một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại việt nam - Pdf 30

Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2010 – 2014

Đề tài:

MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI
LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH
THỊ TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH
TRANH TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Mai Hân

Sinh viên thực hiện:
Lê Thị Hồng Thắm
MSSV: 5106003
Lớp: Luật Thương mại 1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2013


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại

2.2.3 Xử lý vi phạm ................................................................................26
Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự
phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng ............................27
2.3.1 Khái niệm.......................................................................................27
2.3.2 Hành vi vi phạm .............................................................................28
2.3.3 Xử lý vi phạm ................................................................................31


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất
bình đẳng trong cạnh tranh ..............................................................................32
2.4.1 Khái niệm.......................................................................................32
2.4.2 Hành vi vi phạm .............................................................................33
2.4.3 Xử lý vi phạm ................................................................................34
Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa,
dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan
trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng ............................................................35
2.5.1 Khái niệm.......................................................................................35
2.5.2 Hành vi vi phạm .............................................................................36
2.5.3 Xử lý vi phạm ................................................................................39
Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới ...........40
2.6.1 Khái niệm.......................................................................................41
2.6.2 Hành vi vi phạm .............................................................................41
2.6.3 Xử lý vi phạm ................................................................................43
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG .......................45
3.1 Thực trạng hiện nay về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường .......................45
3.2 Một số bất cập và đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường……………………………………………………………………50

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nhân luôn phải tranh đua với nhau để tồn tại
và phát triển. Mỗi doanh nghiệp thường xuyên phải đổi mới công nghệ, đổi mới cung
cách quản lý để ứng phó với sức ép liên tục từ các đối thủ cạnh tranh. Vượt trước để nắm
được lợi thế trong cuộc cạnh tranh là phần thưởng mà nhà kinh doanh nào cũng mong
muốn đạt được. Thế nên khi nắm được quyền lực thị trường, điều dễ hiểu là không ai
muốn từ bỏ, thậm chí nhiều doanh nghiệp đã lạm dụng vị trí đó bóp méo cạnh tranh để
thu lợi nhuận cho mình, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của người tiêu dùng. Chính vì
vậy, việc xây dựng các quy định chuyên biệt để điều chỉnh những hành vi này điều luôn
được các quốc gia chú trọng.
Ở nước ta, từ khi thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, số lượng và quy mô của các
doanh nghiệp đã tăng lên một cách nhanh chóng. Cùng với đó, hiện tượng cạnh tranh đã
và đang diễn ra một cách gay gắt, thậm chí rất nhiều trường hợp cạnh tranh không lành
mạnh, gây thiệt hại lớn đối với các doanh nghiệp làm ăn chân chính và người tiêu dùng.
Luật cạnh tranh được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3-12-2004. Tuy
nhiên, cho đến nay quá trình thực thi Luật này gặp nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt là
trong việc điều chỉnh các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh.
Vì vậy, việc nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này là rất cần thiết.
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, đã và đang khẳng định sự đúng đắn
thông qua những thành tựu quan trọng trong hoạt động kinh tế: lượng vốn đầu tư được
thu hút vào Việt Nam ngày càng tăng và số lượng doanh nghiệp có tiềm lực kinh doanh
cũng tăng lên một cách đáng kể… Tuy nhiên, quá trình mở cửa thị trường này đòi hỏi
chúng ta phải gỡ bỏ rào cản về thủ tục hành chính, thuế quan và những ưu đãi với doanh
nghiệp trong nước… Điều đó khiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta không
chỉ đối mặt với sự cạnh tranh với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, độc
quyền trong nước mà còn với các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới nhất là
khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của
quản lý nhà nước và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh sẽ là một điều kiện then chốt, một

thuộc về nội dung đề tài như khái niệm, đặc điểm, nội dung, biện pháp xử lý vi phạm và
ý nghĩa của quy định luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để
hạn chế cạnh tranh; khảo sát thực trạng về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
trong thời gian qua, qua đó tác giả nhận thấy một số bất cập và hạn chế trong quy định
của pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Trên cơ sở đó, tác giả đưa
ra một số đề xuất để hoàn thiện quy định của pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Với những kiến thức cơ bản và tài liệu thu thập được, tác giả đã sử dụng phương pháp
triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận nhà
nước và pháp luật trong điều kiện cơ chế kinh tế mới. Bên cạnh đó, kết hợp với phương

