nhận xét hiệu quả của mó chữ t và móc nally martinet trong phục hình hàm khung điều trị mất răng loại kennedy i ii - Pdf 24

đặt vấn đề

Bệnh răng miệng là loại bệnh rất phổ biến ở nước ta còng nh trên thế giới,
tuy không đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người bệnh nhưng thường để lại hậu quả
xấu về chức năng ăn nhai, phát âm và thẩm mỹ. Mất răng sớm và trầm trọng còn
có thể gây tâm lý hoang mang, lo lắng, làm cho người bệnh mất tự tin, ảnh hưởng
tới chất lượng cuộc sống.
Theo điều tra 900 người đại diện cho các vùng miền Việt Nam của Võ Thế
Quang và cộng sự năm 1990: Lứa tuổi 12 có 1, 33 % số người mất răng, lứa tuổi
15 có 7 % số người mất răng và lứa tuổi 35 - 44 có 47, 33 % số người mất răng.
Theo điều tra năm 1999 của Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia, tỷ lệ mất răng ở đối
tượng người lớn là trên 10%[13].Vì tỷ lệ mất răng cao nên nhu cầu điều trị phục
hình rất lớn.
Việc điều trị phục hình cho bệnh nhân mất răng có vai trò rất quan trọng
nhằm phục hồi chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm và phòng bệnh.
Điều trị phục hình cho bệnh nhân mất răng từng phần có nhiều phương pháp
nhưng ở những bệnh nhân mất răng loại I và II Kennedy, hàm giả tháo lắp từng phần
thường được áp dụng do tính chất khoảng mất răng; Mặt khác đây là cách điều trị hợp
lý, đơn giản, kinh tế và an toàn. Trong các loại hàm giả từng phần tháo lắp, hàm khung
luôn được các bác sĩ ưu tiên lựa chọn.
Phục hình bằng hàm khung là một phương pháp được áp dụng khá phổ biến vì
nhiều ưu điểm như: tiết kiệm mô rănghơn phục hình cố định, lực nhai khỏe hơn
hàm giả tháo lắp nền nhựa, truyền lực nhai sinh lý lên hệ thống răng – vùng quanh
răng – xương, phù hợp với nhómbệnh nhân có tình trạng sức khỏe toàn thân không
đủ điều kiện can thiệp phẫu thuật. Ở nước ta, hàm khung ngày càng được sử dụng
rộng rãi và dần dầnthay thế hàm nhựa.
Hàm khung là loại phục hình có thành phần chính là mét khung sườn bằng
kim loại, các móc được đúc liền với khung sườn này. Vị trí và thiết kế

của móc phụ thuộc vào vị trí, hình dạng, độ nghiêng của răng mang móc, đặc biệt
là đường vòng lớn nhất lâm sàng và độ lẹm của nã.

* Toàn thân
- Có thể gây rối loạn hoạt động của khớp thái dương hàm.
- Chức năng ăn nhai giảm, ảnh hưởng đến tiêu hóa.
- Có thể ảnh hưởng đến phát âm, hô hấp.
- Ảnh hưởng tới thẩm mỹ và giao tiếp của bệnh nhân nếu mất các răng phía
trước.

1.1.2. Tình hình mất răng ở Việt Nam và trên thế giới.
Vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng ở Việt Nam đang ngày càng được
quan tâm. Tuy vậy, tỷ lệ mất răng còn cao. Theo điều tra cơ bản tình trạng sức khỏe
răng miệng ở miền nam Việt Nam năm 1991 của Vũ Thị Kiều Diễm và cộng sự, tỷ
lệ mất răng ở lứa tuổi 35 - 44 là 68,66% và trung bình số răng mất của một người
là 3,49. Tại các tỉnh phía Bắc, theo điều tra của Nguyễn Đức Thắng, tỷ lệ mất răng
ở lứa tuổi 35 - 44 chỉ là 36,67%, trong đó có 63,33% có nhu cầu làm răng giả và
chỉ có 2% được làm răng giả. Điều đó chứng tỏ chúng ta mới đáp ứng được một
phần rất nhỏ nhu cầu phục hình

