thực trạng pháp luật việt nam về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng độc quyền - Pdf 24

I. PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG
LĨNH THỊ TRƯỜNG, LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 khẳng định các hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền được coi là các hành vi hạn chế cạnh
tranh vì những hành vi này làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường.
Các hành vi này được quy định cụ thể tại Mục 2 Chương II Luật Cạnh tranh
2004 và được hướng dẫn thi hành tại Mục 4 Chương II Nghị định số 116/2005/NĐ-
CP.
1.1. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1.1.1. Khái niệm
Căn cứ theo những quy định tại Điều 11và Điều 13 Luật Cạnh tranh, có thể hiểu
các khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp và hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường như sau:
Vị trí thống lĩnh trên thị trường được xác định dựa trên thị phần hoặc khả năng
gây hạn chế cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp. Theo
đó, một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ
30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một
cách đáng kể. Một nhóm doanh nghiệp cũng có thể được coi là có vị trí thống lĩnh thị
trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các
trường hợp sau: hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên
quan; ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; bốn
doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.
Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là những hành vi do doanh nghiệp
hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện nhằm củng cố vị trí
thống lĩnh bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường, ngăn cản, kìm
hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh, dẫn
đến những sai lệch về cạnh tranh trên thị trường.
1.1.2. Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
1
Luật Cạnh tranh 2004 đã liệt kê cụ thể 6 hành vi dưới đây là những hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường và bị pháp luật cấm:

trí thống lĩnh thị trường trong giao dịch với khách hàng.
Thứ hai, hạn chế thị trường gây thiệt hại cho khách hàng - là việc doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh tự giới hạn khu vực bán hoặc giới hạn nguồn mua sản phẩm mà
không có lý do chính đáng gây thiệt hại cho khách hàng.
Thứ ba, hạn chế sự phát triển kỹ thuật, công nghệ làm thiệt hại cho khách hàng -
là việc doanh nghiệp thực hiện những hành vi nhằm cản trở đối thủ cạnh tranh tiến
hành việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ hoặc ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào hoạt động kinh doanh. Ví dụ như hành vi mua sáng chế, giải pháp hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng hoặc hành vi đe dọa hoặc
ép buộc người đang nghiên cứu phát triển kỹ thuật, công nghệ phải ngừng hoặc hủy
bỏ việc nghiên cứu đó.
d. Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo
bất bình đẳng trong cạnh tranh
Theo quy định của điều 29 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, đây là “hành vi phân
biệt đối xử với các doanh nghiệp về điều kiện mua bán, giá cả, thời hạn thanh toán,
số lượng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ tương tự về mặt giá trị hoặc
tính chất hàng hóa, dịch vụ để đặt một số doanh nghiệp vào vị trí cạnh tranh có lợi
hơn so với doanh nghiệp khác”; vì vậy, nó còn được gọi là hành vi phân biệt đối xử
thương mại. Hành vi này được cấu thành bởi hai yếu tố sau: thứ nhất, doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh đã áp dụng các điều kiện mua, bán, giá cả, thời hạn thanh toán, số
lượng khác nhau trong những giao dịch như nhau; thứ hai, hành vi đã gây ra tình
trạng bất bình đẳng giữa các khách hàng.
e. Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá,
dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực
tiếp đến đối tượng của hợp đồng
Loại hành vi này bao gồm:
3
- Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán
hàng hàng, dịch vụ là việc áp đặt những điều kiện tiên quyết mà khách hàng buộc
phải chấp nhận để có thể ký kết được hợp đồng.

