ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯU THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LẠC L14
TẠI HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn Khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Hưng
Yên cùng bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm giúp đỡ và động viên
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Do còn hạn chế về trình độ, năng lực, kinh nghiệm thực tế và thời gian
có hạn, nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự giúp đỡ,
góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn của
tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Tác giả Lưu Thị Hiền
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1.Mục đích 3
2.2. Yêu cầu 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1. Ý nghĩa khoa học: 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn: 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc 4
1.1.1. Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc đối với chăn nuôi 4
1.1.2. Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt 5
1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 6
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới. 6
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 8
phát triển của giống lạc L14 39
3.2.2. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến khả năng phân cành
của giống lạc L14 40
3.2.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm một số
bệnh của giống lạc L14 41
3.2.4. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống lạc L14 42
3.2.5. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu quả
kinh tế giống lạc L14 46
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
4.1. Kết luận 48
4.2. Đề nghị 48
v
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT Đ/c : Đối chứng
BVTV : Bảo vệ thực vật
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới
ICRISAT : Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á Nhiệt đới
UBND : Ủy Ban nhân dân
KHCN : Khoa học công nghệ
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
KHKTNNVN : Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
VAAS : Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
VK: : Vi khuẩn
CTTN : Công thức thí nghiệm
TGST : Thời gian sinh trưởng
P100 : Khối lượng 100 hạt
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm
một số bệnh ở giống lạc thí nghiệm L14 41
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất của giống lạc L14 43
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến
hiệu quả kinh tế giống lạc L14 46
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất lý thuyết và
năng suất thực thu của giống lạc L14. 37
Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của
giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2014 38
Biểu đồ 3.3. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến năng
suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống lạc L14 45
Biểu đồ 3.4. Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu
quả kinh tế của giống lạc L14 47
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lạc (Arachis hypogaea line) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực
phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo đất tốt. Cây lạc
chiếm vị trí hàng đầu trong các cây có hạt lấy dầu và chiếm một vị trí quan
phần cải tạo đất, nâng cao năng suất lúa.
Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện là 12946,24 ha thì diện tích
trồng lúa là 6007,84 ha, trong đó diện tích đất một vụ lúa là 2205,1 ha, có
thành phần cơ giới nhẹ (nguồn tin từ phòng Nông nghiệp huyện Tân Yên).
Người dân ở đây sau khi thu hoạch xong vụ lúa trồng thêm một vụ các cây
trồng khác như: lạc, ngô hoặc khoai lang… Trong các cây màu thì cây lạc vẫn
được người dân sử dụng nhiều nhất do đặc tính phù hợp với chất đất, mức đầu
tư thấp, nhưng cho thu nhập cao hơn các cây trồng khác. Tuy nhiên, người
dân của huyện vẫn sử dụng các giống cũ sản xuất manh mún và canh tác theo
phương thức truyền thống dẫn đến năng suất cây lạc rất thấp, chủ yếu để phục
vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình, có dư thừa mới bán nên hiệu quả kinh tế thấp.
UBND huyện Tân Yên đã có những chủ trương để phát triển nông nghiệp
một cách bền vững, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nhân dân
trên một đơn vị diện tích, thực hiện thành công chuyển dịch cơ cấu cây trồng
trong đó có kế hoạch xây dựng vùng lạc hàng hóa trên địa bàn huyện. Kế hoạch
của huyện trong những năm tới sẽ triển khai đưa các giống lạc mới vào sản xuất,
khuyến cáo nông dân đưa cây lạc vào công thức luân canh với lúa, đồng thời
chuyển một số diện sản xuất lúa năng suất thấp, không chủ động nước tưới sang
trồng lạc.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lạc L14 tại
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”.
3
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1.Mục đích
Xác định mật độ trồng và liệu lượng phân bón hợp lý cho vụ lạc Xuân
năm 2014 tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang.
2.2. Yêu cầu
Tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ trồng, lượng phân bón đến sinh
189 và cá chép là 99.
Ngoài ra, khô dầu lạc, thân lá xanh còn là nguồn thức ăn giàu protein
được dùng làm thức ăn cho gia súc. Với giá trị chiếm tới 25 - 30% trong khẩu
phần thức ăn gia súc, khô dầu lạc đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của ngành chăn nuôi.
Thân lá xanh của lạc với năng suất 5 - 15 tấn/ha chất xanh (sau thu
hoạch quả) có thể dùng trong chăn nuôi đại gia súc.
Mặt khác, người ta có thể lấy vỏ quả lạc rồi đem nghiền thành cám đề
dùng cho chăn nuôi. Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương
cám gạo dùng để nuôi lợn, gà, vịt công nghiệp đều rất tốt.