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

2

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng minh… để nghiên cứu và hoàn thành luận văn
này.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Chương 2: Những quy định pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
để hạn chế cạnh tranh
Chương 3: Thực trạng và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường

Có thể nói không có cơ chế thị trường thì không có quy luật cạnh tranh. Chính vì vậy
cạnh tranh là một quy luật quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là cơ chế
vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực để thúc đẩy cho sự phát triển
kinh tế. Theo cuốn Black’Law Dictionary diễn tả cạnh tranh là “sự nổ lực hoặc hành vi
của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ
ba”1.
Theo góc độ kinh tế thì cạnh tranh được hiểu là một quá trình trong đó các thành viên
tham gia thị trường để đảm bảo thị trường tiêu thụ phải tranh đua đưa ra những điều kiện
tốt hơn so với những đối thủ của mình (về khối lượng, chất lượng, giá cả, hình thức, mẫu
mã, và điều kiện thương mại khác). Đối thủ là các nhà sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa,
dịch vụ cùng loại hoặc thay thế.
Hay theo cuốn “Từ điển kinh doanh của Vương Quốc Anh”, xuất bản năm 1992 thì
thuật ngữ cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa như sau: Cạnh tranh là sự

1

Bryan A. Garner, Black’Law Dictionary, St. Paui, 1999, trang 278.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

4

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành một loại
khách hàng về phía mình”2.
Còn theo một định nghĩa được Lobe đưa ra từ gần một thế kỉ nay (mà khoa học pháp


GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

5

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
mong muốn mà chỉ nhận mua sản phẩm theo chỉ tiêu được giao. Nhưng nền kinh tế thị
trường thì các nhà sản xuất, các nhà kinh doanh đặt ra mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu
nên giữa họ sẽ có sự cạnh tranh gay gắt với nhau để có thể tồn tại và phát triển. Đây mới
thực sự là cạnh tranh và các đối thủ phải áp dụng kỹ thuật cao, sử dụng tài nguyên một
cách có hiệu quả, sử dụng lao động một cách hợp lý.
Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị
trường mua hoặc bán sản phẩm
Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềm
năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị trường đầu ra của sản
phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất. Việc có chung lợi ích để tranh giành làm
cho các doanh nghiệp trở thành đối thủ của nhau. Nói tóm lại, chỉ khi nào xác định được
các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan mới có thể kết luận được rằng các
doanh nghiệp đó là đối thủ cạnh tranh của nhau. Khi họ có chung khách hàng hoặc đối
tác để tranh giành, có chung một nguồn lợi ích để hướng đến mới có căn nguyên nảy sinh
ra sự ganh đua giữa họ với nhau.
Trong môi trường cạnh tranh thì người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng. Sự lựa chọn
của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Người tiêu dùng có
quyền lựa chọn những sản phẩm hợp với sở thích của mình và giá thành rẻ nhất. Vì thế
sự lựa chọn đó làm cho cạnh tranh có khả năng tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả,
buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện mẫu mã, hình