răng cho nhân dân. Gần đây, theo điều tra năm 1999 của Viện Răng Hàm Mặt
Quốc Gia thì tỷ lệ mất răng ở đối tượng người lớn là trên 10%.
Trên thế giới, tỷ lệ mất răng ở người trưởng thành và người già vẫn còn
khá cao ở một số nước. Theo kết quả điều tra của WHO được tiến hành ở 48% các
nước châu Âu năm 1998, tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 65 - 74 dao động từ 12,8%-
69,6%, số răng mất trung bình từ 3, 8-15, 1 răng. Trong một nghiên cứu sức khỏe
răng miệng của người già 70 tuổi ở Thụy Điển của Osterberg T, tỷ lệ mất răng là
70% [13].

1. 1. 3. Phân loại mất răng
* Phân loại mất răng theo Kennedy
- Loại I: mất răng sau hai bên không còn răng giới hạn xa.
- Loại II: mất răng sau mét bên không còn răng giới hạn xa.

Tuy nhiên, do chỉ có răng trụ ở một đầu nên loại cầu này dễ làm tổn thương răng
trụ bởi lực đòn bẩy. Vì vậy, cầu với không được sử dụng cho mất răng loại Kenndy
I và II.[12]
1.2.2. Hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa
Trước đây, loại phục hình này được chỉ định rộng rãi cho cả mất răng loại
Kennedy I và II vì nhiều ưu điểm so với phục hình cố địnhnhư: tiết kiệm

mô răng thật, dễ vệ sinh, dễ chế tạo và sửa chữa, kinh phí thấp. Nhưng nã còng có
nhiều nhược điểm như: hàm giả có tính xê dịch tạo cảm giác bất ổn, phần lớn hàm
giả tựa lên mô xương - niêm mạc nên không tạo được sự truyền lực sinh lý, hiệu
quả ăn nhai kém và dễ gây tiêu xương…Hiện nay, hàm khung đang dần thay thế
hàm tháo lắp từng phần nền nhựa.
1.2.3. Cấy ghép răng
Phương pháp này có thể thay thế một hoặc nhiều răng mất, gần như không
phụ thuộc và không ảnh hưởng tới các răng thật còn lại trên cung hàm. Tuy nhiên,
phương pháp này lại đòi hỏi cao về kỹ thuật, kinh phí và chỉ định hạn hẹp nên
không phải trường hợp nào cũng có thể làm được.
1.2.4. Hàm khung
So với hàm tháo lắp nền nhựa, hàm khung có thể truyền lực nhai một cách
sinh lý hơn, hạn chế tiêu xương sống hàm vùng mất răng, tăng cường chức năng ăn
nhai. Mặt khác, hàm khung còng có chỉ định rộng rãi hơn cấy ghép răng và cầu
răng, phục hồi được răng mất cho nhiều trường hợp mà cấy ghép răng vàcầu
răng không thể làm được.

1.3. Phục hình hàm khung
1.3.1. Lịch sử phát triển hàm khung
Đầu thế kỷ XX, người ta mới tìm cách đúc liền một khối bộ phận mang
răng giả, móc và cầu nối. Akers (1918) được coi là người đầu tiên đề ra phương
pháp đúc cả khối như vậy. Cùng với những tiến bộ trong kỹ thuật đúc, người ta đã
tìm được những hợp kim đáp ứng được yêu cầu của ngành điều trị răng miệng.