Như vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả
cám vỏ quả lạc để làm thức ăn gia súc, góp phần quan trọng trong việc phát
triển chăn nuôi [2].
5
1.1.2. Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc không những cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, mà
nó còn có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh cố định đạm
và các bộ phận thân, lá, rễ của cây.
Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng đặc biệt là: cộng sinh với loài vi
khuẩn Rhizobium virgna có khả năng sử dụng nitơ phân tử ở khí trời. Nhờ
khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều đạm như các loại cây
trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn cung cấp trở lại cho
đất một lượng đạm đáng kể.
Lạc là đối tượng cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức
luân canh của hệ thống trồng trọt. Việc luân canh cây họ đậu với cây trồng
khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng đối với các loại cây
trồng này. Ngoài ra, lạc có bộ tán dày, có khả năng che phủ tốt, nên có khả
năng làm giảm mức độ xói mòn của đất, nâng cao độ phì đất, bảo vệ đất, đặc
biệt trong mùa mưa [13].
0
vĩ Bắc đến 40
0
vĩ
Nam. Hiện nay, cây lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2
sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới
Diện tích
(triệu/ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn) Tên nước
2009 2010 2011 2009 2010 2011 2009 2010 2011
Thế Giới 23,93
25,30
21,78
1,52 1,66 1,77 36,45
41,89
38,61
Ấn Độ 5,47 5,94 4,19 1.00 1,39 1,65 5,42 8,26 6,93
Giai đoạn từ 2009 - 2011, năng suất lạc thế giới hầu như không tăng,
chỉ dao động từ (1,52 tấn/ha đến 1,77 tấn/ha). Chứng tỏ trong giai đoạn gần
đây không có biến động nào lớn trong sản xuất làm thay đổi năng suất. Các
nước có năng suất lạc tăng đó là: Ấn Độ, Indonesia. Trong đó năng suất tăng
nhiều nhất là Ấn Độ năm 2011 tăng (0,65 tấn/ha) so với năm 2009. Các nước
có năng suất tăng, giảm không ổn định là: Nigeria, Senegal, Châu Mỹ. Trong
đó Nigeria năm 2011 giảm (0,1 tấn/ha) so với năm 2010. Về Senegal năm
2011 giảm (0,37 tấn/ha) so với năm 2009. Còn Châu Mỹ năng suất lạc năm
2011 cũng giảm (0,11 tấn/ha) so với năm 2009. Ở các nước này, sản xuất lạc
sớm được đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và sớm có những thành công vượt
trội. Tuy nhiên, giai đoạn này đang bị chững lại. Ở Việt Nam năng suất giai
đoạn này tăng giảm không đáng kể, năm 2011giảm (0,02 tấn/ha) so với 2010.
Sản lượng lạc thế giới năm 2011 giảm (3,28 triệu tấn) so với năm 2010
tăng (2,16 triệu tấn) so với năm 2009. Sản lượng giảm không phải do năng
suất lạc giảm mà chủ yếu do diện tích trồng lạc giảm. Trung Quốc là nước có
sản lượng lạc lớn. Tuy những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫn luôn
chiếm vị trí đứng đầu thế giới đạt (16,11 triệu tấn) trong năm 2011, trong khi
sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt (0,46 triệu tấn).
8
Tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả
kinh tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng
các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Rõ ràng rằng, tiềm năng to
lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể được khơi dậy thông qua việc áp
dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát
triển ngày càng tăng. Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều
nên năng suất còn thấp. Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích
lạc tăng bình quân (7%/năm), sản lượng tăng (9%/năm). Từ năm 1990 - 1995,
2001 - 2011
Năm
Diện tích
(1.000ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1.000tấn)
2001 244,6 14,8 363,1
2002 246,7 16,2 400,4
2003 243,8 16,7 406,2
2004 263,7 17,8 469,0
2005 269,6 18,1 489,3
2006 246,7 18,7 462,5
2007 254,5 20,0 510,0
2008 255,3 20,8 530,2
2009 245,0 20,9 510,9
2010 231,4 21,1 487,2
2011 223,7 20,8 465,9
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 2013 [25]
Qua số liệu bảng 1.2: Trong giai đoạn từ 2001 - 2011, sản xuất lạc ở
Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, năng suất và sản lượng có chiều
hướng tăng. Trong năm 2011 diện tích (223,7 nghìn ha) có chiều hướng giảm
(20,9 nghìn ha) so với năm 2001. Vế năng suất tăng (4,9 tạ/ha) so với 2001,
sản lượng (465,9 nghìn tấn), tăng (102,8 nghìn tấn) so với 2001. Năm 2011 so
với 2010 thì diện tích giảm (7,7 nghìn ha) và năng suất giảm (1,4 tạ/ha), sản
lượng giảm (21,3 nghìn tấn).
