Chính sách khoa học và công nghệ của mỹ dưới thời tổng thống bill clinton (1993 2001) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HƢƠNG SEN

CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
MỸ DƢỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
(1993-2001)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HƢƠNG SEN

CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
MỸ DƢỚI THỜI TỔNG THỐNG BILL CLINTON
(1993-2001)

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60 22 03 11

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH DŨNG

Hà Nội - 2017



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................... 3
3. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 4
5. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu ......................................................................... 4
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 4
7. Đóng góp của đề tài ................................................................................... 6
8. Cấu trúc của luận văn............................................................................... 7
CHƢƠNG 1. TÌNH HÌNH KH&CN CỦA MỸ TRƢỚC NĂM 1993 VÀ BỐI
CẢNH LỊCH SỬ KHI TỔNG THỐNG BILL CLINTON LÊN CẦM QUYỀN .. 8
1.1 Tình hình KH&CN của Mỹ trƣớc năm 1993 ......................................... 8
1.2 Bối cảnh lịch sử khi Tổng thống Bill Clinton lên cầm quyền ............. 14
1.2.1 Tình hình thế giới.................................................................................. 14
1.2.2 Tình hình trong nước ............................................................................ 18
CHƢƠNG 2. NHỮNG ĐIỀU CHỈNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KH&CN CỦA MỸ (1993-2001) ...................... 25
2.1 Những điều chỉnh trong chính sách phát triển KH&CN của Mỹ dƣới
thời Tổng thống Bill Clintơn 1993-2001...................................................... 25
2.1.1Chuyển từ ưu tiên phục vụ quốc phòng sang ưu tiên phục hồi sức
mạnh kinh tế Mỹ ............................................................................................ 25
2.1.2 Chuyển từ nguyên tắc “phân chia trách nhiệm” sang xây dựng cơ chế
tác động mới của Nhà nước tới KH&CN...................................................... 29
2.2 Các biện pháp hỗ trợ thực hiện chính sách phát triển KH&CN của
Chính phủ....................................................................................................... 35
2.2.1Tuyên truyền, thuyết phục về định hướng mới .................................... 35
2.2.2 Tăng cường ngân sách và điều chỉnh nguồn lực đầu tư cho KH&CN ....... 36
2.2.3Khuyến khích tư nhân đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng ................... 39


Bảng 3.2: GDP của các nước G-7 (tỷ USD) ................................................... 55
Bảng 3.3: GDP theo đầu người của các nước G7 (%) .................................... 66
Bảng 3.4: Tăng trưởng việc làm ở các nước OECD ....................................... 70
Bảng 3.5 : Tỷ lệ tham gia các bậc trung học và sau trung học trong .............. 71
đối tượng có việc làm ở Mỹ ............................................................................ 71
Bảng 3.6: Tỷ lệ sử dụng máy tính trực tiếp tại nơi làm việc 1984-1997 ........ 72


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- ASEAN: Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các Quốc
gia Đông Nam Á)
- GDP: Gross Domestic Product (tổng sản phẩm quốc nội)
- NASA: National Aeronautics and Space Administration (Cục Quản trị
Không Gian và Hàng Không Quốc gia – Hoa Kỳ)
- KH&CN: Khoa học và công nghệ
- R&D: Research & development (Nghiên cứu và triển khai)
- OECD: Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ
chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
- WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bắc Mỹ là một lục địa rộng lớn và giàu có, nơi mà “trời và đất chưa
bao giờ hòa hợp với nhau tốt hơn để tạo nên một nơi như thế cho sự cư trú
của con người” [8; tr.8]. Với những điều kiện thuận lợi, chỉ chưa đầy 100 năm
kể từ ngày tuyên bố độc lập (1776) đến khi nội chiến kết thúc (1865), nước
Mỹ đã xây dựng được một cơ sở kinh tế vững chắc. Cũng trong khoảng thời
gian đó, Mỹ đã có những bước tiến lớn về KH&CN, tạo nên sự đột phá trong
sản xuất, kinh doanh và từng bước củng cố nền tảng xã hội của mình. Trong

