Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU HẠNH
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống địa lan
Trần Mộng Xuân (Cymbidium lowianum) tại Sa Pa- Lào Cai LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là
hoàn toàn trung thực, có thực tiễn; chưa được bảo vệ ở bất kỳ một Hội đồng
khoa học hay học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn đều đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Hạnh
Nguyễn Hữu Hạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii Trang
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
ix
MỤC LỤC MỞ ĐẦU
1
Nhu cầu về ánh sáng
12
1.2.2
Nhu cầu về nhiệt độ
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
1.2.3
Nhu cầu về ẩm độ
16
1.2.4
Nhu cầu về dinh dưỡng
20
1.2.5
Độ thông gió
25
1.3
Tình hình sản xuất hoa Lan trong và ngoài nước
26
1.3.1
Tình hình sản xuất hoa trên thế giới
26
1.3.2
Tình hình sản xuất hoa Lan ở Việt Nam
27
1.3.3
Tình hình sản xuất hoa địa lan ở Sa Pa (Lào Cai)
28
1.4
42
2.3
Phương pháp nghiên cứu
43
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
48
3.1
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bổ sung rễ cây
Dương Xỉ vào giá thể đến sinh trưởng và phát triển cây địa
48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
v
lan Trần Mộng Xuân
3.2
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số pH nước tưới đến
sinh trưởng và phát triển của cây hoa địa lan Trần Mộng
Xuân
54
3.3
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm bón phân kali
đến chất lượng hoa của cây địa lan Trần Mộng Xuân
60
3.4
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá
Yogen (loại 30:10:10) đến sinh trưởng và phát triển của cây
địa lan Trần Mộng Xuân
64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CT
CTTD
ĐC
KH&CN
KH&HTQT
KHKT
NCKH
in vitro
NN&PTNT
TMX
VQG
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
STT
Tên bảng
Trang
1.1
Nhu cầu ánh sáng của một số nhóm loài lan
13
1.2
Các biện pháp chủ yếu tưới nước cho lan
18
1.3
Công thức pha một số loại dinh dưỡng dùng tưới lan
22
3.1
Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng chiều dài lá
48
3.2
Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng số mầm/cây
50
3.3
Ảnh hưởng của biện pháp bổ sung rễ cây Dương xỷ vào giá
thể đến sinh trưởng và phát triển cây địa lan TMX
52
3.4
Ảnh hưởng của pH nước tưới đến tăng trưởng chiều dài lá
54
3.5
Ảnh hưởng của pH nước tưới đến tăng trưởng số mầm/cây
56
3.6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ix DANH MỤC HÌNH
STT
Tên bảng
Ảnh hưởng của thời điểm bón phân kali đến số nụ/cành hoa
địa lan TMX
63
3.10
Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến chiều dài lá
66
3.11
Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến số mầm/cây
68
3.12
Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến sinh trưởng, phát
triển của cây địa lan TMX
70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoa lan đang trở thành sản phẩm chiếm ƣu thế trên thị trƣờng, sản xuất
hoa lan ngày càng phát triển bởi giá trị thẩm mỹ và lợi nhuận kinh tế đem lại.
Trong những thập kỷ gần đây, cùng với phƣơng tiện giao thông phát triển
mạnh mẽ, các thành tựu khoa học và sự phát triển về công nghệ sinh học đƣợc
ứng dụng rộng rãi. Do vậy, việc xuất nhập khẩu hoa lan ngày càng tăng với
quy mô rất lớn. Kim ngạch xuất khẩu hoa lan trên thế giới hàng năm đạt 1,8 tỷ
USD. Nhiều nƣớc đã trở thành cƣờng quốc xuất khẩu hoa lan nhƣ: Đài Loan,
Thái Lan Hoa lan đã và đang là nguồn lợi lớn của các nƣớc Đông Nam Á và
thế giới. Năm 2003, Thái Lan là nƣớc đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan
và đạt doanh thu 110 triệu USD. Năm 1992, Singapore xuất khẩu hoa lan đạt
trồng, cúc 25%, phong lan sẽ chiếm 10% và còn lại sẽ là các loài hoa khác
[28].