dọa cắt đứt nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh; tự ý
thực hiện các hành vi nhằm ngăn cản các doanh nghiệp khác tham gia thị trường,
củng cố vị trí độc quyền. Pháp luật nghiêm cấm các doanh nghiệp thực hiện hành vi
này ngoại trừ một số ngành được chính phủ quy định về vị trí độc quyền, không tự
thực hiện các hành vi nhằm ngăn cản các doanh nghiệp khác tham gia thị trường thì
không phải là lạm dụng vị trí độc quyền
1
.
1.2.2. Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền
Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trước tiên chính là các hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường được quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh, bởi sở hữu vị
trí độc quyền là mức độ cao hơn của sự thống lĩnh thị trường. Ngoài ra, Luật Cạnh
tranh còn cấm các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền sau đây:
a. Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng
Điều 32 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định: “Áp đặt các điều kiện bất lợi
cho khách hàng của doanh nghiệp có vị trí độc quyền là hành vi buộc khách hàng
phải chấp nhận vô điều kiện những nghĩa vụ gây khó khăn cho khách hàng trong quá
trình thực hiện hợp đồng”.
Các doanh nghiệp độc quyền có thể tự ý áp đặt trong hợp đồng các điều kiện bất
lợi cho khách hàng, ví dụ như buộc khách hàng khi thực hiện hợp đồng cần phải thực
hiện một hợp đồng phụ khác như mua một sản phẩm, dịch vụ kèm theo của hãng. Bởi
vì khách hàng không còn sự lựa chọn nào khác trong thị trường này nên vẫn buộc
phải chấp nhận.
b. Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã
giao kết mà không có lý do chính đáng
1
Một số ngành được chính phủ quy định về vị trí độc quyền, không tự thực hiện các hành vi nhằm ngăn cản các doanh
nghiệp khác tham gia thị trường thì không phải là lạm dụng vị trí độc quyền. Ví dụ: ngành điện, ngành chế tạo vũ khí,…
của Việt Nam là ngành được quy định và bảo vệ cho vị trí độc quyền của doanh nghiệp.
5

- Kiểm soát thị phần: Bằng cách quyết định khối lượng, số lượng, phạm vi thị
trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền Nhà nước. Biện pháp này chủ
yếu nhằm vào việc kiểm soát thị phần của các doanh nghiệp độc quyền Nhà nước mà
không kiểm soát chất lượng của loại hàng hóa đó. Thực tế cho thấy chất lượng dịch
vụ, hàng hóa thuộc lĩnh vực độc quyền Nhà nước đôi khi chưa tốt.
Thứ hai, kiểm soát doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
Nhà nước kiểm soát nhóm này thông qua các biện pháp như đặt hàng, giao kế hoạch,
đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước qui định và chỉ các doanh nghiệp nào đáp
ứng được các yêu cầu do Nhà nước đặt ra mới được phép sản xuất, cung ứng dịch vụ
công.
II. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ
TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN
2.1. Vụ việc thứ nhất – Vụ việc Vinapco lạm dụng vị trí độc quyền
2.1.1. Thông tin vụ việc
2
Ngày 1/4/2008 các chuyến bay của hãng hàng không Jestar Pacific Airline (JPA)
đã bị ngưng trệ do Công ty xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) đã đơn
phương ngừng cung cấp nguyên liệu bay cho JPA. Sau khi bộ trưởng Bộ GT-VT trực
tiếp ra chỉ thị cung cấp lại nhiên liệu cho JPA các chuyến bay mới được cất cánh sau
2-3h bị ngưng trệ. Tại thời điểm này, Vinapco là đơn vị duy nhất được phép cung cấp
xăng dầu hàng không thương mại cho các hãng hàng không Việt Nam và nước ngoài
tại sân bay nội địa. Giữa Vinapco và JPA có cam kết về những điều khoản của hợp
đồng mua bán xăng dầu và thực hiện các dịch vụ tra nạp tại sân bay. Cụ thể: ngoài giá
xăng dầu thực tế, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thuế nhập khẩu JPA phải trả cho
Vinapco phí nạp xăng dầu 593 nghìn đồng /tấn. Tuy nhiên, ngày 20/3 Vinapco gửi
công văn cho JPA đề nghị tăng phí nạp xăng dầu lên 750 nghìn đồng/tấn từ 01/04.
Bên cạnh đó, Vinapco vẫn giữ nguyên phí nạp xăng dầu ban đầu cho Vietnam
Airlines. Điều này được JPA cho là không công bằng và chỉ đồng ý tăng phí nếu phí
nạp xăng dầu của Vietnam Airlines cũng tăng tương ứng. Khi chưa có sự thống nhất
2