Theo khoản 3, Điều 3 của Luật cạnh tranh Việt Nam thì “hành vi gây hạn chế cạnh
tranh là hành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường”. Các hành vi này
làm cho tình trạng cạnh tranh bị biến dạng, cạnh tranh bị yếu đi hoặc không còn tồn tại
cạnh tranh nữa. Ban soạn thảo Luật cạnh tranh Việt Nam cũng dựa theo khuôn mẫu của
Bộ quy tắc mẫu về cạnh tranh của Liên hợp quốc để quy định các hành vi hạn chế cạnh
tranh trong chương II Luật cạnh tranh “Kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh”, đây là
một điểm học hỏi tích cực.
Các hành vi đó bao gồm:
 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;
 Tập trung kinh tế;
 Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền.
Trong phạm vi của luận văn tốt nghiệp này thì vấn đề trọng tâm nghiên cứu là hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm hạn chế cạnh tranh.
1.3 KHÁI NIỆM VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG
Đây là một khái niệm mới và khó có thể định nghĩa một cách chính xác. Một doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp bằng khả năng có những hành vi
chi phối thị trường về giá cả hay có khả năng tác động đến giá.
Vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng
đối với thị trường của một hay một nhóm doanh nghiệp. Sự kiểm soát có thể căn cứ trên
cơ sở: thị phần, doanh thu hàng năm, quy mô tài sản, nhân viên…, ngoài ra nó còn được
GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

7

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
căn cứ vào khả năng của công ty trong việc tăng (hoặc giảm) giá trên (hoặc dưới) mức


Ts Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb
chính trị quốc gia, 2004, trang 125.
4
Hoàng Xuân Bắc, Bình luận luật mẫu về cạnh tranh, bản dịch Tiếng Việt, Bộ thương mại, 2002.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

8

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
phối hơn 70% thị phần. Chính vì tỷ lệ % này mà việc xác định cho được thị trường là vấn
đề quan trọng.
Còn ở pháp luật Châu Âu không đưa ra tiêu chí định lượng cụ thể mà thông qua các
án lệ mới tổng hợp lại rằng một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là chiếm
khoảng 40% - 50% thị phần trở lên. Luật cạnh tranh Thụy Điển quy định phạm vi chiếm
thị phần là 35% thì bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường.
Luật cạnh tranh của Việt Nam cũng lấy tiêu chí là thị phần để quy định một doanh
nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Theo Điều 3 khoản 5 của Luật cạnh tranh có định
nghĩa: “Thị phần” của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ
phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các
doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỉ lệ
phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của
tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan theo
tháng, quý, năm”.
Việc lấy tiêu chí thị phần để đánh giá một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp

doanh nghiệp đó chiếm 40%, còn vị trí thống lĩnh của 3 doanh nghiệp được xác định là
70%.
Trong khoản 1 Điều 11 của Luật cạnh tranh Việt Nam có nêu: “Doanh nghiệp được
coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên
quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”.
Luật cạnh tranh Việt Nam cũng lấy tiêu chí chủ yếu là thị phần để quy định một
doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, đây là một tiêu chí phù hợp với pháp luật
trên thế giới.
Về tỷ lệ thị phần để xem xét vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp thì các nhà
làm luật đã phải nghiên cứu rất kỹ vì như trên đã đề cập thì tùy theo quy mô kinh doanh,
quy mô cạnh tranh chủ yếu trên thị trường của mỗi nước mà mức thị phần khác nhau và
mức thị phần mà pháp luật xác định cho một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường là khác nhau thế nên tỷ lệ thị phần là 30% là hợp lý vì ở
nước ta doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 96% tổng số các doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp này có số vốn dưới 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc số lao động dưới 300 người6. Và
nền kinh tế ở Việt Nam là nền kinh tế còn ở trình độ thấp do đó một doanh nghiệp có
được thị phần 30% trở lên là không nhiều nếu quy định doanh nghiệp có thị phần là 40%
hoặc 50% là quá cao so với nền kinh tế Việt Nam. Đơn cử một trường hợp điển hình là
Công ty kinh doanh dược phẩm Zuellig Pharma mới chỉ chiếm 26% thị phần mà đã gây
lũng đoạn thị trường thuốc tân dược7, điều đó cho thấy thị phần 30% là rất lớn.
Yếu tố thị phần là chủ yếu nhưng không phải là tất cả vì pháp luật Mỹ và Châu Âu
còn xem xét các yếu tố khác để chứng minh vị trí thống lĩnh thị trường:
 Dựa vào vị thế cạnh tranh, thể hiện ở tương quan so sánh về thị phần giữa chủ thể
đang xem xét và các đối thủ cạnh tranh của nó;
 Dựa vào sự vượt trội về các nguồn lực cho sản xuất, quy mô và năng lực kinh
doanh;