phát triển của đất nước và xu thế khách quan của thời đại. Nó mang đậm dấu
ấn riêng của một thời kỳ lịch sử đặc biệt và để lại nhiều bài học giá trị cho
nhân loại.
Sự điều chỉnh kịp thời, đúng đắn của Chính phủ Clintonđã phát huy tối
đa tiềm lực của quốc gia về KH&CN, khiến cho nước Mỹ đạt được những
thành tựu đáng kinh ngạc. Giai đoạn 1993-2001là thời kì tăng trưởng thịnh
vượng dài nhất trong lịch sử nước Mỹ với tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Nước Mỹ trở thành cái nôi
của nền “kinh tế mới” - “kinh tế tri thức” - đây được coi là xu thế phát triển
mới nhất của nền kinh tế thế giới trong thập niên 90 của thế kỷ XX và những
thập niên đầu thế kỉ XXI. Đòn bẩy tạo nên bước phát triển nhảy vọt của kinh tế
Mỹ trong thời kỳ này là sự phát triển của KH&CN.
Do vậy, những điều chỉnh về mặt chính sách cùng những thành tích nổi
bật về kinh tế - xã hội Mỹ trong thời kì cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton
(1993 - 2001), đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà chính trị, các học
giả, các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách ở nhiều nước trên thế
giới, trong đó có Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề "Chính sách
khoa học và công nghệ của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (19932001)" làm đề tài nghiên cứu luận văn. Tìm hiểu nội dung này không chỉ giúp
chúng ta hiểu được những điều chỉnh trong chính sách KH&CN, thấy được
tác động sâu sắc, nhiều chiều của KH&CNđối với kinh tế-xã hội Mỹ mà còn
2


thấy được vai trò chiến lược của nhân tố này đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia.
Tìm hiểu về những điều chỉnh trong chính sách KH&CNcủa Mỹ trong
thời kì cầm quyền của Tổng thống Clinton cũng chính là nghiên cứu sự thích
ứng của chủ nghĩa tư bản trong điều kiện mới. Do vậy, nghiên cứu vấn đề này
có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng.

thay đổi của hoàn cảnh lịch sử cũng như chính sách khoa học công nghệ và
tác động của những chính sách đó đối với sự phát triển của nước Mỹ trong
giai đoạn 1993-2001.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp logic, phương pháp thống
kê... để thực hiện luận văn. Chúng tôi sử dụng những phương pháp này nhằm
làm nổi bật sự thay đổi trong chính sách khoa học công nghệ của Mỹ, làm rõ
sự chuyển biến của kinh tế-xã hội Mỹ dưới tác động của những chính sách đó.
Về hướng tiếp cận: Nghiên cứu đề tài chính sách KH&CNcủa Mỹ dưới
thời Bill Clinton, chúng tôi xác định các phương pháp tiếp cận dưới góc nhìn
lịch sử KH&CN. Hướng tiếp cận này phù hợp với đề tài cũng như mục đích
nghiên cứu đặt ra.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách khoa học và công nghệ của Mỹ giai đoạn 1993-2001
4.2Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Bill Clinton (1993-2001).
Về không gian: Đề tài nghiên cứu về nước Mỹ thời kỳ 1993-2001
5. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu
- Tài liệu sơ cấp: văn kiện của Tổng thống Bill Clinton về KH&CN
- Tài liệu thứ cấp: sách, báo, các công trình chuyên khảo...
6. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khoa học công nghệ dưới thời Tổng thống Bill Clinton là một đề tài
khá mới mẻ, thú vị và thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong đó phải đặc biệt kể
đến tác giả Vũ Đăng Hinh. Trong cuốn: “Chính sách kinh tế mỹ dưới thời Bill
4