Báo cáo hoạt động thường niên 2010 của Cục quản lý Cạnh tranh – trang 14
8
Theo Vinapco, đây là một hợp đồng thương mại thuần túy, các bên trong hợp
đồng đều tự nguyện, bình đẳng và không bị bất kỳ sức ép nào trong việc thương thảo
ký kết hợp đồng. Trong Hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên đã được xác định
rõ, tuân thủ toàn bộ các quy định của pháp luật hiện hành và phù hợp với thông lệ
quốc tế trong lĩnh vực cung ứng nhiên liệu hàng không. Trong suốt thời gian thực
hiện Hợp đồng, JPA cũng như Vinapco chưa bao giờ có văn bản khiếu nại để phản
ánh về sự không bình đẳng, đơn phương hủy bỏ hợp đồng hoặc lạm dụng vị thế độc
quyền gây khó khăn cho khách hàng. Về bản chất, sự việc tạm ngừng giao hàng theo
Hợp đồng ngày 01/4/2008 là một tranh chấp thương mại thuần túy phát sinh trong
quá trình thực hiện hợp đồng. Mặt khác, hợp đồng ký giữa Vinapco và JPA đã có đầy
đủ chế tài và phương thức xử lý các tranh chấp Bản thân các bên liên quan đã giải
quyết ổn thỏa, JPA không khởi kiện Vinapco ra tòa, cơ quan chủ quản của cả hai
doanh nghiệp là Bộ Giao thông vận tải cũng đã có kết luận. Vì vậy, nếu có sự vi
phạm hợp đồng thì chỉ áp dụng các chế tài đã được thỏa thuận trong hợp đồng để xử
lý. Pháp luật cạnh tranh và các cơ quan quản lý cạnh tranh không nên can thiệp bằng
các chế tài hành chính vào các giao dịch dân sự - thương mại thuần túy. Quan điểm
này đã giới hạn sự can thiệp từ phía các cơ quan quản lý cạnh tranh đối với hoạt động
của doanh nghiệp trên thị trường khi cho rằng việc tiến hành điều tra, xử lý phạt
hành chính theo Luật Cạnh tranh đối với một tranh chấp hợp đồng thương mại là
không phù hợp với bản chất của vụ việc.
Kiến nghị
Có thể nói, Luật cạnh tranh là một đạo luật quan trọng nằm trong hệ thống pháp
luật của một quốc gia nhưng các quy định của Luật Cạnh tranh phải đảm bảo tính
thống nhất với các đạo luật khác và đồng thời cũng phải đảm bảo quyền kinh doanh
bình thường của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp độc quyền. Do vậy,
cần rà soát lại các quy định về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền xem có trường hợp
nào mâu thuẫn với các quy định pháp luật khác hay không để tiến hành sửa đổi, bổ
sung các quy định đó một cách hợp lý nhằm vừa bảo đảm quyền lợi của các doanh

toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu thị trường
4
Báo cáo hoạt động thường niên 2010 của Cục quản lý Cạnh tranh – trang 15
5
Báo cáo hoạt động thường niên 2010 của Cục quản lý Cạnh tranh – trang 15
10
được xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc
thị trường đều không chính xác.
Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, trên cơ sở học tập kinh nghiệm lập pháp của
các quốc gia trên thế giới, đã quy định khá chi tiết và đầy đủ về các tiêu chí xác định
thị trường liên quan, đặt trong trạng thái động của thị trường, có ý nghĩa nâng cao
tính hiệu quả của quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Cần phải thừa nhận
rằng Việt Nam có rất ít kinh nghiệm trong việc xác định thị trường liên quan. Trong
quá khứ, chúng ta mới chỉ làm quen với việc khoanh vùng thị trường theo ngành nghề
hoặc địa bàn kinh tế để xây dựng và triển khai các chính sách kinh tế - chính trị. Do
đó, các quan niệm về thị trường quen thuộc trong đời sống kinh tế và khoa học pháp
lý luôn gắn liền với ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn nào đó, chúng không là thị
trường liên quan trong truyền thống của pháp luật cạnh tranh. Thị trường liên quan
mà luật cạnh tranh nói đến có độ co giãn rất cao theo từng vụ việc cụ thể trong từng
thời điểm nhất định. Nó có thể chỉ nằm trong phạm vi một sản phẩm cụ thể của một
ngành sản xuất, ở một khâu nhất định trong quá trình kinh doanh, và cũng có thể
được giới hạn bởi một khu vực địa lý hẹp nào đó nhưng cũng có khả năng là rất rộng
lớn. Kinh nghiệm của các nước được thống kê bởi OECD cho thấy, việc điều tra và
xác định thị trường liên quan là một việc rất phức tạp, đòi hỏi sự nhạy bén và trình độ
của những người có trách nhiệm. Do đó, bên cạnh các quy định khá đầy đủ của pháp
luật còn đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ đủ năng lực và trình độ kinh tế - kỹ thuật để
thu thập, phân tích chính xác các số liệu lấy ra từ thực tiễn.
Còn một vài vấn đề tồn tại mà nhà làm luật cũng như những cơ quan có trách
nhiệm thực thi cần phải lưu ý đến:
Một là, cần cân nhắc về thời điểm xác định thị trường liên quan. Bởi lẽ, phạm vi

3. Báo cáo hoạt động thường niên 2010 của Cục quản lý Cạnh tranh;
4. Một số website.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status