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Nước Mỹ trở thành cái nôi
của nền “kinh tế mới” - “kinh tế tri thức” - đây được coi là xu thế phát triển
mới nhất của nền kinh tế thế giới trong thập niên 90 của thế kỷ XX và những
thập niên đầu thế kỉ XXI. Đòn bẩy tạo nên bước phát triển nhảy vọt của kinh tế
Mỹ trong thời kỳ này là sự phát triển của KH&CN.
Do vậy, những điều chỉnh về mặt chính sách cùng những thành tích nổi
bật về kinh tế - xã hội Mỹ trong thời kì cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton
(1993 - 2001), đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà chính trị, các học
giả, các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách ở nhiều nước trên thế
giới, trong đó có Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề "Chính sách
khoa học và công nghệ của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (19932001)" làm đề tài nghiên cứu luận văn. Tìm hiểu nội dung này không chỉ giúp
chúng ta hiểu được những điều chỉnh trong chính sách KH&CN, thấy được
tác động sâu sắc, nhiều chiều của KH&CN đối với kinh tế - xã hội Mỹ mà còn
8
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo là các phương pháp của khoa học lịch sử như
phương pháp lịch đại, phương pháp đồng đại, phương pháp phân kỳ, phương
9
pháp phân tích, so sánh... Những phương pháp này cho phép chúng tôi dựa
trên những nguồn tài liệu / sử liệu để kết nối, xâu chuỗi và diễn giải về những
thay đổi của hoàn cảnh lịch sử cũng như chính sách khoa học công nghệ và
tác động của những chính sách đó đối với sự phát triển của nước Mỹ trong
giai đoạn 1993-2001.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp logic, phương pháp thống
kê... để thực hiện luận văn. Chúng tôi sử dụng những phương pháp này nhằm
làm nổi bật sự thay đổi trong chính sách khoa học công nghệ của Mỹ, làm rõ
sự chuyển biến của kinh tế-xã hội Mỹ dưới tác động của những chính sách đó.
Về hướng tiếp cận: Nghiên cứu đề tài chính sách KH&CN của Mỹ dưới
thời Bill Clinton, chúng tôi xác định các phương pháp tiếp cận dưới góc nhìn
lịch sử KH&CN. Hướng tiếp cận này phù hợp với đề tài cũng như mục đích
nghiên cứu đặt ra.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách khoa học và công nghệ của Mỹ giai đoạn 1993-2001
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton (1993-2001).
Về không gian: Đề tài nghiên cứu về nước Mỹ thời kỳ 1993-2001
5. Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tài liệu sơ cấp: văn kiện của Tổng thống Bill Clinton về KH&CN
- Tài liệu thứ cấp: sách, báo, các công trình chuyên khảo...
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khoa học công nghệ dưới thời Tổng thống Bill Clinton là một đề tài
sách được chính phủ Mỹ ưu tiên hàng đầu.
Ngoài ra, các bài viết trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay như: Nguyễn
Điền với bài“công nghệ tin học xâm nhập vào quá trình sản xuất kinh doanh
của các trang trại nông nghiệp Mỹ” số 06 xuất bản năm 1997; Lưu Ngọc
Trịnh - Bùi Trường Giang “Kinh tế Mỹ năm 1997 - điểm sáng của thế giới
công nghiệp phát triển” số 01 xuất bản năm 1998; Michael J.Mandel “Cuộc
suy thoái sắp tới của nền kinh tế internet” số 06 xuất bản năm 2002; Đỗ Lộc
Diệp “Đặc trưng của kinh tế Mỹ hiện nay” số 04 xuất bản năm 1997; Nguyễn
11
Cảnh Chắt “những chính sách và biện pháp của Mỹ trong việc phát triển
khoa học kỹ thuật” số 05 xuất bản năm 2002; Nguyễn Thu Hằng “Nước Mỹ từ
thâm hụt đến thặng dư ngân sách - thực chất và tác động” số 06 xuất bản năm
2000; Trần Văn Tùng “Hoa Kì và nền kinh tế tri thức” số 03 xuất bản năm 1999...
đã cung cấp những thông tin và số liệu quan trọng để tác giả tham khảo làm cơ sở
phân tích, đánh giá.