Clinton”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2002, tác giả đã trình bày một
cách có hệ thống những chính sách phát triển kinh tế của Tổng thống Bill
Clinton như chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế Mỹ, chính sách thương mại,

công nghiệp phát triển” số 01 xuất bản năm 1998; Michael J.Mandel “Cuộc
suy thoái sắp tới của nền kinh tế internet” số 06 xuất bản năm 2002; Đỗ Lộc
Diệp“Đặc trưng của kinh tế Mỹ hiện nay”số 04 xuất bản năm 1997; Nguyễn
Cảnh Chắt “những chính sách và biện pháp của Mỹ trong việc phát triển
khoa học kỹ thuật” số 05 xuất bản năm 2002; Nguyễn Thu Hằng “Nước Mỹ từ
thâm hụt đến thặng dư ngân sách - thực chất và tác động” số 06 xuất bản năm
2000; Trần Văn Tùng “Hoa Kì và nền kinh tế tri thức” số 03 xuất bản năm 1999...
đã cung cấp những thông tin và số liệu quan trọng để tác giả tham khảo làm cơ sở
phân tích, đánh giá.
Bên cạnh nguồn tài liệu tiếng Việt, các văn kiện của Tổng thống
Clinton về KH&CN như: “Technology for America’s Economic Growth, A
New Direction to Build Economic Strength, President William J. Clinton Vice
President Albert Gore, Jr., February 22, 1993” đã cung cấp cho chúng tôi
nguồn tư liệu gốc quý giá để phác thảo những nét chính trong chính sách
KH&CN của Mỹ trong giai đoạn này.
Một số bài viết, báo cáo của OECD trên các website đã cung cấp cho
chúng tôi những số liệu về sự phát triển kinh tế Mỹ, trên cơ sở đó chúng tôi
đánh giá khách quan tác động của chính sách KH&CN.
Tựu chung lại, nhiều nghiên cứu, chuyên khảo, công trình khoa học của
các học giả trong và ngoài nước là cơ sở lý luận và nguồn tài liệu quan trọng
trong quá trình thực hiện đề tài luận văn “Chính sách khoa học công nghệ của
Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993-2001)”.
7. Đóng góp của đề tài
- Luận văn là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu và đánh giá một
cách hệ thống chính sách KH&CN của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill
Clinton (1993-2001).
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, có thể so sánh và rút ra một số bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách KH&CN.
6


mong ước khuyến khích sự sáng tạo khoa học khi trao cho Quốc hội quyền
“thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các môn nghệ thuật hữu ích, bằng việc
đảm bảo cho các tác giả và các nhà phát minh đặc quyền đối với những tác
phẩm và khám phá của họ trong những khoảng thời gian nhất định” [93;
tr.59]. Điều khoản này tạo thành cơ sở cho các hệ thống bằng sáng chế và bản
quyền của Hoa Kỳ, những hệ thống này đảm bảo rằng các phát minh và các
công trình sáng tạo khác không thể bị sao chép hoặc sử dụng mà không để
cho người tạo ra nó được hưởng một sự đền bù nào đó.
Nhận thức về vị trí, vai trò của KH&CN không chỉ được thể hiện rõ ở
các nhà lãnh đạo nước Mỹ mà còn bén rễ vào từng công dân bình thường.
G.Washington, vị Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ, ngay từ đầu đã rất quan
tâm, cổ vũ những phát minh về vũ khí của các nhà khoa học nghiệp dư. Các
công dân Mỹ được thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng về các hoạt
động KH&CN hơn ở các nước khác. Một kết quả nghiên cứu dù là nhỏ mới
8