Sản suất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp
Việt Nam ở nước ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc chính như sau:
Vùng 1: Đồng bằng sông Hồng
108,9 103,1
99,3
4
23,0 25,4 24,3 25,3 24,5 23,1 21,0 19,5 17,5 17,4 16,9
5
34,0 35,9 33,8 38,4 34,8 29,9 29,8 29,6 24,9 20,1 15,4
6
8,1 10,2 10,2 12,9 13,8 12,1 13,4 13,7 12,6 11,1 12,6
Vùn
g
Năng suất Đơn vị:Tạ/ha
1
17,6 17,9 19,9 21,9 21,2 22,3 22,5 23,9 23,2 24,2 25,5
2
12,2 12,2 12,8 15,9 15,0 14,4 15,9 16,9 17,7 17,2 25,0
3
13,4 15,3 15,4 16,5 16,0 17,3 18,3 19,0 19,3 19,7 19,2
4
12,5 10,9 13,9 6,8 13,8 14,3 15,7 15,8 17,3 17,5 17,7
5
19,9 22,7 21,3 23,8 24,5 25,1 27,5 28,4 27,6 25,6 25,2
6
20,5 23,2 23,3 26,5 29,2 29,6 32,0 31,7 33,1 36,4 32,1
Vùn
g
Sản lượng Đơn vị: Nghìn tấn
1
59,0 61,0 67,9 79,9 79,7 73,7 78,0 82,4 72,8 73,0 74,9
2
Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng có diện tích
(993000 ha) cũng là vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất chiếm (44,4%) so với
cả nước, diện tích cũng giảm (9,8 ha) so với năm 2001. Lạc được trồng tập
trung chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Vùng 4: Tây Nguyên là vùng cây lạc ít được chú trọng đầu tư phát triển, với
diện tích (16900 ha) và chiếm (7,5%) cả nước. Lạc được trồng tập trung chủ
yếu ở tỉnh Đắc Lắc.
Vùng 5: Có diện tích (15400 ha), chiếm (6,9%) cả nước, năm 2011 diện
tích giảm (18,6 ha) so với 2001. Lạc được trồng tập trung ở 2 tỉnh: Tây Ninh,
Bình Dương.
- Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long (12600 ha) chiếm (5,6%) cả
nước. Có diện tích trồng lạc nhỏ nhất so với cả nước trong năm 2011, lạc
được trồng tập trung ở các tỉnh như Long An, Trà Vinh.
-Về năng suất qua bảng số liệu 1.3 ta thấy:
Vùng 1 : Đồng bằng sông Hồng, có năng suất (25,5 tạ/ha) có tăng (7,9
tạ/ha) so với năm 2001. Như vậy cây lạc từ năm 2004 đến 2011 có biến động
về năng suất không ngừng tăng, điều đó cho thấy cây lạc được chú trọng và
đầu tư.
Vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc, năng suất (25,0 tạ/ha) tăng hơn so
với năm 2001 (12,8 tạ/ha). Năm 2011 chỉ thấp hơn vùng 1 là (0,5tạ/ha).
Vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, năng suất (19,2
tạ/ha), tăng (5,8 tạ/ha) so với năm 2001, năng suất đứng thứ 5 trong cả nước.
Vùng 4: Tây Nguyên, là vùng có năng suất thấp nhất trong cả nước
(17,7 tạ/ha) nhưng cũng đã tăng (5,2 tạ/ha) so với năm 2011, chính tỏ vùng
này cây lạc chưa được quan tâm chăm sóc đúng kỹ thuật.
Vùng 5: Đông Nam Bộ, có năng suất (25,2 tạ/ha) gần tương đương với
năng suất vùng 1, trong năm 2011cũng tăng (6,1 tạ/ha) so với năm 2001,
12
Vùng 6: Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất cao nhất cả nước (32,1
2010 11.525 22,1 25.499
2011 11.648 22,8 26.543
2012 11.773 24,06 28.320
2013 11.662 24,7 28.779
Nguồn: Niêm giám Thống kê tỉnh Bắc Giang 2013 [21]
13
Lạc được trồng chủ yếu trong vụ xuân, trên hầu hết các loại đất khác
nhau, như đất cao, đất 3 vụ/năm, đất vàn, đất đồi bãi nương rẫy. Tuy nhiên,
diện tích lạc thâm canh chủ yếu được trồng trên đất chuyên màu và đất 3
vụ/năm, tập trung ở các huyện Tân Yên, Hiệp Hòa, Lạng Giang
Dựa vào đặc điểm sinh học của cây lạc, điều kiện thời tiết, đất đai của
địa phương thì thấy thích hợp cho cây lạc phát triển. Tại Bắc Giang, việc sản
xuất lạc vụ thu- đông bắt đầu từ gần 20 năm nay nhằm đáp ứng nhu cầu về
giống cho vụ xuân năm sau, nếu dư thừa đem bán lại được giá nên mang lại
hiệu quả kinh tế cao. Nhờ mở rộng diện tích trồng lạc vụ thu-đông, làm cho
diện tích lạc của Bắc Giang tăng nhanh trong những năm qua, từ 7.270 ha (năm
2000) lên 11.662ha (năm 2013).
