Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với cây cam sành tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÀN THUÝ NGA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
ĐỐI VỚI CÂY CAM SÀNH TẠI HUYỆN BẮC QUANG,
TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Đào Thanh Vân

Thái Nguyên - năm 2013

Số hóa bởi trung tâm học liệu

i

trong gia đình đã tận tình động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện
luận văn.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn

Bàn Thúy Nga Số hóa bởi trung tâm học liệu

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH x
1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4.1. Ý nghĩa khoa học 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
5. Phạm vi nghiên cứu 2

2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập và phân tích thông tin 40
41
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi. 43
2.5. Đặc điểm của các vật liệu nghiên cứu 45
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 47
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. Đánh giá tình hình sản xuất cây ăn quả có múi tại huyện Bắc Quang,
tỉnh Hà Giang 48
3.1.1. Tình hình phát triển chung 48
3.1.2. Tình hình sản xuất cam quýt của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 49
3.2. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và chất
lượng cam Sành tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 62

Số hóa bởi trung tâm học liệu

v
, tỉnh Hà Giang. 62
3.2.2. Ảnh hưởng của một số chế phẩm chất điều hòa sinh trưởng đến
tình hình sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cam Sành
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 72
3.2.3. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa cành đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất, chất lượng giống cam Sành tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 81
3.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến sinh
trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống cam Sành tại huyện
Bắc Quang. 88
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 96
1. Kết luận 96
2. Đề nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97


Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng trong lá cam 18
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 19
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng châu Á 21
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 22
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2011 23
Bảng 3.1. Diện tích, sản lượng một số loại cây ăn quả chủ yếu được trồng tại
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 49
Bảng 3.2. Diện tích và thành phần các loại cam quýt trồng tại huyện Bắc
Quang năm 2007 - 2009 50
Bảng 3.3. Diện tích và độ tuổi cây cam Sành trồng tại huyện Bắc Quang, tỉnh
Hà Giang năm 2010 51
3.4. Tình hình chăm sóc và quản lý vườn cam quýt của các hộ trồng tại
huyện Bắc Quang – Hà Giang. 55
3.5. Thành phần và mức độ gây hại của các loại sâu bệnh hại cam quýt
tại huyện Bắc Quang – Hà Giang 57
3.6. Kế hoạch phát triển các loại cam quýt trồng tại huyện Bắc Quang từ
năm 2010 - 2015 60
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian ra hoa giống cam Sành
tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 63
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả giống cam Sành tại
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 64
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng kích thước
quả của giống cam Sành trồng tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 65
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống cam Sành trồng tại Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 66

Số hóa bởi trung tâm học liệu

viii
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng quả của giống cam

ix
Bảng 3.25: Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến động thái tăng trưởng kích
thước quả giống cam Sành tại huyện Bắc Quang. 83
Bảng 3.26. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến các yếu tố cấu thành năng
suất giống cam Sành tại huyện Bắc Quang. 84
Bảng 3.27. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến chất lượng giống cam Sành
trồng tại huyện Bắc Quang 85
Bảng 3.28. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến tình hình sâu hại chính trên
cây cam Sành tại huyện Bắc Quang 86
Bảng 3.29. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến tình hình bệnh hại chính cây
cam Sành tại huyện Bắc Quang 87
Bảng 3.30:. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa đến hiệu quả trong sản xuất cam
tại huyện Bắc Quang 88
Bảng 3.31: Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến thời gian ra hoa
giống cam Sành tại huyện huyện Bắc Quang. 89
Bảng 3.32 : Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến tỷ lệ đậu quả giống
cam Sành tại huyện huyện Bắc Quang. 89
Bảng 3.33:. Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến động thái tăng
trưởng kích thước quả giống cam Sành tại huyện Bắc Quang 90
Bảng 3.34: Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến các yếu tố cấu thành
năng suất giống cam Sành tại huyện Bắc Quang. 91
Bảng 3.35:Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến chất lượng giống
cam Sành trồng tại huyện Bắc Quang 93
Bảng 3.36: Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến tình hình sâu hại
chính trên cây cam Sành tại huyện Bắc Quang. 94
Bảng 3.37. Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa hoa, tỉa quả đến tình hình bệnh
hại chính trên cây cam Sành tại huyện Bắc Quang 94
Bảng 3.38. Ảnh hưởng của thời điểm tỉa hoa, tỉa quả đến hiệu quả trong sản
xuất cam tại huyện Bắc Quang 95