đạt được cũng được công bố ngay. Chẳng hạn như cuộc triển lãm thế kỷ được
Tổng thống Grant mở tại Philadelphia vào tháng 5 năm 1876 là một ví dụ điển
hình. Quốc hội đã dành riêng một khoản 2 triệu USD, Pennsylvania góp một
triệu USD và Philadelphia có 1,5 triệu USD cho cuộc triển lãm ở công viên
Fairmon. Nơi đây trưng bày các phát minh lớn trong các thập kỷ qua, bao
gồm điện thoại, máy chữ, máy in rônêô và đầu máy xe lửa Corliss 2500 sức
ngựa mà sau này George Pullman đã mua cho nhà máy sản xuất xe lửa có toa
giường nằm [3; tr.660-661].
Cùng với chính sách ưu tiên phát triển của Nhà nước thì việc quản lý
cũng tạo điều kiện hết sức thuận lợi choKH&CN ở Mỹ. Chính sách quản lý
hoạt động khoa học luôn kiên trì đường lối phi tập trung hóa. Ngay từ buổi
ban đầu, việc tổ chức nghiên cứu khoa học ở quốc gia này có thể hình dung
như một bức tranh sinh động, được khảm bằng nhiều mảnh ghép với những

chính thức thành lập một Ủy ban để triển khai các hoạt động hỗ trợ này. Ủy
ban này có chức năng đặt hàng, hỗ trợ tài chính và mua các sản phẩm đã đặt
hàng để đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật và công nghiệp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra (1914-1918) đã làm nảy sinh nhu
cầu rất lớn về hàng hóa quân sự, do đó giới cầm quyền Mỹ đã đẩy mạnh đầu
tư vào phát triển khoa học - kỹ thuật. Một mạng lưới các phòng thí nghiệm
Liên bang đã hình thành để thực hiện các hợp đồng cho Chính phủ.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do những thay đổi nhất định, chính
quyền Liên bang đã giảm bớt sự chú ý đến KH&CNso với giai đoạn trước.
Tuy nhiên, Chính phủ vẫn là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu để thúc đẩy
tiến bộ KH&CNở các ngành tiên tiến nhất của công nghiệp. Ví dụ, để phát
triển ngành hàng không, chính quyền Liên bang đã thông qua một chương
trình dưới hình thức luật vào năm 1926 mang tên “Phát triển hàng không”.
Đây là một chương trình phát triển quy mô và lâu dài nhất của Mỹ trong lĩnh
vực hàng không. Trong chương trình này, nhà nước vừa tài trợ cho nghiên
cứu vừa đầu tư cho tổ chức sản xuất phương tiện hàng không phục vụ cho cả
mục đích dân sự và quân sự.

10


Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ năm 1939 đã tạo ra những điều kiện
thuận lợi để Mỹ trở thành nơi khởi nguồn của cuộc cách KH&CN hiện đại.
Nếu như Anh là nước dẫn đầu thế giới công nghiệp trong kỷ nguyên máy hơi
nước và than đá thì Mỹ là nước dẫn đầu trong kỷ nguyên điện và dầu hỏa.
Nhất quán với tư tưởng “khoa học, chìa khóa dẫn tới sự tiến bộ của nước
Mỹ” [3; tr.144], Mỹ đã chăm lo xây dựng một lực lượng khoa học hùng hậu
với sự dẫn đầu của khoa học cơ bản, thu hút nhiều tài năng kiệt xuất của thế
giới làm cho khoa học cơ bản và công nghệ hiện đại ở Mỹ phát triển rất
nhanh. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ tập trung vào nghiên cứu ứng