có thể lắng đọng ở nền kim loại, những chất lắng đọng khác không tích tụ như đối
với nền nhựa. Vì lý do này, nền kim loại có khả năng vệ sinh tự nhiên tốt hơn nền
nhựa.
- Tính dẫn nhiệt:
Sự thay đổi nhiệt độ được truyền qua nền kim loại xuống mô bên dưới, nhờ vậy
giúp mô khỏe mạnh. Sự trao đổi nhiệt giữa phần niêm mạc bị che phủ và môi
trường xung quanh giúp bệnh nhân có cảm giác thật hơn. Ngược lại, hàm nhựa
ngăn cản sự truyền nhiệt giữa phía trong và ngoài nền hàm.
- Trọng lượng và kích thước:
Nền kim loại mỏng hơn nền nhựa nhưng vẫn đáp ứng được độ cứng chắc
cần thiết.
Các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu để tìm ra nhiều kiểu hàm tháo
lắp với các ưu điểm vượt trội về thẩm mỹ, độ vững ổn, tính nâng đỡ và tạo cảm
giác thoải mái cho bệnh nhân như hàm với hệ thống mắc cài chính xác, hàm tháo
lắp kết hợp với implant. Ngoài ra, vật liệu làm hàm khung mới như hợp kim vàng,
hợp kim titan ra đời cũng cải thiện độ tương thích với mô và tăng độ đàn hồi của
tay móc.
So với phục hình bằng cầu răng, hàm khung tiết kiệm mô răng hơn cho
bệnh nhân. Hơn nữa, với trường hợp mất răng loại Kennedy I, II, không thể dùng
cầu răng để phục hồi răng mất vì cầu với sẽ gây hại cho răng trụ.
So với phương pháp sử dụng implant để phục hình, hàm khung cũng có
những ưu điểm nhất định như ưu thế về tính kinh tế, có thể làm được trong

trường hợp bệnh nhân quá nhát, sợ phẫu thuật. Một số trường hợp bệnh nhân có
bệnh về máu, tim mạch, tiểu đường…khụng thể chỉ định làm implant, lúc này chỉ
định phục hình bằng hàm khung sẽ có lợi cho bệnh nhân.

1. 3. 3. Cấu tạo hàm khung
Hàm khung là loại hàm giả tháo lắp từng phần có phần chính là mét khung
sườn. Toàn bộ cấu trúc bằng hợp kim của khung ( thanh nối, móc, yên) được đúc

- Có bốn dạng chính: Tựa mặt nhai ở các răng hàm, tựa gót răng, tựa rìa cắn
và tựa onlay.
- Tác dụng của tựa:
+ Làm ổn định vị trí phần lưu giữ của móc.
+ Truyền lực từ hàm khung theo trục của răng xuống mô quanh răng.

+ Dùng làm vật giữ gián tiếp cho hàm khung ở bệnh nhân mất răng phía
sau không còn răng giới hạn xa.
1. 3. 3.5. Móc răng
Móc là thành phần giữ dính có nhiều hình dạng khác nhau ôm vòng quanh
răng trụ hơn 180 độ. Móc dùng những vùng lẹm của răng để đảm bảo sự giữ dính
cho phục hình.
Thành phầncủa móc:
* Phần nâng đỡ (support):
Gồm thân móc và tựa, đây là phần dầy nhất.
* Phần ôm (bracing):
Nhá và mảnh hơn, nhất là khi tới gần phần tận cùng.
Nằm trên đường vòng lớn nhất.
* Phần giữ (retention):
Là phần tận cùng của móc có tác dụng giữ hàm giả không bị tuột ra
khái ổ đỡ, nằm dưới đường vòng lớn nhất.

Hình 2: Các thành phần của móc
1. Tựa
2. Tay đối kháng
3. Tay lưu giữ
1. 3. 4. Các loại móc thường dùng trong hàm khung

Hình 15: Vị trí tay đối kháng thích hợp sẽ loại trừ tác động ngang của tay lưu
giữ lên răng

- Cho hàm dưới: Bản lưỡi, thanh lưỡi kép, thanh lưỡi.
* Thiết kế móc phục hình.
- Móc chữ T:
Móc chữ T đặt trên răng có vùng lẹmlưu giữ ở gần khoảng mất răng. Móc
này bao gồm mét tay móc bắt nguồn từ yên, đi dọc theo nghỏch lợi và bắc cầu
ngang qua đường viền lợi. Phần đứng của chữ T tiếp xúc với mặt