Bên cạnh nguồn tài liệu tiếng Việt, các văn kiện của Tổng thống
Clinton về KH&CN như: “Technology for America’s Economic Growth, A
New Direction to Build Economic Strength, President William J. Clinton Vice
President Albert Gore, Jr., February 22, 1993” đã cung cấp cho chúng tôi
nguồn tư liệu gốc quý giá để phác thảo những nét chính trong chính sách
KH&CN của Mỹ trong giai đoạn này.
Một số bài viết, báo cáo của OECD trên các website đã cung cấp cho
chúng tôi những số liệu về sự phát triển kinh tế Mỹ, trên cơ sở đó chúng tôi
đánh giá khách quan tác động của chính sách KH&CN.
Tựu chung lại, nhiều nghiên cứu, chuyên khảo, công trình khoa học của
các học giả trong và ngoài nước là cơ sở lý luận và nguồn tài liệu quan trọng
trong quá trình thực hiện đề tài luận văn “Chính sách khoa học công nghệ
của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993-2001)”.
giới. Năm 2000, GDP của Mỹ chiếm gần 30% GDP toàn thế giới [6; tr.15].
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Mỹ đạt được sự phát triển to
lớn đó là do Chính phủ thường xuyên coi trọng và đề ra những chính sách
thúc đẩy KH&CN phát triển, đặc biệt là việc nghiên cứu, phát minh.
Mỹ là quốc gia có chính sách phát triển KH&CN từ rất sớm và trong
mỗi thời kỳ chính sách KH&CN của Mỹ lại có những đặc trưng riêng.
Từ khi xuất hiện với tư cách một quốc gia độc lập (1776), Hoa Kỳ đã
khuyến khích khoa học và phát minh. Bản thân Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh
mong ước khuyến khích sự sáng tạo khoa học khi trao cho Quốc hội quyền
“thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các môn nghệ thuật hữu ích, bằng việc
đảm bảo cho các tác giả và các nhà phát minh đặc quyền đối với những tác
phẩm và khám phá của họ trong những khoảng thời gian nhất định” [93;
tr.59]. Điều khoản này tạo thành cơ sở cho các hệ thống bằng sáng chế và bản
quyền của Hoa Kỳ, những hệ thống này đảm bảo rằng các phát minh và các
công trình sáng tạo khác không thể bị sao chép hoặc sử dụng mà không để
cho người tạo ra nó được hưởng một sự đền bù nào đó.
Nhận thức về vị trí, vai trò của KH&CN không chỉ được thể hiện rõ ở
các nhà lãnh đạo nước Mỹ mà còn bén rễ vào từng công dân bình thường.
G.Washington, vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, ngay từ đầu đã rất quan
tâm, cổ vũ những phát minh về vũ khí của các nhà khoa học nghiệp dư. Các
công dân Mỹ được thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng về các hoạt
14
động KH&CN hơn ở các nước khác. Một kết quả nghiên cứu dù là nhỏ mới
đạt được cũng được công bố ngay. Chẳng hạn như cuộc triển lãm thế kỷ được
Tổng thống Grant mở tại Philadelphia vào tháng 5 năm 1876 là một ví dụ điển
hình. Quốc hội đã dành riêng một khoản 2 triệu USD, Pennsylvania góp một
triệu USD và Philadelphia có 1,5 triệu USD cho cuộc triển lãm ở công viên
Fairmon. Nơi đây trưng bày các phát minh lớn trong các thập kỷ qua, bao
Với sự nở rộ của những phát minh kỹ thuật, Andrew Carnegie đánh giá năm
1886 rằng: “nước Mỹ được sinh ra là để trở thành một nước công nghệ tiên
tiến nhất và dân chủ nhất trong lịch sử thế giới dường như chắc chắn đã
thành hiện thực” [3; tr.769].