này được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đến thời Tổng
thống Carter (1976-1980) đã trở thành một nguyên tắc ưu tiên hàng đầu của
Chính phủ Mỹ.
Quan niệm căn bản của học thuyết “phân chia trách nhiệm” là: Trong điều
kiện của nền kinh tế thị trường và sự đối đầu về kỹ thuật quân sự ngày một
tăng, thì Chính phủ Liên bang cần nhận toàn bộ trách nhiệm về phát triển
khoa học cơ bản, phát triển kỹ thuật quân sự để đảm bảo an ninh quốc gia,
còn khu vực tư nhân gánh vác phần trách nhiệm nghiên cứu ứng dụng, phát
triển các tiến bộ kỹ thuật đáp ứng cơ chế thị trường và tạo ra các công nghệ
quân sự cũng như các công nghệ dân dụng theo các hợp đồng từ nguồn ngân
sách [57; tr.228].
Từ cuối thập kỷ 70, đặc biệt là từ đầu những năm 80, do vị thế kinh tế của
Mỹ trên thị trường thế giới yếu đi tương đối, tốc độ phát triển các tiến bộ kỹ
thuật có phần chậm lại và đặc biệt là sự cạnh tranh trên trường quốc tế tăng
lên mạnh mẽ đã buộc giới cầm quyền Mỹ phải xem xét lại học thuyết công
nghệ “phân chia trách nhiệm”.
Khi Reagan và Bush cầm quyền đã thay đổi cơ bản nội dung chính sách
KH&CNcủa nhà nước. Mục tiêu cơ bản của chính sách mới là phục hồi địa vị
lãnh đạo của Mỹ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật trên thế giới và giành được
vị thế cạnh tranh vượt trội trên thị trường công nghệ thế giới. Để đi tới mục
tiêu này, những người khởi xướng của chính sách mới cho rằng nhà nước
cũng như tư nhân đều có nghĩa vụ như nhau tài trợ để tạo ra kỹ thuật và công
12


nghệ mới nhất đáp ứng những tiêu chuẩn thế giới và có đủ sức cạnh tranh với
Nhật Bản và Tây Âu trên thị trường trong nước cũng như thế giới. Vì vậy,
Chính phủ đã đề nghị Quốc hội Mỹ thông qua hàng loạt văn bản pháp luật hay
các điều khoản bổ sung để thực hiện tinh thần mới này, để bảo vệ các quyền
lợi khoa học kỹ thuật của Mỹ cũng như khuyến khích chuyển giao công nghệ

đại học [49; tr.146]. Do tỷ lệ đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ phục
13


vụ dân sự trong khoảng thời gian từ 1982 đến đầu những năm 1990 tương đối
thấp (dưới 38% [31] nên khoảng cách về công nghệ trong nhiều ngành công
nghiệp dân dụng giữa Mỹ và các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản, Tây Âu chưa
thu hẹp được hoàn toàn.
Một biện pháp khác mà Chính phủ Mỹ đã sử dụng thành công để phát
triển khoa học - kỹ thuật trong thế kỷ XX là thành lập các “làng khoa học - kỹ
thuật”. Đó là nơi tập trung những trường đại học nổi tiếng, những xí nghiệp
sáng chế và những công ty đầu tư nghiên cứu, phát minh. Các đơn vị này
cùng hợp tác với nhau để thực hiện những đề tài khoa học.
Như vậy, trong mỗi giai đoạn khác nhau, Chính phủ Mỹ đã có những
chính sách KH&CNkhác nhau nhưng tất cả đều có chung một mục tiêu cuối
cùng là phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội, đảm bảo
an ninh quốc gia.
1.2 Bối cảnh lịch sử khi Tổng thống Bill Clinton lên cầm quyền
1.2.1 Tình hình thế giới
Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Yalta giải thể với sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là nhân tố quan trọng hàng
đầu làm thay đổi mạnh mẽ tình hình thế giới trong những năm cuối thế kỉ XX.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với ưu thế vượt trội về kinh tế và quân sự, hai
siêu cường thế giới Mỹ - Liên xô đã chạy đua trong cuộc “Chiến tranh lạnh”
kéo dài hơn 40 năm (1945-1991). Cuộc chạy đua vũ trang đã tiêu tốn hơn 3000
tỷ USD khiến cho chính quyền Washington không đủ tiền đầu tư vào việc đổi
mới kĩ thuật của nền kinh tế, đúng vào lúc nền kinh tế Mỹ và thế giới ở vào
thời điểm bản lề, chuyển từ nền kỹ thuật công nghiệp sang một nền kỹ thuật
mới - kỹ thuật thông tin với những công nghệ mũi nhọn tạo ra năng suất lao
động cao [60; tr.9]. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến vị thế của Mỹ, đặc biệt