6

Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Cạnh Tranh trình Quốc hội thông qua, Hà Nội ngày 13-10-2004,

nghiệp;
 Năng lực tài chính của công ty mẹ;
 Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp;
 Quy mô của mạng lưới phân phối.
1.4 KHÁI QUÁT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ
TRƯỜNG ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH
1.4.1 Khái niệm
Luật cạnh tranh năm 2004 (sau đây gọi tắt là luật cạnh tranh) không định nghĩa như
thế nào là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh, mà chỉ đưa
ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh. Cụ thể, khoản 3 Điều 3 Luật cạnh
tranh quy định “hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai
lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,
8

Điều 22, Nghị định của chính phủ số 116/2005/NĐ – CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật cạnh tranh.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

11

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”.
Như vậy, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một trong ba hành vi cụ thể của
hành vi hạn chế cạnh tranh. Để cụ thể hóa hành vi này, Điều 13 Luật cạnh tranh đã liệt kê
các hành vi mà các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường không được thực hiện,


PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 9.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

12

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một
cách đáng kể”10. Hoặc theo khoản 8 Điều 2 Luật thương mại Hàn Quốc quy định:
“hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể là hành vi gây ảnh hưởng hoặc
được coi là gây ảnh hưởng tới giá cả, khối lượng, chất lượng và các điều kiện nhất
định hay hiệp hội thương mại nhất định và kết quả là làm giảm cạnh tranh trên một
thị trường thương mại nhất định”.
-

Cách tiếp cận thứ hai, có quy định khác so với Luật cạnh tranh Việt Nam, như
theo quy định của “Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc được thông qua
ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát
triển Liên hợp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để
hạn chế cạnh tranh là hành vi mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sử
dụng để duy trì tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả
năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”11.




Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
thống lĩnh thị trường mà chỉ hướng đến việc xóa bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường để hạn chế cạnh tranh. Một doanh nghiệp có thể đạt vị trí thống lĩnh thị trường do
“hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị
trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của
các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ quyền lực nhà nước…”. Trong trường
hợp này, vị trí thống lĩnh thị trường là hợp pháp và được pháp luật bảo hộ. Thậm chí còn
có nhiều quan điểm khuyến khích doanh nghiệp tạo lập vị trí thống lĩnh thị trường, như
theo quan điểm của thạc sĩ Nguyễn Văn Chương thì đó là tiền đề cho cơ chế “hiệu quả
kinh tế quy mô”. Tuy nhiên, vị trí thống lĩnh thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp
quyền lực thị trường, theo đó “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp
hoặc một nhóm doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng
hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua”. Do đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị
trường sẽ có nhiều lợi thế hơn về khả năng kiểm soát nguồn nguyên liệu, giá cả, số
lượng, chất lượng… khi ganh đua với các doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan và
mặt khác, cũng có khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng của doanh nghiệp. Từ
đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có khả năng gây hạn chế cạnh tranh và
gây thiệt hại không những cho các doanh nghiệp khác mà còn cho khách hàng của các
doanh nghiệp. Chính vì nguyên nhân này, Luật cạnh tranh đã cấm các doanh nghiệp có vị
trí thống lĩnh thị trường thực hiện các hành vi nhằm hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh là
những hành vi mà Luật cạnh tranh liệt kê. Như đã phân tích ở trên, Luật cạnh tranh
không quy định rõ khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế
cạnh tranh, do đó, các nhà làm luật đã cố gắng liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí thống
lĩnh thị trường cụ thể để ngăn chặn hành vi trên. Như vậy, chỉ khi nào một doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh, tức
là chứng minh hành vi của doanh nghiệp có đầy đủ các dấu hiệu của hành vi cụ thể được