Đầu thế kỷ XX, Quốc hội Mỹ đã thông qua những đạo luật hỗ trợ cho
quá trình phát triển công nghiệp theo phương thức mới (liên kết giữa khoa
học kỹ thuật với sản xuất) bằng những hợp đồng ký kết giữa nhà nước và các
công ty tư nhân. Tới thời tổng thống Roosevelt (1901-1909), người ta còn
chính thức thành lập một Ủy ban để triển khai các hoạt động hỗ trợ này. Ủy
ban này có chức năng đặt hàng, hỗ trợ tài chính và mua các sản phẩm đã đặt
hàng để đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra (1914-1918) đã làm nảy sinh nhu
cầu rất lớn về hàng hóa quân sự, do đó giới cầm quyền Mỹ đã đẩy mạnh đầu
tư vào phát triển khoa học - kỹ thuật. Một mạng lưới các phòng thí nghiệm
Liên bang đã hình thành để thực hiện các hợp đồng cho Chính phủ.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do những thay đổi nhất định, chính
quyền Liên bang đã giảm bớt sự chú ý đến KH&CN so với giai đoạn trước.
Tuy nhiên, Chính phủ vẫn là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu để thúc đẩy
tiến bộ KH&CN ở các ngành tiên tiến nhất của công nghiệp. Ví dụ, để phát
triển ngành hàng không, chính quyền Liên bang đã thông qua một chương
trình dưới hình thức luật vào năm 1926 mang tên “Phát triển hàng không”.
Đây là một chương trình phát triển quy mô và lâu dài nhất của Mỹ trong lĩnh
vực hàng không. Trong chương trình này, nhà nước vừa tài trợ cho nghiên cứu
vừa đầu tư cho tổ chức sản xuất phương tiện hàng không phục vụ cho cả mục
đích dân sự và quân sự.
16
Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ năm 1939 đã tạo ra những điều kiện
thuận lợi để Mỹ trở thành nơi khởi nguồn của cuộc cách KH&CN hiện đại.
ưu tiên để phát triển KH&CN đã được đặt ra. Việc tìm kiếm những giải pháp
tối ưu cho sử dụng nguồn lực của nhà nước ở những hướng mà công nghệ còn
lạc hậu đã trở thành nền tảng cho chính sách KH&CN của Chính phủ Mỹ
trong giai đoạn này.
Cũng từ nhận thức khoa học là chân trời không cùng, ở Mỹ đã dần hình
thành học thuyết “phân chia trách nhiệm”; nghĩa là cả Nhà nước và tư nhân
đều có trách nhiệm đầu tư vào phát triển và ứng dụng KH&CN. Quan niệm
này được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đến thời Tổng
thống Carter (1976-1980) đã trở thành một nguyên tắc ưu tiên hàng đầu của
Chính phủ Mỹ.
Quan niệm căn bản của học thuyết “phân chia trách nhiệm” là: Trong điều
kiện của nền kinh tế thị trường và sự đối đầu về kỹ thuật quân sự ngày một
tăng, thì Chính phủ Liên bang cần nhận toàn bộ trách nhiệm về phát triển
khoa học cơ bản, phát triển kỹ thuật quân sự để đảm bảo an ninh quốc gia,
còn khu vực tư nhân gánh vác phần trách nhiệm nghiên cứu ứng dụng, phát
triển các tiến bộ kỹ thuật đáp ứng cơ chế thị trường và tạo ra các công nghệ
quân sự cũng như các công nghệ dân dụng theo các hợp đồng từ nguồn ngân
sách [57; tr.228].
Từ cuối thập kỷ 70, đặc biệt là từ đầu những năm 80, do vị thế kinh tế của
Mỹ trên thị trường thế giới yếu đi tương đối, tốc độ phát triển các tiến bộ kỹ
thuật có phần chậm lại và đặc biệt là sự cạnh tranh trên trường quốc tế tăng
lên mạnh mẽ đã buộc giới cầm quyền Mỹ phải xem xét lại học thuyết công
nghệ “phân chia trách nhiệm”.
Khi Reagan và Bush cầm quyền đã thay đổi cơ bản nội dung chính sách
KH&CN của nhà nước. Mục tiêu cơ bản của chính sách mới là phục hồi địa vị
lãnh đạo của Mỹ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật trên thế giới và giành được
vị thế cạnh tranh vượt trội trên thị trường công nghệ thế giới. Để đi tới mục
tiêu này, những người khởi xướng của chính sách mới cho rằng nhà nước
cũng như tư nhân đều có nghĩa vụ như nhau tài trợ để tạo ra kỹ thuật và công
18
dân sự trong khoảng thời gian từ 1982 đến đầu những năm 1990 tương đối
19
thấp (dưới 38% [31] nên khoảng cách về công nghệ trong nhiều ngành công
nghiệp dân dụng giữa Mỹ và các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản, Tây Âu chưa
thu hẹp được hoàn toàn.