Để có thể đạt chỉ tiêu này vào năm 2010, Việt Nam đã và đang tiến
hành trồng đại trà hoa chất lƣợng cao. Trƣớc đây một cành hoa hồng nhập
ngoại có giá từ 5.000 - 7.000 đồng, trong khi nhân giống trong nƣớc chỉ phải
chi 800 - 1.000 đồng. Dự án "Phát triển giống hoa có chất lƣợng cao" của
Viện Di truyền nông nghiệp - Bộ NN&PTNT đang đƣa các loài hoa đẹp, sạch
và không có mầm bệnh về các vƣờn hoa Việt Nam. Dự án đang đƣợc thử
nghiệm trên 5 loại hoa thế mạnh: Hồng, Cúc, Lan, Lay Ơn, Đồng tiền. Tại
Viện Di truyền nông nghiệp (Từ Liêm - Hà Nội), Trại thực nghiệm Văn Giang
(Hƣng Yên) và tại VQG Hoàng Liên (Sa Pa - Lào Cai) đã và đang tiến hành
nhân giống và sản xuất hoa thƣơng phẩm cây lan Trần Mộng Xuân và một số
giống lan khác bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô tế bào.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
Tại Việt Nam, khoảng 10 năm trở lại đây khi nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ, hoa lan bắt đầu đƣợc nuôi trồng nhiều. Nhiều loài lan mới có đƣợc
màu sắc đẹp, đa dạng đã đƣợc ra đời nhờ công nghệ lai giống, cấy ghép. Khảo
sát từ các khu vực trồng lan, các viện nghiên cứu, các trung tâm thì lan đƣợc
lai tạo đang ngày càng phong phú, đặc biệt là các giống lan Hồ Điệp và Địa
lan Kiếm. Lan Hồ Điệp màu mới có hoa cánh trắng họng tím, cánh tím đậm
họng vàng, cánh vàng nhạt họng hồng, cánh cam họng đỏ, cành trắng họng
cam đang đƣợc sản xuất [22].
Địa lan Kiếm cũng khoe đủ sắc màu mới: hoa màu vàng cam pha xanh
lá cây, hoa màu cam đất, họng đỏ pha vàng, lục pha vàng, hoa có đài hông
bông tím, hoa đài hồng nhạt, cánh hồng đậm. Đặc biệt là giống Địa lan Kiếm
có hƣơng thơm ngát với đài hoa màu nâu, bông hình chuông màu hồng. Theo
một số nhà vƣờn, năm 2004 các giống hoa lan, đặc biệt là Địa lan Kiếm có
hoa màu mới lai tạo, giá cao hơn năm trƣớc 20 - 30%. Dù giá thành có hơi cao
nhiều ngoài tự nhiên. Với vẻ đẹp đặc biệt của loài có hoa tự dài nhất, hoa to và
bền, màu sắc xanh vàng, cánh môi vàng sẫm, số lƣợng hoa trên chùm có thể lên
tới vài chục hoa, nó đã thực sự thu hút ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc
[10]. Riêng ở Sa Pa (Lào Cai), hiện nay cây lan Trần Mộng Xuân đang đƣợc
trồng với quy mô lớn và đang trở thành cây làm giàu cho nhiều hộ nông dân. 3
năm gần đây, Sa Pa bán ra thị trƣờng khoảng 2.000 chậu địa lan với giá trung
bình mỗi chậu từ 700 - 900 nghìn đồng cho doanh thu khoảng 1,4 – 1,8 tỷ
đồng. Do vậy, địa lan Trần Mộng Xuân đã trở thành đối tƣợng bị khai thác đem
bán với tốc độ rất nhanh và ngày càng hiếm gặp ngoài tự nhiên. Đồng thời, hiện
trong gây trồng lan của ngƣời dân do thiếu nguồn giống sạch bệnh, sử dụng các
biện pháp kỹ thuật và giá thể không phù hợp, nên cây thƣờng hay nhiễm
bệnh, khả năng sinh trƣởng và phát triển còn rất hạn chế; chƣa đáp ứng đƣợc
nhu cầu chơi hoa của ngƣời tiêu dùng. Để phát triển giống lan bản địa có giá trị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
kinh tế này tại thị trấn du lịch nghỉ mát nổi tiếng Sa Pa và các vùng lân cận rất
cần phải tiến hành nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc loài
hoa lan này nhằm đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu, đem lại hiệu quả kinh tế cho
ngƣời sản xuất và địa phƣơng.