của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một bước rất quan trọng để chống lại
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh
của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt là OEDC) đã chỉ rõ: “chỉ có thể chống
lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công khi pháp luật và người thi hành nó xác
định được những hành vi cụ thể có thể gây hại cạnh tranh và đánh giá tác động toàn diện
của chúng trên thị trường liên quan”. Luật cạnh tranh Việt Nam cũng có cách tiếp cận
tương tự khi liệt kê cụ thể những hành vi vi phạm và chỉ rõ hậu quả của hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị
trường. Tuy nhiên, để có thể đánh giá tác động toàn diện của các hành vi vi phạm trên thị
trường là rất khó khăn khi Luật cạnh tranh Việt Nam đã không giải thích thế nào là giảm,
sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường và cũng không quy định các căn cứ để xác
định mức độ tác động của các hành vi. Trong quá trình xây dựng Luật cạnh tranh, các nhà
làm luật Việt Nam cũng rất mong muốn quy định các căn cứ cụ thể xác định mức độ thiệt
hại gây ra, tuy nhiên, điều này là vô cùng nan giải vì:
 Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba nhóm hành vi cụ thể là thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế
cạnh tranh và tập trung kinh tế, do đó khó có thể quy định một khái niệm chứa
đựng những căn cứ cho từng hành vi.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

15

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
 Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được liệt kê rất đa dạng, bao gồm
sáu hành vi cụ thể được quy định tại Điều 13 Luật cạnh tranh, mỗi hành vi cụ

ứng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng, thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh
12
13

Daid W. Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, trang 397.
Daid W. Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, trang 952.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

16

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
nghiệp mình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, các doanh
nghiệp còn lại tiến hành những hành vi không lành mạnh bao gồm hành vi cạnh tranh
không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh để giảm sức cạnh tranh, gây thiệt hại cho
các doanh nghiệp đối thủ, cho khách hàng và cho toàn bộ nền kinh tế. So với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra những tác hại to lớn hơn,
bởi vì nếu như hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây ra những thiệt hại cho doanh
nghiệp đối thủ và cho khách hàng, thì hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp lại có
thể gây ảnh hưởng đến toàn bộ cấu trúc thị trường, tác động đến nền kinh tế, cản trở sự
phát triển của toàn xã hội, ảnh hưởng đến nền văn minh của nhân loại. Trong trường hợp
này, “Bàn tay vô hình” không thể tác động đến những doanh nghiệp có những hành vi
toan tính không lành mạnh. Vì vậy, Nhà nước – chủ thể thực thi công quyền – phải đứng
ra thực hiện các biện pháp để bảo vệ sự lành mạnh của cạnh tranh. Trong các biện pháp
được Nhà nước thực hiện thì pháp luật là biện pháp quan trọng và hiệu quả nhất để Nhà

Một số lý luận về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh tại
Việt Nam
luật sẽ làm cho doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường phải dè dặt hơn khi thực
hiện những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp.
 Thứ ba, pháp luật bảo vệ toàn bộ nền kinh tế, tạo nên một môi trường kinh doanh và
cạnh tranh bình đẳng tự do thông qua các quy định về tự do kinh doanh và quyền
được tồn tại bình đẳng của các doanh nghiệp. Với tư cách là một lĩnh vực đặc thù
của nền kinh tế thị trường, pháp luật tác động đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường để hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp, thông qua đó “pháp luật cạnh
tranh bảo vệ quyền tự do kinh doanh của các thành viên thị trường, bảo vệ môi
trường cạnh tranh, bảo vệ sự lành mạnh của nền kinh tế”15.
 Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng
mở rộng thị trường và đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và bảo vệ nền kinh
tế thị trường quốc gia.
 Thứ năm, khuyến khích doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, bằng con
đường cạnh tranh lành mạnh. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn các hậu quả tiêu
cực do hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường gây ra. Góp phần bảo đảm sự ổn
định và phát triển của nền kinh tế thị trường.