Một biện pháp khác mà Chính phủ Mỹ đã sử dụng thành công để phát
triển khoa học - kỹ thuật trong thế kỷ XX là thành lập các “làng khoa học - kỹ
thuật”. Đó là nơi tập trung những trường đại học nổi tiếng, những xí nghiệp
sáng chế và những công ty đầu tư nghiên cứu, phát minh. Các đơn vị này
cùng hợp tác với nhau để thực hiện những đề tài khoa học.
Như vậy, trong mỗi giai đoạn khác nhau, Chính phủ Mỹ đã có những chính
sách KH&CN khác nhau nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu cuối cùng
là phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội, đảm bảo an
ninh quốc gia.
1.2 Bối cảnh lịch sử khi Tổng thống Bill Clinton lên cầm quyền
1.2.1 Tình hình thế giới
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Yalta giải thể với sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là nhân tố quan trọng hàng
đầu làm thay đổi mạnh mẽ tình hình thế giới trong những năm cuối thế kỉ XX.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với ưu thế vượt trội về kinh tế và quân sự, hai
siêu cường thế giới Mỹ - Liên xô đã chạy đua trong cuộc “Chiến tranh lạnh”
kéo dài hơn 40 năm (1945-1991). Cuộc chạy đua vũ trang đã tiêu tốn hơn 3000
tỷ USD khiến cho chính quyền Washington không đủ tiền đầu tư vào việc đổi
mới kĩ thuật của nền kinh tế, đúng vào lúc nền kinh tế Mỹ và thế giới ở vào
thời điểm bản lề, chuyển từ nền kỹ thuật công nghiệp sang một nền kỹ thuật
mới - kỹ thuật thông tin với những công nghệ mũi nhọn tạo ra năng suất lao
động cao [60; tr.9]. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế của Mỹ, đặc biệt
trong bối cảnh Nhật Bản, Tây Âu và các nước công nghiệp mới vươn lên mạnh
Mỹ và các nước Mỹ Latinh trong đó Mỹ là nước chi phối. Ở khu vực châu Âu,
Liên minh châu Âu (EU) ra đời với vai trò trung tâm của Đức ngày càng tăng, có
vai trò to lớn đối với nền kinh tế, chính trị - xã hội của các nước thành viên. Ở
châu Á - Thái Bình Dương, vai trò dẫn đầu của Nhật ngày càng rõ nét trong sơ đồ
“đàn nhạn bay” của các nước trong khu vực đang có tốc độ phát triển kinh tế
21
nhanh. Trong thế kiềng ba chân này, Mỹ vẫn có vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh tế tư bản chủ nghĩa nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Tuy nhiên, vị thế
của Mỹ ngày càng giảm sút tương đối, nhất là ở thời kì cuối thập niên 80 - đầu
thập niên 90 của thế kỉ XX trở đi. Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản, Đức làm
Mỹ suy yếu và mất lợi thế cạnh tranh trên một loạt ngành công nghiệp truyền
thống. Với những đột phá trong công nghệ chế tạo và bán dẫn, Nhật Bản giành
ngôi đầu thế giới từ Mỹ trong hai ngành công nghiệp chế tạo chủ chốt là ôtô và
điện tử. Kinh tế Đức phát triển mạnh, chiếm ưu thế trong các ngành cơ khí chế
tạo. Nếu như ngay sau năm 1945, Mỹ đứng đầu tuyệt đối, chiếm 40% tổng sản
phẩm kinh tế thế giới; đến năm 1950, cả Tây Âu và Nhật Bản gộp lại mới chiếm
26,3% nền kinh tế thế giới và bằng của Mỹ nhưng đến năm 1970, Tây Âu và
Nhật Bản cộng lại đạt tới 32,4%, lớn hơn Mỹ 1,5 lần (Mỹ là 23%). Năm 1993,
trong khi nền kinh tế Mỹ chiếm 21,5% nền kinh tế thế giới, thì chỉ riêng Nhật Bản
và Cộng hòa Liên bang Đức cộng lại đã đạt 26,4%, lớn hơn nền kinh tế của Mỹ
[4; tr.240]. Cuộc cạnh tranh trong thế giới tư bản nói riêng đang ngày càng trở nên
sôi động. Mỹ vẫn đứng đầu nền kinh tế thế giới, nhưng để lấy lại vị trí trước đây
của mình, Mỹ cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học kỹ thuật để tạo nên sự bứt phá
về kinh tế - văn hóa - xã hội.