1.2.4. Tình hình sản xuất lạc ở huyện Tân Yên,tỉnh Bắc Giang
Tình hình sản xuất lạc của huyện trong một số năm gần đây được thể
hiện ở bảng 1.5.
Bảng 1.5. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang từ năm 2010 - 2013
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
ở Tân Yên là:
- Lượng phân hữu cơ, phân khoáng (đặc biệt là hàm lượng K
2
O) và vôi
bón bổ sung cho lạc còn thấp so với tiêu chuẩn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn khuyến cáo (Bón 5000 kg phân chuồng + 30 kg N + 90 kg P
2
O
5
+ 60
kg K
2
O + 500 kg vôi bột cho 1 ha). Hầu hết các hộ nông dân không quen bón
vôi cho lạc, bón phân theo cảm tính chứ không bón theo nhu cầu dinh dưỡng của
cây lạc. Do vậy, không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cung cấp cho quá trình
sinh trưởng phát triển của cây lạc dẫn đến năng suất thấp và nhiều sâu bệnh.
- Người dân thường có thói quen gieo trồng không đúng khoảng cách,
mật độ. Phần đa trồng thưa hơn so với quy trình gây lãng phí đất, giảm năng
suất trên đơn vị diện tích.
15
Tân Yên có tổng diện tích đất trồng lúa là 6007,84 ha. Trong đó diện
tích đất một vụ là 2205,1 ha, có thành phần cơ giới nhẹ. Đây là điều kiện rất
thuận lợi để mở rộng diện tích lạc trên đất một vụ lúa của huyện. Huyện đã có
định hướng trong những năm tới khuyến cáo nông dân đưa cây lạc vào công
thức luân canh với lúa, đồng thời chuyển một số diện sản xuất lúa năng suất
thấp, không chủ động nước tưới sang trồng lạc.
Điều kiện thời tiết khí hậu theo số số liệu bảng 2.2 thì ở Tân Yên thuận
lợi cho phát triển cây lạc và thu nhập từ cây lạc cao hơn so với trồng lúa, ngô,
khoai lang. Do vậy được người dân nhiệt tình hưởng ứng.
Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên
đất đồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là 270.000 -
300.000 cây/ha [27].
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho lạc trên thế giới
a, Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cây lạc
Hầu hết đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nên nghèo dinh dưỡng,
vì vậy sự sinh trưởng của cây lạc phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng mà
cây được cung cấp trong một vụ canh tác. Cũng như các loại cây trồng khác,
cây lạc cần dưỡng chất khoáng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt là P, Ca, Mo.
Vì thế trong dân gian có câu "không lân không vôi thì thôi trồng lạc".
+ Đạm (N):
Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả và hạt, thời
kỳ này chỉ chiếm 25% tổng TGST của cây lạc, nhưng hấp thụ từ 40 - 45% nhu
cầu đạm của cả chu kì sinh trưởng [11]. Nguồn đạm do vi khuẩn cộng sinh cố
định đạm cung cấp có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây và sau
khi thu hoạch nó để lại trong đất một lượng đạm đáng kể [1].
Tuy nhiên các nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành nhánh và phát triển
nhiều khi lạc bắt đầu ra hoa. Do vậy, ở giai đoạn đầu sinh trưởng của cây còn
nhỏ (3 - 5 lá) cần được bổ sung một lượng đạm hoặc bón một lượng đạm kết
17
hợp với phân chuồng, nhằm tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển
mạnh, thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau [4]. Mặc
dù yêu cầu về N của cây lạc là rất lớn, song cũng chỉ cần bón một lượng nhỏ
(25 - 30 kg N/ha) tuỳ từng giống hay từng loại đất là đủ. Nhiều nhà nghiên
cứu đã cho thấy năng suất quả lạc chỉ tăng khi có một tỉ lệ thích hợp giữa N và P,
không nên chỉ bón đơn lẻ một loại yếu tố đó. Bón N có thể bón vào đất và bón
qua lá. Hiệu lực 1 kg đạm nguyên chất tăng từ 5 đến 8,6 kg lạc vỏ [2].
+ Lân (P
2