15

TS Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Ths Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2006, trang 79.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

18

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


khả năng tài chính vượt trội, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ có khả năng
chịu đựng bền bĩ hơn và tồn tại. Trong khi đó, các doanh nghiệp khác khi không còn khả
năng chịu đựng sẽ phải chấp nhận từ bỏ thị trường.
Khoản 1 Điều 23 Nghị định 163/2005/NĐ-CP quy định hành vi bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là việc bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ với mức giá thấp hơn tổng các chi phí cấu thành giá thành sản xuất
hàng hóa, dịch vụ và chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ.
2.1.2

Hành vi vi phạm

Để xác định hành vi vi phạm trước hết cơ quan điều tra cần xác định thế nào là giá
thành sản xuất. Theo quy định của Điều 24 Nghị định 116/2005/NĐ-CP giá thành sản
xuất bao gồm các chi phí vật tư trực tiếp (chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu…), chi
phí nhân công trực tiếp (các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền
lương, tiền công…), chi phí sản xuất chung (chi phí chung phát sinh ở các phân xưởng,
bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như tiền lương, phụ cấp…) và theo quy định tại
Điều 25 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ bao gồm các
chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiền lương, chi
phí tiếp thị, chi phí đóng gói, chi phí vận chuyển… Nếu hiệu số giữa giá bán thực tế hàng
hóa, cung ứng dịch vụ và giá thành toàn bộ của hàng hóa, dịch vụ là một số âm thì có thể
kết luận có hành vi vi phạm mà không cần điều tra về hậu quả thực tế của hành vi gây ra
cho thị trường. Như vậy theo pháp luật Việt Nam, khi xác định hành vi này, cơ quan điều
tra sẽ “suy đoán và quy kết dựa vào hiện tượng giá bán bị hạ thấp một cách bất bình
thường”18. Trong khi đó, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước lại quy định khác với Việt
Nam. Chẳng hạn, ở Ấn Độ, Hoa Kì, Canađa khi xác định hành vi vi phạm, cơ quan điều
16

PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,

niêm yết công khai, rõ ràng tại cửa hàng, nơi giao dịch về mức giá cũ, mức giá mới, thời
gian hạ giá. Như vậy, chỉ khi nào có những tình huống trên thì hành vi bán hàng hóa dưới
giá thành toàn bộ của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường mới không bị xem là vi
phạm. Thiết nghĩ, các nhà lập pháp Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm của Hoa kỳ,
Canađa khi xác định hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ. Bên
cạnh đó, khi xác định hành vi bán hàng hóa, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ, cơ quan cạnh
tranh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bởi lẽ:
 Các thông số về chi phí phần lớn do doanh nghiệp cung cấp. Trong điều kiện các
tiêu chuẩn kế toán, kiểm toán ở Việt Nam chưa được tôn trọng và minh bạch như
hiện nay sẽ dẫn đến kết quả điều tra có thể sẽ không chính xác;
 Việc xác định các chi phí của loại hình dịch vụ là rất khó khăn do tính chất vô
hình của dịch vụ. Việc xác định các bộ phận cấu thành của chi phí dịch vụ và quy
định một tiêu chuẩn cụ thể để xác định chi phí cho loại hình này là vô cùng nan
giải;

19

PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 79.
20
PGS-TS Nguyễn Như Phát, ThS Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006,
trang 79 -80.

GVHD: ThS Nguyễn Mai Hân

21

SVTH: Lê Thị Hồng Thắm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status