khát, chữa bệnh. Trong những năm gần đây, diện tích trồng cam ở nước ta
ngày càng được mở rộng, việc phát triển cây cam được xem như là một giải
pháp trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương.
Bắc Quang là một trong những huyện có điều kiện kinh tế, xã hội phát
triển nhất tỉnh Hà Giang. Ngoài ra huyện Bắc Quang còn có điều kiện đất đai,
địa hình, chế độ thuỷ văn, điều kiện khí hậu thuận lợi cho nhiều loại cây trồng
phát triển đặc biệt là cây cam Sành. Trong những năm gần đây, tỉnh Hà Giang
nói chung và huyện Bắc Quang nói riêng đã cải tạo, quy hoạch, áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới vào việc chọn tạo, sản xuất giống cây đạt chất
lượng và đã đưa cây cam vào phát triển kinh tế trong các hộ gia đình, xây
dựng thành công thương hiệu cam Sành huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Cây cam Sành đã được xác định là cây mũi nhọn của huyện Bắc Quang
góp phần nâng cao đời sống của nông dân. Đặc biệt là cây làm giàu cho nhiều
hộ gia đình trong vùng đất phù hợp trồng cam, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
của huyện Bắc Quang. Tính đến năm 2010 toàn huyện có 1.892,3 ha, trong
đó: Diện tích trồng mới là 91,6 ha, diện tích cho thu hoạch là 1.436,3 ha, với
sản lượng quả là 10.048,6 tấn giá trị sản lượng đạt 80,38 tỷ đồng.
Tuy nhiên cây cam Sành ở huyện Bắc Quang hiện nay cũng gặp một số
khó khăn: Hầu hết diện tích trồng cam Sành hiện nay đều được trồng bằng
cành chiết cách đây 10-15 năm, trồng ở những vùng đất rừng nghèo, dinh
dưỡng kém nên đã có các biểu hiện sâu bệnh nhiều, năng suất và chất lượng
bị giảm sút, hiệu quả kinh tế không cao gây tâm lý chán nản cho người trồng
cam ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

2
Để đánh giá đúng thực trạng tình hình sản xuất cam, nghiên cứu đề xuất
các giải pháp trong phát triển cây cam đồng thời áp dụng một số biện pháp kỹ
thuật tác động vào cây cam nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành ở

huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Những nét chung về tài nguyên cây ăn quả có múi
1.1.1. Nguồn gốc cây ăn quả có múi
Nobumasa Nito (2004) [70] đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi
nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó
có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ
khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè. Tuy nhiên sự thuần hoá và
trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc. Những ghi chép cổ ở
Trung Quốc cho thấy trồng trọt cây ăn quả có múi đã có ở đó hơn 4.000 năm
trước”. Nhiều nhà nghiên cứu trước đó cho rằng cây cam quýt phần lớn có
nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua dãy núi Hymalaya,
Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia
hoặc kéo đến lục địa Úc. (FAO, 1998) [57]. Tuy nhiên, Swingle
W.T.,(1967)[75] còn có nhận định khác là nguồn gốc cây ăn quả có múi phân
bố từ Đông Bắc Ấn Độ, trung tâm Trung Quốc, miền Bắc và Trung Úc, qua
New Caledonia. Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (citrus nobilis
Osbeck) và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương [37].
Tóm lại, tuy ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều
thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có
nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông
Bắc Ấn Độ và Miến Điện. Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát
sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay.
1.1.2. Phân bố và lịch sử phát triển cây ăn quả có múi
Với các tên gọi khác nhau như Agrios ở Tây Ban Nha, Agrumen ở Pháp,
Agrunum ở Italia, Citrus ở châu Mỹ và những nước nói – viết bằng tiếng Anh,
song hầu hết những giống cây ăn quả họ Cam (Rutaceae) đã và đang trồng


Trung Hải, rồi từ đây được đưa vào Tân thế giới. Tuy nhiên cũng có nhiều
giống chủ lực của châu Á cũng không được nhập vào các nước phương Tây
và cho tới cuối thế kỷ XX cây ăn quả có múi đã được trồng khắp các nước
nhiệt đới và á nhiệt đới.
Về lịch sử phát triển của cây quýt (C.reticulata), Gonzales Sicilia (1968)
[60] cho biết quýt có nguồn gốc ở Trung Quốc và các quần đảo ở Đông Nam
Á. Sau đó được phát triển rộng khắp ở Trung Quốc, Nhật Bản, tiếp theo sang
các nước Tân thế giới và sau một thời gian tương đối dài các giống của loài
quýt mới được trồng và phát triển rộng ở châu Âu vào năm 1928, bắt đầu trên
vườn trang trại của Palermo. Ngày nay các giống quýt khác nhau đã có mặt ở