Ở nhóm tuổi 35 - 60, hàm có số lượng răng mất từ 3 đến 4 răng chiếm tỷ lệ
cao nhất(47,4%).
Ở độ tuổi trên 60, tỷ lệ hàm mất từ 7 răng trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất
(41,2%). Trong khi ở độ tuổi 35 - 60, tỷ lệ hàm mất từ 3 - 4 răng chiếm tỷ lệ cao
nhất (47,4%). 3.1.4. Phân bố răng trô theotuổi,giới
Bảng 3.4. Phân bố răng trô theo tuổi, giới

Giới
Tuổi
Nam Nữ Tổng số
số lượng Tỷ lệ % số lượng Tỷ lệ % số lượng Tỷ lệ %
<60 16 66, 7 8 33, 3 24 48, 0
≥60 12 46, 2 14 53, 8 26 52, 0
Tổng sè 28 58, 1 22 41, 9 50 100

Nhận xét:
Ở độ tuổi từ 60 trở lên, số lượng răng trụ cạnh khoảng mất răng chính của

Hàm trên - n
-%
12
85, 7
2
14, 3
0
0, 0
Hàm dưới : - n
-%
22
100, 0
0
0, 0
0
0, 0
Sau lắp 6
tháng
Hàm trên - n
-%
10
71, 4
4
28, 6
0
0, 0
Hàm dưới : - n
-%
20
90, 9

Sau lắp 1
tháng
T: - n
-%
28
100, 0
0
0, 0
Nally-Martinet: - n
-%
20
100, 0
0
0, 0nằm gần phía trước hơn. Nhóm răng trụ là răng hàm lớn thứ nhất chiếm
22,0%. Khi đặt móc lên nhóm răng trụ này, thường đạt mức độ thẩm mỹ tốt do
nhóm răng này nằm ở phía sau, ít bị lộ móc khi bệnh nhân cười nói.

Theo bảng 3.7, các răng trụ có ĐVLN giải phẫu mặt xa nằm ở vị trí 1/ 3 phía
mặt nhai chiếm 18%. Đối với nhóm răng trụ này, khi tìm hướng tháo lắp trên song
song kế, cần hạ thấp ĐVLN phục hình để có thể thiết kế tay móc được thuận lợi và
không cản trở khớp cắn. Trong một số trường hợp, phải hạ thấp ĐVLN phục hình ở
phía xa bằng cách mài chỉnh răng trụ.

Theo bảng 3.8, số răng trụ cần mài chỉnh mặt trong chiếm 42,0%. Những
trường hợp cần mài chỉnh nhằm:
- Tạo mặt phẳng hướng dẫn thuận lợi, giúp thiết kế khung
sườn không quá cách xa sống hàm, tránh gây vướng cho

tốt chung là 92,86%.
Theo nghiên cứu của John Appl [17], tác giả chia làm bốn mức độ đánh giá
về thẩm mỹ: tuyệt vời (54%), tốt (24%), trung bình (18%), kém (4%).