Thế giới đa trung tâm đang hình thành, trong đó không một cường quốc
nào giành được ưu thế tuyệt đối như hai siêu cường Mỹ, Xô trong thời kì
Chiến tranh lạnh, song nước Mỹ vẫn còn ưu thế tương đối so với các cường
quốc khác trong một thời đoạn tương đối dài. Những cường quốc nói tới ở
thế có lợi nhất trong quan hệ quốc tế.
Thế kỉ XX kết thúc bằng một thời kì biến động có tính chất then chốt của
thập niên 90. Đối với chủ nghĩa tư bản nói riêng, thập niên 90 có thể coi là
“thập kỉ rất nóng và cũng rất lạnh, một thập kỉ tăng trưởng và khủng hoảng,
thủ cựu và hỗn loạn” [38; tr.401]. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong thập
niên 90 là sự đan xen của tăng trưởng và khủng hoảng, phục hồi và những bước
tiến phưu lưu, các quá trình thống nhất, đa dạng trong một thế giới toàn cầu
hóa. Trong bối cảnh đó, nước Mỹ có những xu hướng chiến lược như thế nào
để đối phó?
23
Bối cảnh thế giới và bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản đầu thập
niên 90 đã đặt ra nhiều cơ hội và cả những thách thức đối với Mỹ, tác động
không nhỏ đến những chính sách nói chung và chính sách KH&CN nói riêng
của quốc gia này bởi KH&CN là yếu tố then chốt đối với sự phát triển của
mỗi dân tộc. Nếu như không tận dụng được sức mạnh của KH&CN thì rất khó
để bắt nhịp được với xu thế phát triển của thế giới cũng như xác lập chỗ đứng
của mình trên trường quốc tế.
1.2.2 Tình hình trong nước
Những năm 90 là thời kì chuyển tiếp chiến lược, có tính chất bản lề
quan trọng giữa thế kỉ XX và thế kỉ XXI. Các nước lớn vừa xây dựng lực
lượng, vừa thử nghiệm, tìm tòi những cái mới với những tham vọng của riêng
mình. Mặc dù Mỹ vẫn là siêu cường trong thế giới tư bản với ưu thế vượt trội
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, nhưng tình hình thế giới cuối thế kỉ
XX khác xa với cuối thế kỉ XIX, sức mạnh của Mỹ không phải là tuyệt đối mà
vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của Tây Âu, Nhật Bản cùng các cường quốc
khác. Bên cạnh đó, ngay ở trong nước Mỹ cũng gặp phải nhiều vấn đề khó
khăn khi bước vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX.
Nền kinh tế Mỹ sau một thời gian phát triển cực thịnh trước và sau Chiến
trên thị trường.
Ngành công nghiệp ô tô vốn là niềm tự hào của nước Mỹ cũng bị giảm
sút nghiêm trọng. Năm 1988, các nhà máy ôtô thuộc ba công ti sản xuất ôtô
lớn nhất của Mỹ (General Motor, Ford, Chrysler) sản xuất 11,2 triệu ôtô,
trong đó 7,1 triệu là ôtô con, thì tới năm 1991, các nhà máy của ba công ty
này phải giảm sản lượng xuống còn 8,8 triệu chiếc, trong đó ôtô con còn 5,4
triệu. Cũng vào năm này, các công ty của Nhật sản xuất tới 13,3 triệu ôtô,
trong số này 9,8 triệu chiếc là ôtô con. Vào đầu những năm 1990, các nhà
máy ôtô của Mỹ chỉ sử dụng khoảng 60 - 65% công suất [25; tr.5]. Tình trạng
suy giảm của ngành công nghiệp ôtô Mỹ không chỉ là do năng suất lao động của
25