đã và đang phát triển ở thế kiềng ba chân. Ở khu vực châu Mỹ có sự liên kết giữa
Mỹ và các nước Mỹ Latinh trong đó Mỹ là nước chi phối. Ở khu vực châu Âu,
Liên minh châu Âu (EU) ra đời với vai trò trung tâm của Đức ngày càng tăng, có
vai trò to lớn đối với nền kinh tế, chính trị - xã hội của các nước thành viên. Ở
châu Á - Thái Bình Dương, vai trò dẫn đầu của Nhật ngày càng rõ nét trong sơ đồ
15


“đàn nhạn bay” của các nước trong khu vực đang có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh. Trong thế kiềng ba chân này, Mỹ vẫn có vai trò quan trọng trong hoạt
động kinh tế tư bản chủ nghĩa nói riêng và kinh tế thế giới nói chung. Tuy nhiên,
vị thế của Mỹ ngày càng giảm sút tương đối, nhất là ở thời kì cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX trở đi. Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản, Đức
làm Mỹ suy yếu và mất lợi thế cạnh tranh trên một loạt ngành công nghiệp truyền
thống. Với những đột phá trong công nghệ chế tạo và bán dẫn, Nhật Bản giành
ngôi đầu thế giới từ Mỹ trong hai ngành công nghiệp chế tạo chủ chốt là ôtô và
điện tử. Kinh tế Đức phát triển mạnh, chiếm ưu thế trong các ngành cơ khí chế
tạo. Nếu như ngay sau năm 1945, Mỹ đứng đầu tuyệt đối, chiếm 40% tổng sản
phẩm kinh tế thế giới; đến năm 1950, cả Tây Âu và Nhật Bản gộp lại mới chiếm
2

26,3% nền kinh tế thế giới và bằng của Mỹ nhưng đến năm 1970, Tây Âu và
3

Nhật Bản cộng lại đạt tới 32,4%, lớn hơn Mỹ 1,5 lần (Mỹ là 23%). Năm 1993,
trong khi nền kinh tế Mỹ chiếm 21,5% nền kinh tế thế giới, thì chỉ riêng Nhật Bản
và Cộng hòa Liên bang Đức cộng lại đã đạt 26,4%, lớn hơn nền kinh tế của Mỹ
[4; tr.240]. Cuộc cạnh tranh trong thế giới tư bản nói riêng đang ngày càng trở nên
sôi động. Mỹ vẫn đứng đầu nền kinh tế thế giới, nhưng để lấy lại vị trí trước đây
của mình, Mỹ cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học kỹ thuật để tạo nên sự bứt phá
về kinh tế - văn hóa - xã hội.

đầu, trở thành trọng điểm. Cạnh tranh kinh tế đã và sẽ trở nên quyết liệt hơn.
Trước những đòi hỏi không ngừng của tình hình thế giới, tất cả các nước tư bản
trong đó có Mỹ, đều phải điều chỉnh chiến lược đối nội và đối ngoại, đặc biệt là
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược KH&CN để tạo cho mình một vị
thế có lợi nhất trong quan hệ quốc tế.
Thế kỉ XX kết thúc bằng một thời kì biến động có tính chất then chốt của
thập niên 90. Đối với chủ nghĩa tư bản nói riêng, thập niên 90 có thể coi là
“thập kỉ rất nóng và cũng rất lạnh, một thập kỉ tăng trưởng và khủng hoảng,
thủ cựu và hỗn loạn” [38; tr.401]. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong thập
niên 90 là sự đan xen của tăng trưởng và khủng hoảng, phục hồi và những bước
tiến phưu lưu, các quá trình thống nhất, đa dạng trong một thế giới toàn cầu

17


Trích đoạn Tác động tích cực Một vài kinh nghiệm cho Việt Nam Chính sách phát triển nguồn nhân lực Chính sách hỗ trợ phát triển KH&CN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status