Từ những yêu cầu thiết thực đó, tôi đề xuất và tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hoa địa lan Trần Mộng
Xuân (Cymbidium lowianum) tại Sa Pa - Lào Cai”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, phát
triển của cây hoa địa lan Trần Mộng Xuân đƣợc nhân giống bằng phƣơng
pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù
hợp giúp các tổ chức, cá nhân hộ gia đình áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất để nâng cao năng suất, chất lƣợng cây trồng, tăng giá trị và đem lại hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm hình thái và tiến hoá trong hệ thống phân loại thực vật của
họ Phong lan
1.1.1. Vị trí trong hệ thống phân loại (Orchidaceae)
Họ Phong lan (Orchidaceae Juss. 1789) thuộc bộ Phong lan
(Orchidales), trong lớp Một lá mầm (Liliopsida: Monocotyledones) của ngành
thực vật hạt kín (Magusliophyta: Angiospermae). Đây là một họ thực vật có
nhiều đặc điểm hình thái cấu tạo hoa đa dạng và phức tạp. Trong quá trình tiến
hoá, họ Phong lan đều bắt nguồn từ tổ tiên kiểu Hypoxis có 6 mảnh bao hoa
và 6 nhị đực [3], [4], [5], [6]. Tuy nhiên, sự thay đổi về hình dạng cánh hoa và
vừa giảm bớt vừa dính lại của nhị đực với bộ nhuỵ làm cho họ Phong lan
thành 1 họ có lối sinh sản chuyên hoá nhất của thực vật có hoa. Quá trình tiến
hoá này phân chia họ Phong lan thành 5 họ phụ trong đó từ các loài nguyên
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Họ Phong lan đƣợc biết đến nhƣ là một họ thực vật hạt kín ở vào vị trí
"đỉnh cao của sự tiến hoá" của các cây có hoa. Nó bao gồm 835 chi và 25.000
- 35.000 loài có phân bố ở khắp mọi nơi trên trái đất, song tập trung nhất ở
vùng nhiệt đới nhƣ: châu Mỹ la tinh, Đông Nam Á [9].
Còn ở Việt Nam, số loài hiện đã biết là 897 loài thuộc 152 chi. Chúng
chiếm khoảng 80% số loài ƣớc tính có mặt ở nƣớc ta [7].
Khi nói đến hoa Phong lan ngƣời ta chỉ nghĩ đến vẻ đẹp vƣơng giả của
hoa mà ít nghĩ đến các đặc tính thực vật kỳ diệu về cả lối sống và dinh dƣỡng
của chúng.
Ở họ Phong lan, ngoài các loài mọc ở đất, chúng còn sống đƣợc trong
các hốc, vách đá, sống phụ trên vỏ thân cây gỗ, sống hoại trong mùn (xác thực
vật) hay sống ký sinh trên rễ các cây cỏ trong rừng. Do đa dạng về dạng sống,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
nên họ Phong lan có hình thái cấu tạo hết sức độc đáo. Sơ bộ có thể mô tả các
cơ quan dinh dƣỡng và sinh sản của Phong lan nhƣ sau:
Hệ rễ
Đối với các loài khi sống ở đất, chúng thƣờng có củ nạc to nhỏ không
đều, hoặc rễ chùm xum xuê trên các thân rễ bò dài hay ngắn. Tuy nhiên, nét
độc đáo của họ Phong lan là lối sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các
cây thân gỗ khác. Chúng phát triển hệ rễ nạc dài, ngắn mập hay mảnh mai (tuỳ
thuộc vào từng loài) để đƣa cơ thể bò đi xã hay chụm lại thành các bụi dày. Hệ
rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thể. Ở các loài
nhỏ bé, hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngƣợc lại ở các loài phong lan có kích
thƣớc lớn hay trung bình, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài
và mập, khoẻ, vừa giữ cho cơ thể khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống
đỡ cho thân vƣơn cao để làm nhiệm vụ hấp thu dinh dƣỡng, chúng gồm những
lớp tế bào chết chứa đầy không khí, với lớp mô xốp bao bọc để rễ không
cảnh khô hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng, hình cầu hoặc thuôn
dài, xếp sát nhau hay rải rác, đề đặn trên thân rễ, hay hình trụ xếp chồng chất
lên nhauthành một thân giả. Kích thƣớc của củ giả cũng rất biến động, từ dạng
củ rất nhỏ chỉ lớn bằng đầu chiếc kim găm nhƣ Bulbophyllum, đến to bằng
chiếc mũ ngƣời lớn nhƣ Peristeria elata. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng,
nên cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp [17].
Lá
Hình dạng và cách mọc của lá là một trong những tiêu chuẩn giá trị
thƣởng thức của cả cây Phong lan. Từ trƣớc đến nay đƣợc ngƣời chơi rất chú
trọng và thƣờng phân thành 3 loại: lá đứng, lá nửa đứng, lá cong rũ. Hầu hết
các loại địa lan đều có hệ rễ dày đặc và thân rễ mập nên phát triển rất đầy đủ
hệ thống lá. Lá địa lan mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn. Lá mọc đơn độc,
hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đề đặn trên thân, rễ, củ giả. Hình dáng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nƣớc, nạc, dài hình kim, hình trụ với tiết
diện tròn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dài màu xanh bóng, đậm
hay nhạt tuỳ theo vị trí, tất cả đều có gốc thuôn dài thành bẹ ôm lấy cây, đôi
khi phần lá dƣới sát gốc thƣờng tiêu giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến
lá hay giảm hẳn thành các vảy. Các loài địa lan có số lá trên nhánh biến động
rất lớn: lá trên nhánh ít phải kể đến Đông lan (2 - 6 lá/nhánh); trong khi đó
Bạc lan (Cerythrostylum) có số lá rất lớn (9,1 lá/ nhánh). Độ dày và độ rộng
của lá cũng rất khác nhau, lá dài phải kể đến Bích ngọc (Cymbidium
dayamum): 100cm; Thanh ngọc (Cymbidiumensifolium) 40- 80 cm… [33].