Số hóa bởi trung tâm học liệu

5
hầu hết các nước có điều kiện trồng được cây ăn quả có múi.
1.1.3. Phân loại cây ăn quả có múi.
Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3
chi: Citrus, Fortunella và Poncirus. Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc
điểm chung về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ
Citrinae, họ Rutaceac, họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [70].
Các hệ thống phân loại đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa,
đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển của một số chi quan
trọng. Mặc dù cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận chưa thống nhất, việc
phân loại cây ăn quả có múi chủ yếu vẫn dựa vào 2 hệ thống phân loại cơ bản
của Swingle (1943) và của Tanaka và cộng sự (1954). Tanaka cho rằng có
144 loài với hàng loạt các giống và dòng thuộc mỗi loài, sau này vào năm
1961 ông đã công bố danh sách với 157 loài. Nhà nghiên cứu cam quýt người
Mỹ Hogdson (1961) trên cơ sở phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một
hệ thống phân loại mới bao gồm 16 loài từ hệ thống Swingle và hơn 20 loài từ
hệ thống Tanaka. [37] [56]

- Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco)
- Quýt quả nhỏ.
Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có
nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha. Giống
quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ,
Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [70].
Theo Võ Văn Chi (1997) [5], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài. Theo
Phạm Văn Hộ (1999) [12] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và
hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng
rộng rãi ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới
các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình,
Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ.
1.1.4. Đặc điểm thực vật của cây có múi
1.1.4.1. Đặc điểm thực vật học của cây có múi
Theo nhiều tài liệu công bố (Akihama, T and N.Nito, 1996 [47], Lohar
and Lama, 1997)[69] Chen, Z.,1999 [66], Hoàng Ngọc Thuận, 2002 [35]…)

Số hóa bởi trung tâm học liệu

7
tương tự như những cây ăn quả nói chung cây ăn quả có múi gồm các bộ phận
thực vật cơ bản được mô tả như sau:
- Rễ cây ăn quả có múi:
Rễ cây có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm.
Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh
trưởng xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái. Rễ cọc dễ phát hiện ở thời
kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt. Cấu trúc bộ rễ
ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào
loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây…và hình thức nhân giống
(gieo hạt, chiết, ghép, giâm). Rễ mới ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có

có 1 hoa. Thông thường có từ 3 – 7 hoa trên 1 cành. Mỗi cành đậu 1 – 2 quả.
Có một số cành hoa không có lá. Mỗi chùm có 4 – 5 hoa. Loại này có tỷ lệ
đậu quả thấp. Có thể có những cành hoa chùm, trên ngọn có 1 hoa trong đó có
một số lá phát triển không đầy đủ, chỉ ở dạng hình vẩy. Loại này có tỷ lệ đậu
quả khá hơn loại trên. Hoa ở trên nở trước, hoa ở dưới nở sau. Đa số các
giống quýt chỉ có các cành đơn vì vậy tỷ lệ đậu quả của quýt thường cao hơn
cam. Năng suất của đa số các giống quýt thường cao hơn so với cam.
- Lá cây ăn quả có múi:
Lá gồm 3 phần chính: Phiến lá, eo lá và cuống lá. Lá thường có 2 mặt
(mặt lá và lưng lá), mặt lá có mô dậu, chứa nhiều nhu mô diệp lục làm nhiệm
vụ quang hợp. Độ dày của mô diệp lục thay đổi tuỳ theo giống. Lưng lá có mô
xốp, nhiều khí khổng tập trung, phân bố ở mặt lưng lá (mật độ khí khổng phụ
thuộc vào từng giống như chanh có 650 khí khổng/mm
2
, cam khoảng 480 –
500 khi khổng/mm
2
). Thường mật độ khí khổng càng cao thì nhu cầu nước và
ẩm độ của giống đó càng lớn. Trong năm cây thường ra 4 đợt lá, lá mùa xuân,
lá mùa hè, lá mùa thu và lá mùa đông. Trong đó lá mùa xuân chiếm tỷ lệ cao
nhất, thường từ 60 – 70%, lá mùa xuân thường dài và hẹp, còn lá mùa hè, thu
ngắn và rộng. Tuổi thọ, kích thước của lá tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, chế
độ chăm sóc và khả năng dinh dưỡng của cây. Tuổi thọ của lá cam quýt từ 2 –
3 năm tuỳ theo vùng sinh thái, vị trí lá và tình trạng sinh trưởng của cây và
cành mang lá, vị trí của cấp cành (Davies, 1994)[52], Hoàng Ngọc Thuận,
2002 [35]. Hình thái, độ dày mỏng, kích thước, hình dạng, màu sắc, eo lá…