* Khớp cắn
Hàm giả có khớp cắn tốt sẽ phân phối lực hài hũa lên cung răng,giúp bệnh
nhân ăn nhai tốt hơn và giảm ảnh hưởng xấu đến tổ chức răng miệng còn lại. Theo
kết quả ở bảng 3.15, tỷ lệ hàm khung đạt khớp cắn tốt chiếm 80, 6%, tỷ lệ khớp
cắn trung bình là 19, 4%, không có tình trạng khớp cắn kém. Trong nghiên cứu của
Tống Minh Sơn, tỷ lệ khớp cắn tốt là 89,3%, khớp cắn trung bình là 10,7%, không
có tình trạng khớp cắn kém. Tình trạng khớp cắn trung bình thường ở những
trường hợp mất răng lâu ngày không được điều trị phục hình gây ra hiện tượng
chồi răng thật đối diện khoảng mất răng. Đối với những trường hợp khoảng mất
răng quá dài, các răng giả thay thế răng mất được thu nhỏ mặt nhai để giảm lực nén
quá lớn lên sống hàm vùng mất răng.
* Ăn nhai
Theo bảng 3.17, khả năng ăn nhai tốt chiếm 88,9% sau khi bệnh nhân
mang hàm khung một tháng. Sau sáu tháng, tỷ lệ này giảm xuống còn 80,1%. Có
thể do khả năng lưu giữ của hàm khung giảm, kéo theo khả năng ăn nhai giảm do
bệnh nhân khó ăn được các thức ăn dính, là nguyên nhân chính gây

bật hàm khung. Ngoài ra, với hàm khung trên,đặc biệt là các trường hợp có khoảng
mất răng quá dài, tác dụng của trọng lực cũng dễ gây bật hàm khung, làm bệnh
nhân gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình ăn nhai.

Bảng so sánh kết quả chức năng ăn nhai với các tác giả khác:


Móc chữ T có đầu tay móc lưu giữ được đặt ở vùng lẹm phía gần so với
khoảng mất răng. Khi lực tác động nén lên phần răng giả ở đoạn mất răng chính,
phần đầu móc lưu giữ sẽ di chuyển xuống vùng lẹm lớn hơn phía cổ răng, do đó sẽ
giảm lực xoay lên răng trụ. Tuy nhiên, khi có lực làm bật hàm giả, phần đầu tay
móc lưu giữ sẽ tạo lực hướng về phía mặt nhai lên răng trụ. Ngược lại, đầu lưu giữ
của móc Nally - Martinet được đặt ở vùng lẹm phía xa khoảng mất răng, do đó sẽ
tạo lực lên răng trụ khi có lực nhai nén xuống khoảng mất răng chính. Vật giữ gián
tiếp được đặt để hạn chế những lực có hại này lên răng trụ. Tình trạng răng trụ
mang móc chữ T và Nally - Martinet không có sự thay đổi sau một tháng và sáu
tháng mang hàm khung. Có thể do thời gian theo dõi chưa lâu, khoảng mất răng
chính không quá dài.
Ngoài ra, hàm khung được thiết kế để hạn chế các lực tác dụng ngang lên
răng trụ: Cánh tay đối kháng chống lại lực đẩy ngang của tay lưu giữ, vật giữ gián
tiếp giúp hàm khung không bị xoay quanh trục nối các tựa, các thành phần khác
của móc cũng giúp hạn chế sự di chuyển ngang của hàm khung. Những lực tác
dụng theo chiều ngang là nguyên nhân chính gây nên sự tiêu xương ổ răng của
răng trụ. Các lực tác dụng theo chiều dọc sẽ được truyền xuống tổ chức nâng đỡ
răng một cách sinh lý và ít gây ảnh hưởng xấu lên răng trụ. Do đó, hàm khung
được thiết kế sao cho chỉ có tác dụng lực theo chiều dọc lên răng trụ và hạn chế tối
đa lực tác dụng ngang.

Trong nghiên cứu của C. Vanzevern và cộng sự [34],tác giả đánh giá tác
động của hàm khung nói chung lên răng trụ sau 6 đến 10 năm thấy tỷ lệ mất răng
trụ là 9,8%.
Phục hình nên được thiết kế để duy trì sự khỏe mạnh cho vùng quanh răng.
Những lực truyền qua răng trụ và ảnh hưởng của chúng phụ thuộc vào thiết kế của
hàm khung. Nghiên cứu củaJorge JH và cộng sự [26], theo dõi trong 6 tháng đánh
giá độ di chuyển của răng trụ và răng cạnh khoảng mất răng phía xa của hàm có
yên mở rộng phía sau. Hai loại móc được chọn để đánh giá. Trong trường hợp hàm
có yên mở rộng phía sau một hoặc hai bên, móc được sử dụng là móc T, tay móc