Về màu sắc, phiến lá thƣờng có màu xanh bóng nhƣ các chi Lan kiếm
(Cymbidium.SW), chi lan Bầu rƣợu (Calanthe R.Br), có loài có màu xanh đậm
nhƣ Hạc Đính vàng (Phaius flavum), có loài lan lại có màu hồng và nổi lên
các đƣờng vẽ trắng theo các gân rất đẹp nhƣ chi lan Gấm
(Goodyera.R.Browm), lan Sứa (Anoectochilus Bl), lan San hô (Luisia
Tận cùng bên trong có họng mang mật và đôi khi có tuyến tiết mồ hôi. Hoa
Cymbidium lƣỡng tính nhị đực và nhuỵ cái cùng gắn chung trên một cột hình
bán trụ hơi cong về phía trƣớc. Nhị ở trên cùng mang 2 khối phấn màu vàng
có gót dính nhƣ keo. Khối phấn đƣợc đậy bởi một nắp dễ mở khi va chạm và
dời ra cột nhị nhuỵ cách với đầu nhuỵ bởi một gờ nổi lên. Với cấu trúc này
trong tự nhiên, hoa Phong lan chỉ thụ phấn đƣợc nhờ côn trùng. Sau khi hoa
thụ phấn, hoa xoay dần về vị trí cũ, bầu noãn phình to lên tạo thành quả [31].
Màu sắc của hoa cũng sặc sỡ, với các màu trang trí khác nhau, để hấp
dẫn côn trùng. Chính vì màu sắc lộng lẫy của Phong lan, mà từ xƣa đến nay,
Phong lan đƣợc xếp vào loại "Vƣơng giả". Ngoài vẻ đẹp kiêu sa, Phong lan ở
Sa Pa còn toả nhiều hƣơng vị hấp dẫn, làm say đắm bao khách hào hoa, thật
xứng đáng với danh hiệu "Thiên hạ đệ nhất hƣơng" [9].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
Metchnikov (1903) đánh giá cao sự thụ phấn của hoa phong lan, coi đây
là mẫu mực kỳ lạ trong sự hài hoà của tự nhiên. Kết quả của sự thăm viếng
các loài côn trùng là mùa sai quả.
Quả
Quả của Phong lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đƣờng nứt dọc,
có dạng từ quả dài (Vanilla) đến dạng hình trụ trứng ngắn phình ở giữa. Khi
chín, hạt thoát ra từ các đƣờng nứt để lại mảnh vỏ còn dính với nhau ở phần
đỉnh và gốc. Ở một số loài quả chín nở theo 1 - 2 khía dọc, thậm chí không nứt
ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát.
Hạt
Hạt Phong lan rất nhiều, kích thƣớc nhỏ li ti, trọng lƣợng rất nhẹ, toàn
bộ hạt trong một quả chỉ khoảng 1/10 - 1/1000mg; trong đó không khí chiếm
76-96% thể tích của quả. Hạt chỉ cấu tạo từ một khối phôi chƣa phân hoá, trên
một mạng lƣới nhỏ xốp chứa đầy không khí. Phải trải qua 2 - 18 tháng, hạt
mới chín. Phần lớn hạt thƣờng chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy
2
+ n H
2
O
ánh sáng
(CH
2
O)n + nO
2
Chất diệp lục có trong lá, rễ, thân cây lan làm chức năng quang hợp
(CH
2
O)n cùng với nƣớc và muối khoáng do rễ và lá hấp thụ đƣợc tạo ra
các chất hữu cơ cấu tạo nên tất cả các bộ phận của cây lan [21].
Bản chất của hầu hết các loài lan rừng là sống dƣới tán rừng nơi mà khi
có tia nắng chiếu trực tiếp vào liên tục, ngoại trừ một số đặc biệt nhƣ: Lan Sậy
(Arundina graminifolia) sống hoàn toàn không cần che bóng, nhƣng không
phải loài nào cũng cần một độ tàn che nhƣ nhau.
Trong quá trình sinh trƣởng và phát triển của Lan, ánh sáng là nhân tố
rất quan trọng cho quá trình tạo mầm hoa và có thể là nhân tố liên quan gây ra
một số loại bệnh. Cây thiếu ánh sáng thƣờng có sức đề kháng kém nên mắc
một số bệnh nhƣ thán thƣ, thối nõn, Nhƣng nếu cƣờng độ ánh sáng cao quá