Số hóa bởi trung tâm học liệu

9

Số hóa bởi trung tâm học liệu

10
cùng các điều kiện sinh thái. Thịt quả: Do nội bì phát triển thành, gồm các
múi, giữa các múi có vách ngăn, nhờ có vách ngăn ta phân biệt được trung
quả bì và nội quả bì. Phần chủ yếu của thịt quả là tép quả (tép quả được bao
bọc bởi múi quả) màu sắc tép quả phụ thuộc giống. Hạt: Kích thước, dạng hạt
và số lượng hạt trên quả thay đổi tuỳ theo giống. Trong chi Citrus hạt quất có
kích thước nhỏ nhất, sau đó đến hạt quýt, cam, chanh và to nhất là hạt bưởi.
Nhìn chung, hạt cam, quýt là hạt đa phôi, còn hạt bưởi đơn phôi; nhũ phôi hạt
cam quýt thường màu xanh nhạt, còn nhũ phôi hạt bưởi màu trắng lục. Trong
hạt cam quýt có 1 phôi hữu tính do thụ tinh và phôi vô tính được hình thành
do sự phân ly tế bào ở tâm không qua thụ tinh. Cây con mọc từ phôi hữu tính
thường nhỏ, yếu còn cây con mọc từ phôi vô tính thường khoẻ và giữ được
đặc tính tốt của cây mẹ. Khi gieo hạt, cây con mọc từ phôi vô tính thường
mọc trước, sinh trưởng mạnh. Dựa vào đặc tính ưu việt này của phôi vô tính,
người ta ứng dụng nó vào công tác phục tráng giống nguyên sản.
1.1.4.2. Đặc điểm thực vật cơ bản của cây cam Sành
Ngoài những đặc điểm thực vật chung của họ cam quýt, cây cam Sành
có đặc điểm thực vật mang đặc tính của giống. Theo Đỗ Đình Ca, 1994, [1]
đặc điểm thực vật của cam Sành cơ bản như sau:
- Thân cây: Thân gỗ, dạng thưa, mọc thẳng, tán cây hình chổi xể, thưa,
màu xanh đậm. Thân tròn, nhẵn không có gai, vỏ thân màu nâu mốc, phân
cành nhiều, góc độ phân cành hẹp từ 25 – 30
0
, cành sinh trưởng có gai nhỏ,
cành quả không có gai.
- Lá cam Sành: Lá cam Sành có hình dạng ô van, màu xanh đậm, nút lá
hơi nhọn, mép lá gợn sóng, cành lá nhỏ.
- Hoa cam Sành: Nụ hoa tròn hơi bầu dục, màu trắng, đường kính

độ thích hợp nhất từ 23-27
o
C. Tại nhiệt độ thấp -5
o
C có một số giống có thể
chịu được trong thời gian rất ngắn. Khi nhiệt độ cao 40
0
C kéo dài trong thời
gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài
là lá rụng, cành khô héo. Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ
không khí lên đến 50 - 57
0
C [6], [11].
Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ
hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động
của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công
Hậu (1960) cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 -

Số hóa bởi trung tâm học liệu

12
23
o
C. Khi nhiệt độ tới 26
o
C cây hút đạm mạnh. Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng
đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả. Tuy
nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi [11].
Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị

quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho

Số hóa bởi trung tâm học liệu

13
cây rụng lá, hoa, quả [35], [15],[70].
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này
không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng
suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng. Nếu độ ẩm
không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí
quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện
tượng rám nắng và nứt quả [38], [27].
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002), lượng mưa thích hợp cho các vùng
trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500mm, quýt cần
nhiều hơn từ 1.500 - 2.000mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong
đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi
nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng [28].
Sự thiếu nước có liên quan đến sinh trưởng và độ héo của lá, có thể gây
rụng lá. Khi ẩm độ đất thiếu, sinh trưởng chồi chậm, lá cũng nhỏ đi. Hạn hán
kéo dài có thể làm cành khô, nhánh nhỏ bị khô và chết. Các nghiên cứu cũng
cho thấy rằng cây ăn quả có múi rất mẫn cảm với sự thiếu nước lúc nở hoa,
trong giai đoạn rụng quả và tăng kích thước quả.
Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp Việt Nam đủ thoả
mãn cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt (1.400 mm – 2.500
mm), nhưng lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, do đó ảnh
hưởng không tốt đến năng suất, phẩm chất quả. Ví dụ ở huyện Bắc Quang có
tổng lượng mưa 3.000 mm – 3.500 mm/năm, cá biệt có năm lên đến 5.000
mm/năm và tập trung nhiều vào các tháng mùa hè. Trong khi ở Nghệ Tĩnh thời
kỳ quả chín là thời kỳ mưa bão, lũ lụt, thời kỳ quả đang phát triển mạnh thường
có gió tây nóng hoạt động, nên vừa hạn đất vừa hạn không khí. Do đó việc đáp

miền Đông Nam Bộ đều thoả mãn các yêu cầu của cây cam quýt [28].
Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích
hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử E
h
> 300mV. Ở độ pH này các
nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là
đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất. Đất trồng cam quýt
cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và
phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh
trưởng. Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì
đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan,

Trích đoạn Ảnh hưởng của thời điểm cắt tỉa cành đến sinh trưởng, phát triển, năng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status