hàm khung có sử dụng móc T và Nally - Martinet và tình trạng các răng trụ
cạnh khoảng mất răng chính.
- Tuụi: Nếu chỉ lựa chọn bệnh nhân có tình trạng răng trụ khá tốt, lứa tuổi 35
- 64 chiếm tỷ lệ cao hơn lứa tuổi trên 64 và chiếm 52,8%.
- Phân loại mất răng: Tỷ lệ hàm mất răng loại Kennedy II là 61,1% và
nhiều hơn mất răng loại Kennedy I (38,9%).
- Số lượng răng mất trên một hàm: 61,1% trường hợp mất từ 3 đến 6 răng
trên một hàm.
- Tình trạng răng trụ cạnh khoảng mất răng chính:

+ Các răng trụ có tình trạng tổ chức cứng tốt chiếm
đa số (86,0%).
+ Lợi vùng răng trụ có GI = 0 tập trung chủ yếu ở
lứa tuổi 35 - 64 (chiếm 70,8%).
+ Tỷ lệ thân - chân răng từ trên 1/ 2 -2/ 3 tập trung
chủ yếu ở lứa tuổi 35 - 64 (chiếm 95,7%)
2. Hiệu quả của móc T và móc Nally- Martinet trong phục hình hàm khung
điều trị mất răng loại Kennedy I, II.
* Hiệu quả chung của hàm khung có sử dụng móc T và Nally - Martinet
- Khớp cắn: Tình trạng khớp cắn tốt chiếm đa số (80,6%).
- Lưu giữ: Tình trạng lưu giữ tốt của nhóm hàm khung có sử dụng móc T sau
một tháng và sáu tháng là 100% và 89,5%, cao hơn so với nhóm có dùng móc
Nally - Martinet (89,2% và 76,5%).
- Thẩm mỹ: Tình trạng thẩm mỹ tốt của nhóm móc T chiếm 96,4%, trong khi
nhóm dùng móc Nally- Martinet chỉ đạt 63,6% thẩm mỹ tốt.
* Sự ảnh hưởng lên các răng trụ mang móc T và Nally - Martinet
- Sau sáu tháng mang hàm khung, các răng trụ mang móc không có thay
đổi đáng kể. về tổ chức cứng, độ lung lay và tỷ lệ thân - chân răng.
- GI của vùng lợi xung quanh. răng trụ mang móc T xuỏt hiện thêm 7,1%
trường hợp GI =1, trong khi nhóm răng tru mang móc Nally - Martinet không xuất

đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 21
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 22
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu: mô tả có can thiệp. 22
2.2.2. Cỡ mẫu: 22
Được tính theo công thức: 22
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin 23
Tổ chức cứng 25
2.2.4. Các giai đoạn thực hiện hàm khung 26
2.2.5. Kĩ thuật sử dụng song song kế 27
2.2.6. Chuẩn bị trên miệng bệnh nhân 29
* Mài chỉnh khớp cắn trong trường hợp các răng đối diện khoảng mất
răng trồi,gây trở ngại cho phục hình. 29
* Mài chỉnh ĐVLN trong trường hợp ĐVLN cao, cần hạ thấp để đặt
tay móc đối kháng, hoặc trường hợp cần thay đổi vùng lẹm
của răng trụ. 29
* Mài các điểm vướng. 29
2.2.7. Thiết kế hàm khung 30
2.2.7. Đánh giá kết quả 32
2. 2. 8. Xử lý số liệu 35
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1. Đánh giá đặc điểm mẫu nghiên cứu trước điều trị phục hình 36
3.1.1. Phân bố hàm mất răng theo tuổi, giới 36
3.1.2. Phân bố hàm mất răng củabệnh nhân theo loại mất
răng 36
3. 1. 3. Phân bè số lượng răng mất trên một hàm 37


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status